TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
BÀI TIỂU LUẬN
CỤC DỰ TRỮ LIÊN
BANG MỸ VÀ CÁC
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
CỦA NÓ
Sinh
viên thực
hiện:
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 5
I. TỔNG QUAN VỀ CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ (FED) 5
1) Hoàn cảnh ra đời 5
2) Cơ cấu của FED 5
3) Nhiệm vụ của FED 10
4) Tính độc lập của FED 11
II. CÁC CHÍNH SÁCH FED SỬ DỤNG ĐỂ TÁC ĐỘNG VÀO NỀN
KINH TẾ MỸ ĐẶC BIỆT LÀ TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG 2007
-2009 12
1. Chính sách tiền tệ của FED 12
2. Các chính sách FED sử dụng trong cuộc khủng hoảng 2007-2009 23
III. GIẢI PHÁP FED ĐƯA RA CHO NỀN KINH TẾ MỸ 29
1. ndsjhls 29
2.dfgdsgsdh 34
KẾT LUẬN 41
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
duy trì cho nước Mỹ một chính sách tiền tệ linh hoạt hơn, an toàn hơn, và ổn định
hơn.Trong quá trình tồn tại và phát triển cùng với lịch sử nước Mỹ, FED ngày càng
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
chứng mình được vai trò vô cùng quan trọng của nó trong hệ thống ngân hàng cũng như
trong nền kinh tế Mỹ, đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế của nhiều quốc gia.
Bài tiểu luận này sẽ trình bày rõ hơn và cụ thể hơn những vai trò, tầm ảnh hưởng
và các chính sách nổi bật của FED đối với nền kinh tế Mỹ nói riêng và toàn thế giới nói
chung qua các phần chính sau:
1) Tổng quan về Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED)
2) Các chính sách FED sử dụng để tác động vào nền kinh tế Mỹ đặc biệt là
trong cuộc khủng hoảng năm 2007-2009
3)
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
NỘI DUNG
I. TỔNG QUAN VỀ CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ (FED)
1. Hoàn cảnh ra đời
Năm 1791, Alexander Hamilton (Hamilton là người đại diện cho quyền lợi của
gia tộc Rothschild ) trình lên quốc hội phương án thành lập First Bank of the United
States để giải quyết tình trạng “ thiếu tiền ”. First Bank of the United States (BUS) được
vận hành theo đúng mô hình của Ngân hàng Bắc Mỹ. Thomas Willing, chủ tịch Ngân
hàng Bắc Mỹ được mời giữ chức chủ tịch ngân hàng mới. Đối với quyền sở hữu, chính
quyền liên bang nắm quyền sở hữu 1/5 ngân hàng trung ương này. 80% cổ phần còn lại,
lẽ dĩ nhiên, thuộc về các đại gia tộc ngân hàng. Ngân hàng mới sẽ có quyền phát hành
tiền và đầu tư vào các khoản nợ công và tài trợ tín dụng giá rẻ cho các nhà công nghiệp.
Chính quyền liên bang cũng trao cho ngân hàng quyền được lưu ký quĩ và tài sản của
chính phủ. Thời gian hoạt động được qui định là 20 năm.
Cho đến năm 1836, Second Bank of United States giải tán sau khi điều lệ của
ngân hàng không được gia hạn. Sau nhiều năm nội chiến của nước Mỹ, gia tộc
Rothschild đã quay trở lại và lần thứ ba xác lập mô hình ngân hàng trung ương ở nước
Mỹ - Hệ thống Dự trữ Liên bang, vào năm 1913.
Kế hoạch thành lập ngân hàng trung ương Hoa Kỳ lần thứ ba được một nhóm
các nhà ngân hàng bí mật bàn bạc và thông qua vào tháng 11 năm 1910 sau chín ngày
hội họp tại đảo Jekyll. Với những mục tiêu và kế hoạch bàn bạc đề ra. Cho tới ngày
23/12/1913, FED chính thức được quốc hội phê chuẩn thành lập và đi vào hoạt động
chính thức từ năm 1915.
2. Cơ cấu của FED
a) Cục dự trữ liên bang (Federal Reserve System – Fed) là ngân hàng trung ương
của Hoa Kỳ. Bắt đầu hoạt động năm 1915 theo "Đạo luật Dự trữ Liên bang" của Quốc
hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1913.
