Luận văn tốt nghiệp: “Giải pháp phát
triển hoạt động kinh doanh lữ hành nội
địa của Xí nghiệp Đầu tư và phát triển
du lịch Sông Hồng thuộc Công ty Du lịch
và thương mại tổng hợp Thăng Long’’
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Du lịch là một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống kinh tế xã hội
và trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia. Hoạt động kinh doanh lữ hành là đặc thù
của ngành du lịch. Mỗi quốc gia muốn phát triển ngành công nghiệp du lịch
không thể thiếu hệ thống các công ty lữ hành hùng mạnh tham gia hoạt động
kinh doanh trên thị trường .
Qua thời gian thực tập tại Xí nghiệp đầu tư và phát tri
ển du lịch Sông Hồng
với mong muốn phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa tại Xí nghiệp và
thoả mãn tối đa nhu cầu du lịch cho khách, tôi quyết định chọn đề tài “ Giải
doanh nghiệp lữ hành.
Chương 2: Thực trạ
ng hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa tại Xí nghiệp
Đầu tư và phát triển du lịch Sông Hồng thuộc Công ty Du lịch và thương mại
tổng hợp Thăng Long.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động kinh doanh
lữ hành nội địa tại Xí nghiệp Đầu tư và phát triển Du lịch Sông Hồng thuộc
Công ty du lịch và thương mại tổng hợp Thăng Long.
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ
HÀNH CỦA DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH
1.1 Lữ hành và sự hình thành hoạt động kinh doanh lữ hành
1.1.1 Lữ hành
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về lữ hành. Trong nội dung nghiên
cứu của đề tài này xin trình bày hai quan niệm:
Theo quan niệm chung “ Lữ hành là sự đi lại di chuyển của con người từ
nơi này đến nơi khác”. Theo cách đề cập này thì hoạt động du lịch bao gồm yếu
tố lữ hành, nhưng không phải tất cả các hoạt động lữ hành đều là du lịch.
động kinh doanh lữ hành mới thực sự hình thành song do đất nước còn bị chia
cắt và cản trở bởi cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nên hoạt
động kinh doanh lữ hành thời kỳ này cũng chưa phát triển. Khi đất nước thống
nhất do điều ki
ện kinh tế còn khó khăn, hoạt động kinh doanh lữ hành cũng chỉ
phát triển trong phạm vi quốc gia và số lượng không nhiều các chuyên gia Liên
Xô sang Việt Nam khôi phục đất nước. Hoạt động kinh doanh lữ hành mới chỉ
thực sự phát triển vào thời kỳ nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế
thị trường (1886). Thị trường kinh doanh lữ hành trở nên sôi động hơn, các
doanh nghiệp đa dạng về thành phần s
ở hữu, về sản phẩm và chất lượng. Cầu lữ
hành cũng phát triển cả ở cầu quốc tế đến và đi.
1.2.Doanh nghiệp lữ hành
1.2.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp lữ hành
Có thể hiểu “Doanh nghiệp lữ hành là đơn vị có tư cách pháp nhân, hạch
toán độc lập được thành lập nhằm mục đích sinh lời bằng việc giao dịch ký kết
các hợp đồng du lịch và tổ
chức thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho
khách du lịch (thông tư số 715/TCDL ngày 9/7/1994)”.
Theo cách phân loại của Tổng cục Du lịch, doanh nghiệp lữ hành bao gồm 2
loại: Doanh nghiệp lữ hành quốc tế và doanh nghiệp lữ hành nội địa.
- Doanh nghiệp lữ hành quốc tế: Là doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng
bán các chương trình du lịch trọn gói hoặc từng phần theo yêu cầu của khách để
trực tiếp thu hút khách đến Việt Nam và đưa công dân Vi
ệt Nam, người nước
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
5
ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch. Thực hiện các chương trình du lịch đã bán
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
6
khách. Ngoài hai chức năng trên, doanh nghiệp lữ hành còn khai thác các dịch
vụ đáp ứng nhu cầu của khách như các dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển.
