Một số thực trạng và giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa ở công ty lữ hành Hanoitourist - Pdf 87

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn để tài
Du lịch – ngành công nghiệp không khói hiện nay đang là một đề tài nóng
bỏng thu hút rất nhiều mối quan tâm của nhiều người. Rất nhiều quốc gia trên thế
giới đã xác định Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia mình. Bên cạnh đó,
cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội du lịch đã trở thành một nhu cầu không
thể thiếu của con người trên toàn thế giới nói chung và con người Việt Nam nói
riêng. Chính vì lẽ đó mà ngày càng có nhiều loại hình du lịch xuất hiện nhằm thỏa
mãn nhu cầu của con người. Và một loại hình du lịch hiện nay đang phát triển mạnh
mẽ đó là loại hình du lịch nội địa.
Nắm bắt được những nhu cầu này của khách hàng, rất nhiều các doanh nghiệp
du lịch đã tung ra các sản phẩm để thu hút khách du lịch. Một trong số những doanh
nghiệp có uy tín và thương hiệu về tổ chức loại hình du lịch Nội địa là Công ty Lữ
hành Hanoitourist.
Tuy nhiên, những năm qua liên tục xảy ra những bất ổn về kinh tế, dịch
bệnh...Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trường hiện nay có không ít các đối thủ
cạnh tranh tổ chức thành công loại hình du lịch Nội địa này. Nên việc kinh doanh của
Công ty Lữ hành Hanoitourist gặp không ít những khó khăn. Qua thời gian thực tập
tại Công ty lữ hành Hanoitourist với mong muốn phát triển hoạt động kinh doanh lữ
hành nội địa tại Công ty và thỏa mãn tối đa nhu cầu du lịch cho khách, em đã quyết
định chọn đề tài “ Một số thực trạng và giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh lữ
hành nội địa tại công ty Lữ hành Hanoitourist “.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt dộng khai thác nguồn khách du lịch nội địa và các
sản phẩm tour du lịch nội địa ở công ty Lữ hành Hanoitourist.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ là hoạt động kinh doanh lữ hành, chủ yếu là kinh
doanh lữ hành nội địa ở công ty Lữ hành Hanoitourist.
3. Mục đích và phương pháp nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu là dựa trên các cơ sở lý luận và thời gian thực tập tại công ty để
đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh Lữ hành Nội địa. Từ đó đưa ra các giải
pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh lữ hành Nội địa ở công ty nhằm giúp cho

tiêu dùng với mục đích thu tiền hoa hồng (Commission). Trong quá trình phát triển
đến nay, hình thức các đại lý du lịch vẫn liên tục được mở rộng.
Một cách khái niệm phổ biến hơn là căn cứ vào hoạt động tổ chức các chương trình
du lịch của các doanh nghiệp lữ hành. Khi đã phát triển ở một mức độ cao hơn so với
việc làm trung gian thuần túy, các doanh nghiệp lữ hành đã tự tạo ra các sản phẩm
của mình bằng cách tập hợp các sản phẩm riêng rẽ như dịch vụ khách sạn, vé máy
bay, ô tô, tàu thủy và các chuyến tham quan thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán
cho khách du lịch với một mức giá gộp. Ở đây, doanh nghiệp lữ hành không chỉ dừng
lại ở người bán mà trở thành người mua sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch. Tại
Bắc Mỹ, doanh nghiệp lữ hành được coi là những công ty xây dựng các chương trình
du lịch bằng cách tập hợp các thành phần như khách sạn, hàng không, tham quan... và
bán chúng với một mức giá gộp cho khách du lịch thông qua hệ thống các đại lý bán
lẻ. Như vậy, doanh nghiệp lữ hành là các pháp nhân tổ chức và bán các chương trình
du lịch. Ở Việt Nam, doanh nghiệp lữ hành được định nghĩa:” Doanh nghiệp lữ hành
là đơn vị có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, được thành lập nhằm mục đích
sinh lợi bằng việc giao dịch, ký kết các hợp đồng du lịch và tổ chức thực hiện các
chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch”.
3
Trong giai đoạn hiện nay, nhiều công ty lữ hành có phạm vi hoạt động rộng lớn,
mang tính toàn cầu và trong hầu hết các lĩnh vực của hoạt động du lịch. Các công ty
lữ hành đồng thời sở hữu các tập đoàn khách sạn, các hãng hàng không, tầu biển,
ngân hàng, phục vụ chủ yếu khách du lịch của công ty lữ hành. Kiểu tổ chức các
công ty lữ hành nói trên rất phổ biến ở châu Âu, châu Á và đã trở thành những tập
đoàn kinh doanh du lịch có khả năng chi phối mạnh mẽ thị trường du lịch quốc tế. Ờ
giai đoạn này, thì các công ty lữ hành không chỉ là người bán (phân phối), người mua
sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch mà trở thành người sản xuất trực tiếp ra các
sản phẩm du lịch. Từ đó có thể nêu một khái niệm doanh nghiệp lữ hành như sau:
Doanh nghiệp lữ hành là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở ổn định,
được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi nhuận
thông qua việc tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch cho

mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục tiêu kinh tế”
Nhà kinh tế học người Anh Ogilvie Vi khẳng định: để trở thành khách du lịch cần có
hai điều kiện
Thứ nhất: phải xa nhà thời gian dưới một năm.
Thứ hai: ở đó phải tiêu những khoản tiền đã tiết kiệm ở nơi khác.
Tuy nhiên, những khái niệm nêu ra ở trên đều mang tính phiến diện, chưa đầy đủ,
chủ yếu mang tính chất phản ánh sự phát triển của du lịch đương thời và xem xét
không đầy đủ, hạn chế nội dung thực của khái niệm – khách du lịch.
Để nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sở đáng tin cậy, cần tìm hiểu và phân tích
một số định nghĩa về “khách du lịch” được đưa ra từ các hội nghị quốc tế về du lịch
hay của các tổ chức quốc tế quan tâm đến các vấn đề du lịch. Cụ thể:
- Định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới ( UNWTO) về khách du lịch.
+ Khách du lịch quốc tế ( International tourist): là một người lưu trú ít nhất một
đêm nhưng không quá 1 năm tại một quốc gia khác quốc gia thưòng trú. Du khách có
thể đến vì nhiều lý do khác nhau nhưng không có lĩnh lương ở nơi đến ( chữa bệnh,
thăm quan, giải trí công vụ…)
+ Khách du lịch trong nước ( Internal tourist): Là người đang sống trong một
quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác trong quốc gia đó trong thời
gian ít nhất 24 giờ và không qua 1 năm với mục đích du lịch như: Giải trí, kinh
doanh, công tác, hội họp, thăm gia đình…. ( trừ làm việc để lĩnh lương)
5
- Ngày 4 – 3 – 1993 theo đề nghị của Tổ chức Du lịch Thế giới, Hội đồng thống kê
Liên Hiệp Quốc ( United Nations Statisticall Commission) đã công nhận những
thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch:
+ Khách du lịch quốc tế ( Internation tourist) gồm 2 loại:
Inbound tourist: Du lịch nhập cảnh hay du lịch quốc tế chủ động. Loại này gồm
những người từ nước ngoài đến du lịch tại một quốc gia.
Outbound tourist: du lịch quốc tế thụ động hay du lịch xuất cảnh. Loại này là những
khách du lịch từ nước mình đi đến du lịch tại một quốc gia khác. Hiện nay trên thế
giới các nước như Pháp, Mỹ… giữ đầu bảng về thể loại du lịch quốc tế thụ động..