Cục dự trữ liên
bang bề ngoài là ngân
hàng của chính phủ
nhưng thực ra là sở hữu
tư nhân, bao gồm Hội
đồng thống đốc đóng tại
thủ đô Washington được
chỉ định bởi Tổng thống
Hoa Kỳ, Ủy ban thị
trường, 12 Ngân hàng dự
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
trữ liên bang khu vực và các ngân hàng thành viên có sở hữu một phần ở các ngân hàng
dự trữ liên bang khu vực.
Chủ tịch Hội đồng thống đốc của Fed hiện nay là Ben Bernanke.
FED bao gồm 12 ngân hàng và 25 chi nhánh ở khắp nước Mỹ nên nó là một hệ
trữ này.
Mỗi ngân hàng Fed khu vực được ký hiệu bằng chữ cái. Những chữ cái này in trên giấy
bạc mà chúng phát hành.
1. Boston A
2. New York B
3. Philadelphia C
4. Cleveland D
5. Richmond E
6. Atlanta F
7. Chicago G
8. St Louis H
9. Minneapolis I
10. Kansas City J
11. Dallas K
12. San Francisco L
b) Các ngân hàng thành viên
Tất cả các ngân hàng đều là thành viên của FED, phải tuân thủ một mức dự trữ bắt
buộc nhất định, được vay tiền từ FED, được thanh toán bù trừ tại FED, chịu sự giám sát
về các hoạt động bởi FED
c) Hội đồng thống đốc
Lãnh đạo FED là Hội đồng thống đốc, gồm có 7 thành viên do Tổng thống bổ
nhiệm và Thượng viện phê chuẩn. Bảy thành viên của ban Thống đốc đóng vai trò là cơ
quan quyết định các chính sách tiền tệ Mỹ. Nhiệm kì của mỗi thành viên Hội đống thống
đốc kéo dài 14 năm, các thành viên chỉ có thể đựoc tái bổ nhiệm nếu nhiệm kì trước của
thành viên đó không phải là một nhiệm kì trọn vẹn. Hội đồng ấn định mức dự trữ bắt buộc
và kiểm soát lãi suất tái chiết khấu.
d) Ủy ban thị trường tự do liên bang (FOMC)
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
- Charles L. Evan, Chicago
- Esther George, Kanas City
- Eric S. Rosengren, Boston
- Christine M. Cumming, First Vice president, New york
Thành viên Ủy ban thay đổi vào cuộc họp thường niên đầu tiên của năm nay.
2013 2014 2015
Thành viên New York
Chicago
New York
Cleveland
New York
Chicago
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
Boston
St. Louis
Kansas City
Philadelphia
Dallas
Minneapolis
Richmond
Atlanta
San fransisco
Thành viên thay thế New York
+
_
Cleveland
Philadelphia
Dallas
1. Thực thi những chính sách tiền tệ quốc gia để duy trì mức việc làm, giá cả ổn định và
lãi suất hợp lí.
Mua và bán trái phiếu chính phủ: Khi Cục dự trữ liên bang (FED) mua trái
phiếu chính phủ, tiền được đưa thêm vào lưu thông. Bởi có thêm tiền trong lưu thông, lãi
suất sẽ giảm xuống và chi tiêu, vay ngân hàng sẽ gia tăng. Khi FED bán ra trái phiếu
chính phủ, tác động sẽ diễn ra ngược lại, tiền rút bớt khỏi lưu thông, khan hiếm tiền sẽ
làm tăng lãi suất dẫn đến vay nợ từ ngân hàng khó khăn hơn.
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
Quy định lượng tiền mặt dự trữ: Ngân hàng thành viên cho vay phần lớn lượng
tiền mà nó quản lý. Nếu Fed yâu cầu các ngân hàng này phải dự trữ một phần lượng tiền
này, khi đó phần cho vay sẽ giảm đi, vay mượn khó hơn và lãi suất tăng lên.
Thay đổi lãi suất của khoản vay từ FED: Các ngân hàng thành viên của FED vay
tiền từ FED để trang trải các nhu cầu ngắn hạn. Lãi suất mà FED ấn định cho các khoản
vay này gọi là lãi suất chiết khấu. Hoạt động này có ảnh hưởng, tuy nhỏ hơn, đến số
lượng tiền các thành viên sẽ được vay.