1.2.2.2 Nhiệm vụ của doanh nghiệp lữ hành
Từ các chức năng trên, doanh nghiệp lữ hành thực hiện các nhiệm vụ quan
trọng là tổ chức các hoạt động trung gian và tổ chức các chương trình du lịch
trọn gói, trực tiếp tổ chức các chươ
ng trình du lịch trọn gói cho khách:
-Tổ chức các hoạt động trung gian, bán và tiêu thụ các sản phẩm của nhà
cung cấp dịch vụ du lịch. Hệ thống các điểm bán, các đại lý du lịch tạo thành
mạng lưới phân phối sản phẩm của các nhà cung cấp dịch vụ du lịch. Trên cơ sở
đó rút ngắn hoặc xoá bỏ khoảng cách giữa khách du lịch và các cơ sở kinh
doanh du lịch.
- Tổ chức các chương trình du lịch trọ
n gói, các chương trình này nhằm liên
kết các sản phẩm du lịch như vận chuyển, lưu trú, vui chơi giải trí... thành một
sản phẩm thống nhất hoàn hảo đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch. Các
chương trình du lịch sẽ xoá bỏ những khó khăn, lo ngại của khách du lịch, đồng
thời tạo cho họ sự an tâm tin tưởng vào sự thành công của chuyến du lịch.
- Tổ chức cung cấp các dịch vụ
đơn lẻ cho khách trên hệ thống cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện có để đảm bảo phục vụ tất cả các nhu cầu của khách từ khâu
đầu tiên tới khâu cuối cùng.
1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp lữ hành.
1.2.3.1 Đối với khách du lịch
Hiện nay đi du lịch trở thành một hiện tượng phổ biến, một nhu cầu thiết
yếu với mọi người. Du khách đi du l
khuyếch trương của các doanh nghiệp lữ hành. Đặc biệt đối với các nước đang
phát triển như Việt Nam, khi khả năng tài chính còn hạn chế thì các mối quan hệ
các doanh nghiệp lữ hành trên thế giới là phương pháp quảng cáo hữu hiệu thị
trường du lịch quốc tế.
1.2.3.3 Đối với ngành Du lịch
Doanh nghiệp lữ hành là một tế bào, một đơn vị cấ
u thành nên ngành Du
lịch. Nó có vai trò thúc đẩy hay hạn chế sự phát triển của ngành Du lịch. Nếu
mỗi doanh nghiệp lữ hành kinh doanh có hiệu quả sẽ tạo điều kiện tốt cho toàn
ngành Du lịch nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
8
1.2.3.4 Đối với doanh nghiệp khác
Mỗi doanh nghiệp kinh doanh đều nằm trong mối quan hệ tổng thể với các
doanh nghiệp khác trên thị trường. Và doanh nghiệp lữ hành cũng không nằm
ngoài quy luật ấy. Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành thúc đẩy các doanh nghiệp và
các ngành khác phát triển thể hiện ở chỗ doanh nghiệp lữ hành sử dụng đầu ra của
các ngành sản xuất khác để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
1.2.3.5
Đối với cư dân địa phương
Khi lữ hành phát triển sẽ mở ra nhiều tuyến điểm du lịch, đặc biệt là các
điểm đến các địa phương. Điều này sẽ giúp dân cư địa phương mở mang tầm
hiểu biết, giúp họ có cơ hội kinh doanh và quan trọng hơn là vấn đề giải quyết
công ăn việc làm cho người dân ở đây.
1.3 Đặc đi
ểm và nội dung của hoạt động kinh doanh lữ hành
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm về kinh doanh lữ hành
Trước hết cần phải hiểu: Kinh doanh lữ hành (Tour operators bussiness) là
ữ hành
không bảo quản, lưu kho, lưu bãi được và giá của sản phẩm lữ hành có tính
linh động cao.
- Chương trình du lịch trọn gói được coi là sản phẩm đặc trưng trong kinh
doanh lữ hành. Một chương trình du lịch trọn gói có thể được thực hiện nhiều
lần vào những thời điểm khác nhau.
1.3.1.2 Kinh doanh lữ hành mang tính thời vụ rõ nét.
Ở các thời vụ khác nhau trong năm, nhu cầu của du khách cũng khác nhau.