1.1.3.1. Khái niệm về du lịch
Du lịch là hiện tượng kinh tế, xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội
dung của nó không ngừng được mở rộng và ngày một phong phú. Để đưa ra một
định nghĩa cho hiện tượng đó sao cho nó vừa mang tính chất bao quát, vừa mang
tính chất lý luận và thực tiễn, đó là một vấn đề hết sức khó khăn. Có thể nêu ra một
số khó khăn sau:
Khó khăn thứ nhất: do tồn tại các cách tiếp cận khác nhau và dưới các góc độ khác
nhau mà các tác giả có các định nghĩa khác nhau về du lịch. Cụ thể:
Tiếp cận trên góc độ của người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm
thời ở ngoài nơi lưu trú thường xuyên của cá thể, nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác
nhau, với mục đích hòa bình và hữu nghị. Với họ, du lịch như là một cơ hội để tìm
kiếm những kinh nghiệm sống và sự thỏa mãn một số các nhu cầu về vật chất và tinh
thần của họ
Tiếp cận trên góc độ người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các sự
kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn, đáp ứng các nhu cầu của người đi du
lịch. Các doanh nghiệp du lịch coi du lịch như là một cơ hội để bán các sản phẩm mà
họ sản xuất ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách (người đi du lịch), đồng thời
thông qua đó đạt được mục đích số một của mình là tối đa hóa lợi nhuận.
Tiếp cận trên góc độ của chính quyền địa phương: Trên góc độ này, du lịch được
hiểu là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ
thuật để phục vụ du khách. Du lịch là tổng hợp các hoạt động kinh doanh đa dạng,
được tổ chức nhằm giúp đỡ việc hành trình và lưu trú tạm thời của cá thể. Du lịch là
một cơ hội để bán các sản phẩm địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng các nguồn thu
nhập từ các khoản thuế trực tiếp và gián tiếp, đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng
cao mức sống vật chất và tinh tinh thần cho dân địa phương.
Tiếp cận trên góc độ cộng đồng dân cư sở tại: thì du lịch là một hiện tượng kinh tế -
xã hội.
7
Khó khăn thứ hai: là do sự khác nhau về ngôn ngữ và cách hiểu khác nhau về du
lịch ở các nước khác nhau. Bên cạnh vấn đề về ngôn ngữ thì hiện nay tồn tại các

lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú
thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời.
8
Định nghĩa về du lịch của Trường Tổng hợp kinh tế thành phố Varna, Bulgarie: Du
lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội được lặp đi, lặp lại đều đặn – chính là sản
xuất và trao đổi dịch vụ và hàng hóa của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập – đó là
các tổ chức, các xí nghiệp với cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên môn nhằm đảm bảo sự
đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi với mục đích thỏa mãn các nhu cầu cá thể về vật
chất và tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của họ để nghỉ
ngơi, chữa bệnh, giải trí... mà không có mục đích lao động kiếm lời.
Định nghĩa này đã xem xét rất kỹ hiện tượng du lịch như là một phạm trù kinh tế với
đầy đủ tính đặc trưng và vai trò của một bộ máy kinh tế, kỹ thuật điều hành. Song,
nó cũng có nhược điểm là lặp đi lặp lại một số ý.
Trong pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại điều 10, thuật ngữ “Du lịch” được hiểu
như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của
mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời
gian nhất định”.
Bên cạnh những định nghĩa khác nhau về du lịch được đưa ra ở nhiều nước khác
nhau thì để có quan niệm đầy đủ cả về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch,
khoa Du lịch và Khách sạn (Trường ĐHKTQD) Hà Nội cũng đã đưa ra định nghĩa
về du lịch trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động trên thế giới
và ở Việt Nam trong những thập niên gần đây:
“Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du
lịch, sản xuất, trao đổi hàn hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng
các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác
của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội
thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”
1.1.3.2. Phân loại các loại hình du lịch
Việc nghiên cứu, phân loại và xu hướng phát triển của các loại hình du lịch
đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh du lịch. Nó giúp cho doanh

+ Chữa bệnh bằng bùn
+ Chữa bệnh bằng hoa quả
+ Chữa bệnh bằng sữa (đặc biệt bằng sữa ngựa)
- Du lịch nghỉ ngơi, giải trí
Nhu cầu chính làm nảy sinh hình thức du lịch này là sự cần thiết phải nghỉ ngơi để
phục hồi thể lực và tinh thần cho con người. Đây là loại hình du lịch có tác dụng giải
trí, làm cuộc sống thêm đa dạng và giải thoát con người ra khỏi công việc hàng ngày.
- Du lịch thể thao : gồm có 2 dạng
+ Du lịch thể thao chủ động: Khách đi du lịch để tham gia trực tiếp vào hoạt động
thể thao. Du lịch thể thao chủ động bao gồm: du lịch leo núi, du lịch săn bắn, du lịch
câu cá, du lịch tham gia các loại thể thao (đá bóng, bóng rổ, trượt tuyết...)...
10
+ Du lịch thể thao thụ động : những cuộc hành trình đi du lịch để xem các cuộc thi
thể thao quốc tế, các thể vận hội Olimpic...
- Du lịch văn hóa
Mục đích chính là nhằm nâng cao hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực như: lịch sử,
kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong
tục, tập quán của đất nước du lịch. Du lịch văn hóa được phân làm 2 loại:
+ Du lịch văn hóa với mục đích cụ thể: khách du lịch thuộc thể loại này thường đi
với mục đích đã định sẵn. Thường họ là các cán bộ khoa học, sinh viên và các
chuyên gia.
+ Du lịch văn hóa với mục đích tổng hợp: gồm đông đảo những người ham thích mở
mang kiến thức về thế giới và thỏa mãn những tò mò của mình.
- Du lịch công vụ
Mục đích chính của loại hình du lịch này là nhằm thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc
nghề nghiệp nào đó. Với mục đích này, khách đi tham dự các cuộc hội nghị, hội thảo,
kỷ niệm các ngày lễ lớn, các cuộc triển lãm hàng hóa, hội chợ...
- Du lịch thương gia
Mục đích chính của loại hình du lịch này là đi tìm hiểu thị trường, nghiên cứu dự án
đầu tư, ký kết hợp đồng.