2. Giám sát và quản lí các thể chế ngân hàng để đảm bảo đó là những nơi an toàn để gửi
tiền và bảo vệ quyền lợi tín dụng của người dân.
3. Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức tín dụng. chính phủ Mỹ và Ngân hàng
trung ương các nước khác như thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử, phát hành tiền,….
4. Tiến hành các nghiên cứu về nên kinh tế Mỹ cũng như kinh tế các bang, cung cấp
thông tin về nền kinh tế thông qua các ấn phẩm, hội thảo giáo dục qua website.
4. Tính độc lập của FED
Đến nay, trên thế giới đã biết đến 3 mô hình NHTW: (1) NHTW độc lập với chính
phủ; (2) NHTW là một cơ quan thuộc chính phủ; và (3) NHTW thuộc Bộ Tài chính.
Trong đó, hai mô hình đầu tiên là phổ biến hơn cả.
Trong suốt những năm 90 của thế kỷ XX, tính độc lập của NHTW được xem như
nền tảng của những cải cách về mặt thể chế để giảm sự can thiệp bất hợp lý của chính trị
đến quá trình xây dựng và thực thi CSTT nhằm đạt được mục tiêu ổn định giá cả. Lý do
Nói chung, các nghiên cứu về NHTW thường nghiêng về ý kiến cho rằng nên giao
việc xây dựng, quyết định và thực thi CSTT cho một NHTW chuyên sâu, độc lập và kiên
định với mục tiêu hàng đầu là duy trì sự ổn định giá cả. Điều đó sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả của các tác động về mặt chính sách cũng như uy tín của các nhà hoạch định
chính sách. Tất nhiên, tính độc lập của NHTƯ cần được xây dựng trên cơ sở các quy định
pháp lý liên quan. Việc thiếu tôn trọng pháp luật ở một số nước là nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến tình trạng NHTW độc lập về mặt hình thức không có khả năng kiểm soát lạm
phát và thực thi các chức năng một cách có hiệu quả.
II. CÁC CHÍNH SÁCH FED SỬ DỤNG ĐỂ TÁC ĐỘNG VÀO NỀN
KINH TẾ MỸ ĐẶC BIỆT LÀ ĐỐI VỚI CUỘC KHỦNG HOẢNG 2008
1) Chính sách tiền tệ của FED
1.1) Chính sách lãi suất
Về cơ bản FED đang điều hành lãi suất thông qua hai công cụ quan trọng đó là Lãi
suất chiết khấu (Discount rate) và Lãi suất quĩ dự trữ liên bang (Federal Funds Rate –
FFR)
a) Các loại lãi suất FED áp dụng
Lãi suất quỹ dự trữ liên bang (Federal Funds Rate – FFR)
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
FFR là công cụ được FED sáng tạo muộn hơn so với công cụ lãi suất chiết khấu.
Nó bắt đầu được FED sử dụng từ những năm đầu thập niên 20 của thế kỉ XX. Trong khi
đó công cụ lãi suất chiết khầu được sử dụng ngay từ khi FED thành lập.
Quỹ dự trữ liên bang hình thành từ lượng tiền dự trữ bắt buộc của tất cả các trung
gian tài chính nhận tiền gửi tại FED. Cũng chính vì thế mà FFR có tên gọi là “lãi suất quỹ
dự trữ liên bang”. FFR được ủy ban thị trường mở công bố sau các phiên họp định kỳ và
nó không mang tính chất ấn định cụ thể mà thực chất chỉ là lãi suất mục tiêu để Fed thực
hiện trên thị trường mở nhằm đạt đến lãi suất mục tiêu đã công bố. FFR là lãi suất thấp
nhất mà các trung gian nhận tiền gửi có thể vay để bù đắp thiếu hụt dự trữ bắt buộc .
Mặc dù công cụ này được FED áp dụng chưa lâu nhưng FED lại thực hiện chính
dự trữ bằng không. Tỷ lệ dự trữ trên tài khoản giao dịch ròng phụ thuộc vào số lượng tài
khoản giao dịch ròng tại tổ chức lưu ký.
b) Sơ lược về tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Fed năm 2011
Ngày 20/12, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã đề xuất những quy định mới về
vốn và tính thanh khoản đối với các ngân hàng lớn nhất nước Mỹ để đảm bảo trụ vững
trước cuộc khủng hoảng có thể xảy đến trong tương lai.