Chẳng hạ
n, vào mùa hè nhu cầu du lịch nghỉ biển tăng rất cao nhưng vào mùa
đông thì ngược lại, vào mùa xuân nhu cầu du lịch lễ hội cũng tăng mạnh làm
cho hoạt động kinh doanh lữ hành có tình thời vụ. Vì vậy, trong kinh doanh lữ
hành đòi hỏi các nhà quản trị phải nắm bắt được tính thời vụ nhằm có những
biện pháp hạn chế tính thời vụ, duy trì nhịp độ phát triển đều đặn và nâng cao
hiệu quả kinh doanh l
ữ hành.
1.3.1.3 Đặc điểm về mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng trong kinh
doanh lữ hành.
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
10
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm lữ hành diễn ra trong cùng một
thời gian. Trong kinh doanh lữ hành, chúng ta chỉ tiến hành phục vụ khách du
lịch khi có sự có mặt của khách trong quá trình phục vụ. Có thể xem khách hàng
là yếu tố “nguyên liệu đầu vào” trong quá trình kinh doanh lữ hành. Vì thế trong
kinh doanh lữ hành sản phẩm không thể sản xuất trước.
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm lữ hành diễn ra trong cùng một
không gian. Các sản phẩm lữ hành không thể vận chuyển mang
đến tận nơi để
- Bước 1: Thu thập đầy đủ các thông tin về tuyến điểm tham quan, giá trị
của tuyến điểm đó, phong tục tập quán và các thông tin có liên quan đến việc tổ
chức các chuyến đi như: lo
ại hình phương tiện vận chuyển, loại hình cơ sở lưu
trú và chất lượng, giá cả các dịch vụ các thông tin khác như thủ tục hải quan, vi
sa, đổi tiền, chế độ bảo hiểm cho khách...
- Bước 2: Sơ đồ hoá tuyến du lịch, lên kế hoạch và lịch trình chi tiết về các
tuyến điểm, độ dài tour, địa điểm xuất phát, phương tiện vận chuyển và các dịch
v
ụ ăn nghỉ. Việc thiết kế hành trình du lịch đòi hỏi các doanh nghiệp phải cân
nhắc kỹ lưỡng về tính khả thi của chương trình, thông qua việc nghiên cứu và
khảo sát thực địa, hợp đồng với các đối tác cung cấp dịch vụ.
- Bước 3: Định giá chương trình du lịch phải căn cứ vào tổng chi phí
chương trình du lịch bao gồm chi phí cố định (giá vận chuyển, quảng cáo, quản
lý, h
ướng dẫn viên) và các chi phí biến đổi khác( ăn, ngủ, bảo hiểm, tham
quan…) và lợi nhuận dự kiến của doanh nghiệp. Mức giá trọn gói chương trình
du lịch nhỏ hơn mức giá các dịch vụ cung cấp trong chương trình du lịch, việc
tính giá phải đảm bảo tính đúng, tính đủ để có thể trang trải các chi phí bỏ ra
cũng như mang lại lợi nhuận cần thiết cho doanh nghiệp và có khả năng hấp dẫn
thu hút khách hàng.
- Bước 4: Viết thuyết minh cho chương trình du lịch, ứng với mỗi chương
trình du lịch thì phải có một bản thuyết minh. Một điểm quan trọng trong bản
thuyết minh là phải nêu lên giá trị của tuyến, điểm du lịch. Bản thuyết minh phải
rõ ràng, chính xác, có tính hình tượng, có tính biểu cảm nhằm phản ánh và nâng
cao chất lượng và giá trị các điểm đến.
1.3.2.2 Quảng cáo và tổ chức bán
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
khả năng làm việc độc lập, có trình độ nghiệp vụ, phải có những kiến thức hiểu
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
13
biết về lịch sử, văn hoá, chính trị, kinh tế, luật pháp và những hiểu biết nhất định
về tâm lý khách hàng, về y tế... để ứng xử và quyết định kịp thời các yêu cầu của
khách và đảm bảo chương trình du lịch được thực hiện theo đúng hợp đồng.
Hướng dẫn viên sẽ phải thực hiện việc giao dịch với các đối tác dịch vụ
trong việ
c cung cấp dịch vụ theo đúng hợp đồng đảm bảo thực hiện hành trình
du lịch đã ký kết (giúp khách khai báo các thủ tục có liên quan đến chuyến đi, sử
lý kịp thời các tình huống phát sinh...) cung cấp các thông tin cần thiết cho
khách về phong tục tập quán, nơi đến, mạng lưới giao thông các dịch vụ vui
chơi giải trí ngoài chương trình... Giám sát các dịch vụ cung cấp và báo cáo kịp
thời các vấn đề phát sinh trong chương trình du lịch để xin ý kiế
n cấp quản lý có
thẩm quyền giải quyết.