- Du lịch dài ngày
g. Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch. Theo tiêu thức này du lịch được phân
thành:
- Du lịch nghỉ núi
- Du lịch nghỉ biển, sông, hồ
- Du lịch thành phố
- Du lịch đồng quê
h. Căn cứ vào hình thức tổ chức đi du lịch. Theo tiêu thức này du lịch được phân
thành:
- Du lịch theo đoàn
Ở loại hình này, các thành viên tham dự đi theo đoàn và thường có chuẩn bị chương
trình từ trước, trong đó đã định ra những nơi sẽ tới thăm, nơi cư trú và ăn uống. Du
lịch theo đoàn có thể được tổ chức theo hai hình thức sau:
+ Du lịch theo đoàn có thông qua tổ chức du lịch
+ Du lich theo đoàn không thông qua tổ chức du lịch
- Du lịch cá nhân, bao gồm:
+ Du lịch cá nhân có thông qua các tổ chức du lịch
+ Du lịch cá nhân không thông qua các tổ chức du lịch
1.1.4. Khái niệm và vai trò của du lịch Nội địa
12
1.1.4.1. Khái niệm Du lịch Nội địa
Du lịch nội địa là các hoạt động tổ chức, phục vụ người bản địa, người nước
ngoài cư trú tại nước mình đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Điểm đến và
điểm đi trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
1.1.4.2. Vai trò của du lịch nội địa
- Về mặt văn hóa – xã hội
Du lịch nội địa là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả về văn hoá
– xã hội. Nó là phương tiện tuyên truyền quảng cáo hữu hiệu cho các thành tựu kinh
tế, chính trị, văn hoá , xã hội, giới thiệu về con người phong tục tập quán ở các vùng
miền, từng địa phương trên đất nước.

kinh doanh trên địa bàn.
Du lịch Nội địa góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo.
Hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành như giao thông, vận tải,
bưu điện…phát triển đối với nền sản xuất xã hội, du lịch mở ra một thị trường tiêu
thụ hàng hoá. Phát triển du lịch nội địa sẽ mở mang, hoàn thiện cơ sở hạ tầng như
mạng lưói giao thông công cộng, mạng lưới điện nước….
1.2. Hoạt động kinh doanh du lịch Nội địa
1.2.1. Kinh doanh du lịch
- Kinh doanh lữ hành ( Tour Operators Business) Là việc thực hiện các hoạt động
nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần
quảng cáo và bán chương trình này trược tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc
văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch.
- Đặc điểm của sản phẩm lữ hành :
Sản phẩm lữ hành có tính chất tổng hợp: Sản phẩm lữ hành là sự kết hợp của
nhiều dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống… của các
nhà sản xuất riêng lẻ thành một sản phẩm mới hoàn chỉnh. Sản phẩm du lịch là các
chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, khách hàng phải trả tiền trọn gói cho
dịch vụ trong chương trình du lịch trước khi đi du lịch.
Sản phẩm lữ hành không đồng nhất giữa các lần cung ứng do chất lượng dịch
vụ cấu thành phụ thuộc vào tâm lý trạng thái tình cảm của người phục vụ lẫn người
cảm nhận, các yếu tố lại thay đổi và chịu tác động của nhiều nhân tố trong những thời
điểm khác nhau.
Sản phẩm du lịch bao gồm các hoạt động diễn ra trong cả một quá trình từ khi
đón khách theo yêu cầu cho đến khi khách trở lại điểm xuất phát gồm : Những hoạt
động đảm bảo nhu cầu của chuyến đi, nhu cầu giải trí, tham quan. Những hoạt động
đảm bảo nhu cầu thiết yếu của khách như đi lại, ăn , ở.
14
Không giống như các ngành sản xuất vật chất khác, sản phẩm lữ hành không
bảo quản, lưu kho cất giữ, lưu bãi được và giá của sản phẩm lữ hành có tính linh
động cao.