FED cho biết, các quy định về vốn và tính thanh khoản đối với các đại gia ngân
hàng tại Phố Wall sẽ được thực hiện trong hai giai đoạn.
Giai đoạn một dựa vào các chính sách FED đã công bố, ví dụ như kế hoạch kiểm
soát nguồn vốn hồi tháng 11 qua. Theo đó, các ngân hàng Mỹ có tổng tài sản trên 50 tỷ
USD sẽ phải duy trì lượng tiền mặt tối thiểu tương đương 5% giá trị tài sản của mình
nhằm đối phó với các khoản nợ xấu. Ngoài mức bắt buộc trên, các "đại gia" có tài sản từ
500 tỷ USD trở lên cũng phải trích riêng 10% giá trị các khoản cho vay và hợp đồng giao
dịch với nhau.
FED cũng thông qua quy định đối
với các ngân hàng có tài sản dưới 10 tỷ
USD. Theo đó những ngân hàng này sẽ
phải trải qua các cuộc sát hạch về khả
năng sẵn sàng ứng phó với cuộc suy thoái
kinh tế mới.
Giai đoạn thứ hai, các ngân hàng
sẽ phải tuân thủ những quy định chặt chẽ
theo thỏa thuận quốc tế Basel III về mức
dự trữ tiền mặt tối thiểu, dự kiến sẽ có
hiệu lực từ năm 2019. Ngoài ra, các nhà
băng cũng phải nâng tỷ lệ vốn cấp 1 dựa trên rủi ro bắt buộc lên 7%. Riêng đối với yêu
cầu về tính thanh khoản, FED đang chờ Ủy ban Giám sát ngân hàng Basel bổ sung những
khuyến nghị về vấn đề này trước khi đưa ra những yêu cầu cụ thể đối với các ngân hàng
Mỹ.
Những quy định mới chặt chẽ hơn của FED đã vấp phải sự phản đối của hầu hết
Và với quy định mới này về dự trữ bắt buộc, các ngân hàng có thể sẽ có được khả năng tốt
hơn để vượt qua khủng hoảng.
Hiện Ủy ban Basel yêu cầu đến năm 2019 các ngân hàng phải duy trì tổng mức dự
trữ bắt buộc là 10,5% (tăng 2,5% so với mức 8% trước đó). Trong khi đó, trước thời gian
khủng hoảng, một số công ty, ngân hàng của Wall Street chỉ duy trì ở mức 3%. Điều này
cho thấy các quy định của FED đã khá dễ dãi so với những quy tắc được thiết lập bởi Ủy
ban Basel.
Theo FED, các quy tắc mà FED đề xuất sẽ được lấy ý kiến từ công chúng và sớm
nhất cũng phải đến cuối năm 2012 mới có hiệu lực. Theo đó, các ngân hàng Mỹ sẽ có một
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
khoảng thời gian để nắm bắt và thực hiện, có nghĩa là phải đến 2013 các quy định về vốn
dự trữ mới này mới được đáp ứng.
Nhóm ngân hàng và các nhà phân tích tài chính bước đầu đã có phản hồi rằng, các
tiêu chí mà FED đặt ra cần phải tính toán để không gây ra nhiều khó khăn hơn so với tiêu
chuẩn quốc tế của Basel, hoặc các điều khoản đã công bố trước đó đối với các ngân hàng
lớn của Mỹ. Tuy nhiên, đề xuất của FED được xem như một giải pháp tạm thời cho đến
khi có quyết định cuối cùng.
2) Các chính sách FED sử dụng trong cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009
Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ 2007-2009 là cuộc khủng hoảng trong nhiều lĩnh
vực tài chính (tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán) diễn ra từ năm 2007. Cuộc khủng hoảng
này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp. Và bản thân nó lại là nguồn
gốc trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua .
Cuộc khủng hoảng này là nguyên nhân chính làm cho Hoa Kỳ rơi vào tình trạng
suy thoái từ tháng 12 năm 2007. Đây là đợt suy thoái nghiêm trọng nhất ở Hoa Kỳ kể từ
Chiến tranh thế giới thứ hai. Bình quân mỗi tháng từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2008 có 84
nghìn lượt lao động Hoa Kỳ bị mất việc làm, hàng loạt tổ chức tài chính trong đó có
những tổ chức tài chính khổng lồ bị phá sản đẩy nền kinh tế Hoa Kỳ vào tình trạng đói tín
dụng.