1.3.2.4 Thanh quyết toán hợp đồng và rút kinh nghiệm về thực hiện hợp
đồng
Sau khi chương trình du lịch đã kết thúc, doanh nghiệp lữ hành cần làm thủ
tục thanh quyết toán hợp đồng trên cơ sở quyết toán tài chính và giải quyết các
vấn đề phát sinh còn tồn tại tiến hành rút kinh nghiệm về thực hiện hợp đồng.
Khi tiến hành quyết toán tài chính doanh nghiệp th
ường bắt đầu từ khoản tiền
tạm ứng cho người dẫn đoàn trước chuyến đi, đến các chi tiêu phát sinh trong
chuyến đi và số tiền hoàn lại doanh nghiệp. Trước khi quyết toán tài chính người
dẫn đoàn phải báo cáo tài chính với các nhà quản trị điều hành khi được các nhà
quản trị chấp thuận. Sau đó sẽ chuyển qua bộ phận kế toán của doanh nghiệp để
thanh toán và quản lý theo nghiệp v
vực công tác nhất định trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Số lượng
phó giám đốc doanh nghiệp tuỳ thuộc vào quy mô và mức độ phức tạp của lĩnh
vực kinh doanh của doanh nghiệp. Tr
ưởng các phòng chức năng (trưởng phòng
kế toán, trưởng phòng tổ chức hành chính…) là nhà quản trị cấp trung gian, họ
có vai trò tham mưu và trợ giúp cho giám đốc doanh nghiệp giải quyết các vấn
đề chuyên môn sâu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trưởng các
bộ phận tác nghiệp (bộ phận thị trường, điều hành, hướng dẫn) là các bộ phận
trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn quản trị viên
là những người
đảm nhận công việc trợ lý hoặc tham mưu cho giám đốc doanh
nghiệp, thực hiện công tác nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược và kế
hoạch kinh doanh, nghiên cứu và sử lý các tình huống phát sinh trong chuyến đi.
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
15
Lao động thừa hành bao gồm: nhân viên thị trường, nhân viên điều hành và
hướng dẫn viên du lịch và các nhân viên khác như nhân viên kế toán, bảo vệ...
Trong đó, nhân viên thị trường có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, thiết kế các
chương trình du lịch. Nhân viên điều hành chịu trách nhiệm phối hợp với các
nhân viên bộ phận thị trường để ký kết các hợp đồng bán và phân công hướng
dẫn viên theo đoàn. Hướng dẫn viên du lịch là nh
ững người đi theo các tour du
lịch hướng dẫn khách và giúp khách đáp ứng mọi nhu cầu phát sinh trong
chuyến đi.
Trong hoạt động kinh doanh lữ hành thì nhân viên ở bộ phận nghiệp vụ
(nhân viên thị trường, nhân viên điều hành, nhân viên hướng dẫn) đóng vai trò
vô cùng quan trọng. Họ là những người trực tiếp quyết định đến chất lượng dịch
vụ và thay mặt doanh nghiệp trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, cung cấp và thoả
trình du lị
ch, trả lương nhân viên mà còn dùng để trang bị mua sắm cơ sơ vật
chất kỹ thuật,... phục vụ hoạt động kinh doanh lữ hành. Có thể khẳng định, một
doanh nghiệp mạnh có điều kiện cung cấp các sản phẩm dịch vụ du lịch có chất
lượng là một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính. Vì vậy trong quá trình kinh
doanh các doanh nghiệp lữ hành phải có biện pháp quản lý vốn, quay vòng vốn
một cách linh hoạt sao cho vố
n ban đầu đó được thu hồi nhanh và có khả năng
sinh lời lớn nhất. Việc bảo toàn và phát triển vốn là một đòi hỏi cấp thiết của
mỗi doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nhằm đáp ứng nhu cầu hiện đại hoá trong
kinh doanh lữ hành, sản phẩm dịch vụ du lịch và tạo điều kiện để doanh nghiệp
có thể cạnh tranh, hội nhập với khu vực và thế giới.