dẫn du lịch và dịch vụ trung gian khác. Doanh thu trong doanh nghiệp phản ánh mức
15
độ phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp qua các thời kỳ kinh doanh. Nó
là một trong các chỉ tiêu kết quả kinh doanh mà mọi doanh nghiệp quan tâm và đựơc
xây dựng trên các báo cáo kế toán, thống kê doanh thu từ kinh doanh các chương
trình du lịch trọn gói chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của các doanh nghiệp kinh
doanh lữ hành nội địa nói riêng và các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nói chung.
Nó phụ thuộc vào số ngày khách và chi tiêu của khách, Doanh thu kinh doanh lữ
hành còn là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả quá trình kinh doanh lữ hành của
doanh nghiệp, là chỉ tiêu kinh tế phản ánh giá trị sản phẩm doanh nghiệp lữ hành mà
doanh nghiệp đã thực thu trong một thời kỳ nào đó.
Tốc độ tăng doanh thu không chỉ biểu hiện lượng tiền mà doanh nghiệp thu
được tăng lên mà còn đồng nghĩa với việc tăng lượng sản phẩm dịch vụ lữ hành tiêu
thụ trên thị trưòng, tăng lượng khách cũng như chi tiêu của họ cho doanh nghiệp. Từ
đó giúp doanh nghiệp trang trải các khoản hao phí, mở rộng thị phần kinh doanh, có
điều kiện bảo toàn vốn để phát triển kinh doanh lữ hành nội địa.
5) Lợi nhuận kinh doanh lữ hành và tốc độ tăng trưởng lợi nhuận: Lợi nhuận
kinh doanh lữ hành Nội địa: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp Lữ hành Nội địa, đánh giá trình độ phát triển hoạt động
kinh doanh lữ hành của doanh nghiệp. Lợi nhuận trong kinh doanh lữ hành được cấu
thành từ lợi nhuận kinh doanh các chương trình du lịch và các dịch vụ đại lý, dịch vụ
du lịch khác. Mức tăng trưỏng lợi nhụân kinh doanh lữ hành sẽ thể hiện mức độ phát
triển hoạt động kinh doanh lữ hành của doanh nghiệp qua các thời kỳ nhất định.

16
Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH NỘI ĐỊA Ở CÔNG
TY LỮ HÀNH HANOITOURIST
2.1. Giới thiệu chung về công ty lữ hành Hanoitourist
Công ty lữ hành Hanoitourist là một doanh nghiệp nhà nước được thành lập

đã có những thay đổi trong hoạt động kinh doanh. Công ty đã có những nhấn mạnh
trở nên lớn mạnh công tác tuyên truyền, quảng cáo nhằm thu hút du khách, mở rộng
thị trường trong và ngoài nước, đã đạt được những kết quả rất khả quan. Năm 1993
Công ty đã đón đựoc 87.000 lượt khách, trong đó 44.000 lượt khách quốc tế, 43.000
lượt khách nội địa.
Công ty chú trọng đến việc đầu tư, cải tạo cơ sở vật chất, công ty đã nâng cấp
cửa hàng Bờ Hồ thành khách sạn Metropole, trên cơ sở cải tạo và nâng cấp khách sạn
Thống Nhất thành khách sạn 5 sao, đã đi vào hoạt động từ năm 1990. Năm 2001,
doanh thu của khách sạn đạt 125.900 triệu đồng, nộp cho ngân sách nhà nước 13.950
triệu đồng.
Cho đến năm 1993, công ty đã là thành viên chính thức của Hiệp hội Du lịch
Nhật Bản ( JATA), hiệp hội du lịch Hoa Kì (ASTA), hiệp hội du lịch các nước châu á
( PATA), đặt quuan hệ với 55 hãng lữ hành tại 20 quốc gia trên thế giới.
- Từ những năm 1994 đến nay:
Trong thời gian này công ty Du lịch Hà Nội đã gặp phải những khó khăn.
Ngày càng nhiều các doanh nghiệp du lịch ra đời. Năm 1997 cuộc khủng hoảng tài
chính ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đã ảnh hưởng đến ngành Du lịch Việt
Nam nói chung và Du lịch Hà Nội nói riêng. Nhưng công ty Du lịch Hà Nội đã có
những giải pháp kinh doanh nhằm khắc phục và đã đạt được kết quả cao trong giai
đoạn 1997 – 2001. Tổng doanh thu năm 1997 là 28,40 tỷ đồng, năm 2000 là 160 tỷ,
năm 2001 là 206,7 tỷ đồng.
Năm 1998 Công ty Du lịch Hà Nội thành lập Trung tâm du lịch Hà Nội
chuyên kinh doanh lữ hành. Năm 2004 UBND thành phố Hà Nội quyết định thành
lập Tổng công ty Du lịch Hà Nội dựa trên cơ sở của Công ty du lịch Hà Nội cũ và sắp
xếp 1 số doanh nghiệp sát nhập vào. Năm 2005 Trung tâm du lịch Hà Nội được
chuyển đổi thành Công ty Lữ hành Hanoitourist chuyên kinh doanh lữ hành quốc tế
và nội địa, đại lý vé máy bay, vận chuyển du lịch xứng tầm với doanh nghiệp của thủ
đô.
Trong vòng 40 năm xây dựng và trưởng thành Công ty Du lịch Hà Nội đã có
14 đơn vị trực thuộc, trong đó có các khách sạn từ 2 sao đến 5 sao, thành lập trung