17-8 2008 5,75
Nguồn: Cục dữ trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED)
c) Tác dụng của chính sách lãi suất trong việc đối phó khủng hoảng
Đối với Mỹ
FED mong muốn rằng việc cắt giảm các loại lãi suất có thể giúp khôi phục lòng tin
của các nhà đầu tư, giảm bớt chi phí vay bao gồm các khoản cho vay doanh nghiệp và cho
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
vay tiêu dùng. Từ đó giúp các doanh nghiệp khôi phục và mở rộng kinh doanh, kích thích
tiêu dùng nội địa làm đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế .
Tuy nhiên, mong muốn và thực tế không phải lúc nào cũng song hành. Giới đầu tư
Mỹ thực sự nắm được thực trạng nền kinh tế Mỹ. Họ đã tin rằng động thái của FED cũng
không thể cứu vãn gì được nếu như suy thoái đã thực sự diễn ra.
Với thực trạng là khủng hoảng tín dụng cho vay bất động sản (BĐS) từ tháng 7 của
Mỹ đang ngày một lún sâu hơn. Điển hình là hàng loạt các ông lớn trên thị trường tài
chính Mỹ như Citygroup, JPMorgan Chase, Merill Lynch đồng loạt thông báo các
khoản thua lỗ liên quan đến cho vay BĐS lên đến 97 tỷ đôla Mỹ (theo Bloomberg), Với tỉ
lệ thất nghiệp cao nhất trong vòng 3 năm qua (5%), giá BĐS tiếp tục giảm mạnh (thấp
nhất kể từ năm 1991), khủng hoảng trong cho vay thế chấp ngày càng lún sâu, cộng với sự
căng thẳng chính trị quốc tế đang làm cho các nhà đầu tư Mỹ tin rằng một cuộc suy thoái
kinh tế đã và đang xảy ra, giải pháp của FED là muộn và cần thời gian để phát huy tác
dụng.
Hơn thế nữa, chính động thái gấp gáp của FED càng làm cho nhận định trên là có
thật và thị trường chứng khoán Mỹ có chiều hướng xấu đi là khó tránh khỏi .
Đối với các nước khác
Động thái của FED đã tạo ra niềm tin cho các nhà đầu tư từ hai châu lục Á và Âu rằng
chính phủ Mỹ sẽ bằng mọi cách cứu vãn thị trường tài chính mà rộng hơn là nền kinh tế
nước này cũng giống như những lần cắt giảm lãi suất trước của FED (năm 2001)
Ở Việt Nam, trong khi quyết định của NHNN về việc tăng dự trữ bắt buộc đối với các
2% - là thời điểm nền kinh tế đã đi đúng quỹ đạo phục hồi.
Đối với lãi suất chiết khấu
Ban điều hành chính sách của FED đã nâng lãi suất chiết khấu đối với các ngân
hàng vay tiền trực tiếp của FED thêm 0.25% lên mức 0.75% và cho rằng điều này đảm
bảo cho các thể chế tài chính hoạt động vững chắc hơn trong thị trường tiền tệ hơn là tập
trung giải quyết những khoản vay ngắn ngày để giải quyết tính thanh khoản.
Quyết định tăng lãi suất chiết khấu của FED bắt đầu có hiệu lực từ 19-2-2010. Ban
điều hành FED cho biết họ vẫn điều hành chính sách tiền tệ như trước và cho biết ngân
hàng trung ương này thấy rằng các điều kiện kinh tế đảm bảo lãi suất sẽ ở mức thấp trong
một thời gian dài nữa.
Tuy FED nói rằng không thắt chặt tiền tệ nhưng đồng đô la ngay lập tức tăng điểm
khiến thị trường trái phiếu giảm điểm nhanh. Cụ thể là đồng đô la tăng 0.7% lên mức
$1.3514 so với euro vào lúc 5:19 p.m. giờ New York. Trước đó, đồng eur đã ở mức
$1.3607 trong ngày hôm trước. Cặp tỷ giá này đã giảm xuống $1.3502, mức giảm thấp
nhất kể từ tháng 5 năm ngoái .