Trong đó, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp bao gồm tất cả
các phương tiện vật chất và tư liệu lao động để sản xuất ra toàn bộ sản phẩm
dịch vụ cho khách du lịch. Việc đầu tư cơ sở vật chất hợp lý một mặt giúp các
doanh nghiệp lữ hành tiết kiệm được chi phí, mặt khác giúp doanh nghiệp lữ
hành có
điều kiện làm bằng chứng vật chất hữu hình hoá sản phẩm của doanh
nghiệp để hạn chế rủi ro đối với khách hàng và góp phần thu hút khách hàng.
Ngoài ra cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại còn là điều kiện để doanh nghiệp nâng
cao chất lượng sản phẩm cũng như điều kiện lao động và năng suất làm việc cho
doanh nghiệp. Cở sở vậ
t chất kỹ thuật là điều kiện tối quan trọng để doanh
nghiệp phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành.
1.4.3 Sản phẩm
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
17
Sản phẩm trong doanh nghiệp lữ hành là các loại hình dịch vụ mà doanh
trên các lĩnh vực liên quan đến du l
ịch: kinh doanh khách sạn, nhà hàng, kinh
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
18
doanh các dịch vụ vui chơi giải trí, kinh doanh vân chuyển du lich, kinh doanh
các dịch vụ ngân hàng phục vụ khách du lịch. Các dịch vụ này thường là sự kết
hợp và sự hợp tác, liên kết trong du lịch. Hệ thống sản phẩm của du lịch lữ hành
càng phong phú thì hoạt động kinh doanh lữ hành càng phát triển.
Tuy nhiên các doanh nghiệp lữ hành cần lưu ý rằng: Nhu cầu của khách
hàng mang tính tổng hợp rất cao. Vì thế, doanh nghiệp muốn phát triển hoạt
động kinh doanh l
ữ hành thì phải đáp ứng nhu cầu đó bằng sự đa dạng tổng hợp
của hệ thống sản phẩm. Song doanh nghiệp là người ký hợp đồng và đại diện
bán cho nhà sản xuất trực tiếp. Nên để trách rủi ro và đảm bảo duy trì lâu dài,
doanh nghiệp lữ hành cần lựa chọn nhà cung cấp, nhận làm đại lý cho các doanh
nghiệp đang đáng tin cậy, có uy tín.
1.4.4 Thị trường khách hàng
Khách hàng là người tiêu thụ
sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Như vậy
khách hàng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường kinh doanh
lữ hành nói chung và phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành nói riêng. Thông
qua quá trình tiêu thụ của khách hàng mà doanh nghiệp lữ hành thực hiện được
mục tiêu đề ra là doanh thu và lợi nhuận. Tuy nhiên, mối quan hệ tốt đẹp này chỉ
có thể tồn tại và thực hiện nếu nó đảm bảo lợi ích kinh tế và sự thoả mãn cho cả
hai bên.
Phân tích một cách tổng quát cho thấy trên thị trường có “hai dòng” khách
hàng và doanh nghiệp tìm nhau. Doanh nghiệp tìm, xác định tập khách hàng cho
chính sách xúc tiến, giá cả, sản phẩm, cạnh tranh hợp lý và hiệu quả. Mỗi doanh
nghiệp lữ hành không chỉ chú trọng duy trì thị trường khách hiện tại mà còn phải
không ngừng mở rộng thị trường khách hàng tiềm năng để chiếm lĩnh thị phần
khách hàng và tối ưu hoá mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành, các doanh nghiệp lữ
hành cần phải nhận biế
t những ưu điểm và hạn chế của các yếu tố môi trường
kinh doanh: kinh tế, văn hoá, chính trị, tự nhiên, nhà cung cấp... để lự chọn và
phát triển hợp ý các yếu tố kể trên.
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành của
các doanh nghiệp lữ hành.