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
Thị trường cho rằng FED đã tiến một bước nữa trong việc thu hồi các khoản tiền
kích thích kinh tế. Khoản tiền này lên tới hàng trăm tỷ đô la được cung cấp bằng các
khoản tín dụng cho các ngân hàng, cho các nhà môi giới trái phiếu, bằng các giấy nợ
thương mại và bằng các khoản tiền cứu trợ các thể chế tài chính sắp phá sản như AIG là
một ví dụ.
Có thể nói điều này hoàn toàn là một bất ngờ khi các nhà đầu tư đang trông chờ
FED sẽ không thay đổi đường lối giữ nguyên lãi suất ở mức thấp trong thời gian đến cuối
năm 2010.
Đây là lần nâng lãi suất chiết khấu đầu tiền của FED trong ba năm vừa qua. Các
chuyên gia Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ Ltd tại New York cho rằng FED đang quay trở
lại đường lối hoạt động khi môi trường kinh tế kinh doanh diễn ra bình thường. Họ cho
rằng ngày hôm nay FED nâng lãi suất, cho dù thời gian gần họ chưa nâng lãi suất ngay thì
khoản vay thế chấp dưới chuẩn chỉ chiếm 16% tổng số vốn vay thế chấp, nhưng lại chiếm
tới 50% các khoản vỡ nợ.
Ngày 20/08/2007, Fed đã quyết định bơm thêm 3,5 tỷ USD vào hệ thống tiền tệ
nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng trên thị trường tín dụng. Ngày 18/09/2007, Fed đã
quyết định cắt giảm lãi suất từ mức 5,25% xuống còn 4,75%. Thị trường chứng khoán phố
Wall ngày 18/09/2007 cũng đã có những phản ứng tích cực sau quyết định của FED, trong
đó, 3 chỉ số quan trọng nhất đều tăng hơn 1%.
Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ trợ bởi chính phủ thông báo
lập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ đô la để mua lại các chứng khoán được đảm bảo bằng tài
sản thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm do khủng hoảng vay dưới chuẩn. Chủ tịch
Cục dự trữ Liên bang Ben Bernake và Bộ trưởng Bộ tài chính Mỹ đều đưa ra những cảnh
báo về mối nguy hiểm của việc vỡ bong bóng bất động sản.
Ngày 31/10: Cục dự trữ liên bang hạ lãi suất quỹ liên bang 25 điểm xuống 4.5%
Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng vay với
lãi suất thấp. Đây là lần xuất tiền lớn nhất của Cục dự trữ liên bang kể từ 19 tháng 9 năm
2001 (50.35 tỷ đô la).Những khoảng thời gian tiếp theo lãi suất của Fed liên tục giảm.
Bảng lãi suất của FED công bố từ tháng 08/2006 đến cuối năm 2008.
Ngày
Lãi suất
(%)
Giảm
(%)
08/08/2006 5,25
18/09/2007 4,75 -0,50
31/10/2007 4,50 -0,25
11/12/2007 4,25 -0,25
22/01/2008 3,50 -0,75
30/01/2008 3,00 -0,50
18/03/2008 2,25 -0,75
30/04/2008 2,00 -0,25
Fed đã đưa ra 7 công cụ mới: TAF (đấu thầu cho vay kỳ hạn), TSLF (cho vay chứng
khoán kỳ hạn), PDCF (tín dụng cho các trung gian tài chính hàng đầu), AMLF( cho vay
dựa trên thương phiếu được đảm bảo bằng tài sản), CPFF( quỹ thương phiếu),
MMIFF( công cụ quỹ dành cho các nhà đầu tư trên thị trường tiền tệ), TALF (cho vay
dựa trên chứng khán được đảm bảo bằng tài sản). Ngoài ra, Fed cũng cùng phối hợp cùng
với 14 ngân hàng trung ương các nước khác, để trong một khoảng thời gian ngắn cơ cấu
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
tiền tệ các nước cùng có thể liên minh với nhau, đồng thời tăng thêm vị thế của đồng đô-la
ra thị trường các nước. Từ đó, việc nước Mỹ dựa vào đồng đô-la để vực dậy nền kinh tế là
hoàn toàn có lợi.