1.5.1 Sự cần thiết phải phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành.
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
20
Bất cứ một doanh nghiệp kinh doanh nào nói chung và doanh nghiệp kinh
doanh lữ hành nói riêng đều có mục đích trong quá trình hoạt động kinh doanh,
và suy cho cùng mục đích hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp lữ hành
chính là lợi nhuận. Phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành sẽ cho phép doanh
nghiệp thiết lập được hệ thống sản phẩm lữ hành có chất lượng, phong phú và đa
dạng. Từ đó giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh được thị trường khách hàng vữ
ng
chắc để từ đó tối đa hoá được lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp mình. Bên cạnh
đó, hệ thống sản phẩm có chất lượng, giá cả hợp lý còn là phương tiện điều kiện
để doanh nghiệp phát triển bền vững và duy trì sự tồn tại lâu dài.
Nói đến kinh doanh lữ hành là nói đến việc xây dựng và tổ chức thực hiện
các chương trình du lịch. Khi kinh doanh lữ hành càng phát triển tức là lượng
ch
ương trình du lịch mà doanh nghiệp thực hiện sẽ nhiều hơn. Mà trong quá
thể mua và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp một hoặc nhiều lần.
Tốc độ tăng trưởng lượt khách biểu hiện mức độ phát triển, sự tăng trưởng
và quy mô của doanh nghiệp.
1.5.2.2 Số ngày khách và tốc độ tăng trưởng ngày khách
- Số ngày khách là tổng số ngày mà các lượt khách đi tour khoảng thời gian
nhất định (thường tính theo năm).
Trong thự
c tế các doanh nghiệp lữ hành xác định chỉ tiêu này bằng phương
pháp thống kê. Khi xác định chỉ tiêu này cần lượng hoá các ảnh hưởng. Để
lượng hoá các nhân tố ảnh hưởng có thể xác định số ngày khách theo công thức
sau:
Tổng số = Tổng số lượt x Số ngày đi tour
ngày khách khách bình quân của khách
- Một lượt khách có thể mua sản phẩm lữ hành trong ngày trong ngày, ngắn
ngày hoặc dài ngày.
Tốc độ tăng trưởng ngày khách phản ánh chính xác hơ
n sự tăng trưởng về
quy mô của doanh nghiệp lữ hành cũng như mức độ phát triển hoạt động kinh
doanh lữ hành.
1.5.2.3 Doanh thu lữ hành và tốc độ tăng trưởng doanh thu
Doanh thu của doanh nghiệp lữ hàn là toàn bộ các khoản thu nhập mà
doanh nghiệp đó thu đựơc trong một thời kỳ nhất định. Nó bao gồm doanh thu
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
22
từ hoạt động bán hay thực hiện các chương trình du lịch, doanh thu từ kinh
doanh vận chuyển, hướng dẫn viên du lịch và các dịch vụ trung gian khác.
Doanh thu trong doanh nghiệp phản ánh mức độ phát triển hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp qua các kỳ kinh doanh. Nó là một trong các chỉ tiêu kết
triển hoạt động kinh doanh lữ hành của doanh nghiệp qua các thời kỳ nhất định.
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thị
Thảo
Trường Đại học Thương mại
24
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH NỘI ĐỊA TẠI
XÍ NGHIỆP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SÔNG HỒNG THUỘC
CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THĂNG LONG
2.1 Giới thiệu chung về Công ty Du lịch và thương mại tổng hợp Thăng
Long và Xí nghiệp Đầu tư và phát triển du lịch Sông Hồng
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Du lịch thương mại
tổng hợp Thăng Long và Xí nghiệp Đầu tư
và phát triển du lịch Sông Hồng.
Xí nghiệp Đầu tư và phát triển du lịch Sông Hồng thuộc Công ty Du lịch và
Thương Mại Thăng Long có tiền thân là Xí nghiệp vận tải khách và dịch vụ du
lịch thuộc Công ty Vận tải tàu thuỷ Hà Nội. Công ty Vận tải tàu thuỷ Hà Nội là
một doanh nghiệp nhà nước, có trụ sở giao dịch tại số 87 đường Bạch Đằng,
Quận Hai Bà Trưng, thành Phố Hà Nội. Công ty do Sở Giao thông công chính
Hà Nộ
i sáng lập, được thành lập theo quyết định số 1914 QĐ/UB, ban hành
ngày 1/52/1993 của UBND thành phố Hà Nội. Khi mới thành lập, số vốn cố