Bên cạnh đó là việc tăng cường tính ổn định cho môi trường tiền tệ, đặc biệt đó là
tăng cường cứu trợ đối với các cơ cấu tiền tệ có vấn đề. Minh chứng rõ nét nhất cho nhận
định này đó là lần lượt các tập đoàn lớn như AIG, Citigroup và hai đại gia tài chính
Fannie Mae và Freddie Mac lần lượt được giải cứu.
Hành động tiếp theo là thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm khôi phục nền
kinh tế, kích thích đầu tư. Thật vậy, trong quý IV năm 2008, lãi sất cho vay của Fed chỉ là
1% và kể từ đầu năm 2009 đến nay, mức lãi suất này chỉ là 0-0,25%, là mức lãi suất cơ
bản thấp nhất từ năm 1954.
Cả hai hành động trên của Fed được đánh giá là đúng đắn và đủ liều lượng đối với
nền kinh tế Hoa Kỳ vào lúc này. Đặc biệt là mức lãi suất cho vay thấp trong thời gian qua.
Mức lãi suất thấp này sẽ giúp giảm bớt chi phí vay, bao gồm các khoản cho vay doanh
nghiệp và tiêu dùng.
Những chính sách của Fed và chính phủ Mỹ đã mang lại những tác động tích cực
đối với kinh tế Hoa Kỳ. Trong quý III năm 2009 vừa qua, GDP của Hoa Kỳ đã tăng 4,3%
sau 3 quý sụt giảm
Thời gian GDP(b.USD) GDP change
2008 q3 14,546.7
2008 q4 14,347.3 -5.4%
Nền kinh tế vẫn đang trong tình trạng chưa thể tự lực đứng dậy nếu không có sự
trợ giúp của các cơ quan điều tiết như chính phủ Hoa Kỳ và Fed. Đối với nền kinh tế Hoa
Kỳ, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là 6%, là mức có thể chấp nhận được. Với mức thất nghiệp
hơn 10% như thời điểm hiện tại quả thực Chính phủ hoa Kỳ và Fed đang đứng trước một
bài toán vô cùng nan giải, nhất là khi các cói cứu trợ của Chính phủ và Chính sách của
Fed gần như đã đi đến giới hạn.
Giới hạn của Chính phủ Mỹ chính là mức thâm hụt GDP đã lên đến 1400 tỷ USD,
chiếm 10% GDP. Đây là mối lo ngại rất lớn của Chính phủ Hoa Kỳ bởi lẽ mức thâm hụt
ngân sách cho phép theo lý thuyết kinh tế chỉ nên ở mức 3-5%. Nợ của chính phủ Hoa Kỳ
sẽ được trả bằng thuế của người dân trong tương lai. Dưới áp lực của dư luận về mức chịu
thuế trong tương lai, Chính phủ Mỹ không dễ dàng để nâng mức chi tiêu trong thời gian
tới.
Giới hạn của Fed chính là mức lãi suất cho vay đã gần đến 0% như hiện tại. Với
chức năng cho vay chiết khấu này, hầu như Fed đã hết cách bởi lẽ lãi suất cho vay không
thể xuống dưới 0%. Fed chỉ có thể củng cố lòng tin của nền kinh tế bằng cách công bố
mức lãi suất tiếp tục thấp như hiện tại qua các cuộc họp của mình khi trước đó có áp lực
về việc tăng lãi suất. Đối với Fed, vấn đề tăng lãi suất vào thời điểm hiện tại hầu như là
không thể bởi nền kinh tế vẫn chưa thực sự hồi phục. Đối với nghiệp vụ thị trường mở,
việc mua vào 300 tỷ trái phiếu chính phủ là một cách làm gần đây được coi là một công
cụ hiệu quả của Fed. Với công cụ này, Fed đã chủ động hơn trong chính sách nhưng liệu
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012
25
Trường đại học kinh tế tp HCM- NH8
cách làm này có thể sử dụng trong một thời gian dài? Hàm ý trong những chính sách đó là
nới lỏng tiền tệ, khiến cho mức lãi suất thấp, kích thích tiêu dùng và đầu tư. Tuy nhiên, sẽ
có những vấn đề xuất hiện với chính sách tiền tệ nới lỏng và lãi suất thấp của Fed như
hiện tại.
KẾT LUẬN
Viết phần kết luận
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 16/02/2012