động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước.
Sơ đồ số 1. Bộ máy quản lý tại Công ty Lữ hành Hanoitourist
19
Tổng Công Ty Du Lịch Hà Nội
Công ty Lữ Hành Hanoitourist
Bam Giám Đốc
Phòng TT
1
Phòng
TTQT
Phòng
DLNN
Phòng
DLNĐ
Phòng
NC TT
Phòng
TCKT
Phòng
TC HC

(Nguồn: Phòng tổ chức – Hành chính Công ty Du Lịch Hanoitourist)
- Bộ máy tổ chức Công ty Lữ hành Hanoitourist .
Ban lãnh đạo: Giám đốc Công ty và Phó giám đốc
Giám đốc Công ty: chịu trách nhiệm về mọi lĩnh vực của công ty. Phụ trách
đối ngoại và ủy quyền cho các phó giám đốc khi cần thiết, là người phát ngôn chính
của công ty và điều hành trực tiếp các phó giám đốc làm việc.
Phó giám đốc Công ty: chịu trách nhiệm trước giám đốc về lĩnh vực mình phụ
trách, thay mặt giám đốc đàm phán với các đối tác. Ngoài ra còn có trách nhiệm cùng
với giám đốc sắp xếp bảo vệ nguồn nhân sự, tài chính sao cho phù hợp để hoạt động

Nguồn : Phòng Hành chính Công ty Hanoitourist
Bảng trên cho thấy, số lượng nhân viên của Hanoitourist giảm dần theo các
năm. Đặc biệt, trong năm 2008 khi tình hình kinh tế thế giới khủng hoảng thì nguồn
nhân lực của công ty cũng giảm một cách đáng kể. Xong năm 2009 với những dấu
hiệu hồi phục tích cực của nền kinh tế thì số lượng nhân viên của công ty lại tăng dần
lên phục vụ cho việc phát triển các hoạt động du lịch. Dưới đây là bảng thống kê số
lượng nhân viên chi tiết tại các phòng, ban của Công ty Lữ hành Hanoitourist trong
thời điểm hiện nay.
21
Bảng số 2. Nguồn nhân lực các phòng của Hanoitourist.
Phòng điều
hành HD In
và Domes
Nội địa Outbound Inbound Kế toán
Hành
chính
Marketing
15 12 22 8 7 6 2
Nguồn : Phòng tổ chức HC - Công ty Hanoitourist
Theo thống kê từ bảng trên chỉ có 67 người làm việc tại Công ty Lữ hành Hà
Nội (địa chỉ 3B Hai Bà Trưng), còn lại 20 người khác làm tại các văn phòng chi
nhánh của công ty cũng tại Hà Nội như: số 6 Lê Thánh Tông, 32A Hàng Vôi.
Hanoitourist với thế mạnh là loại hình du lịch Outbound vì vậy đội ngũ nhân
viên cũng chiếm số lượng lớn nhất về nguồn nhân lực so với các phòng ban khác.
Trung bình tỉ lệ nhân viên phòng Outbound luôn chiếm 1/4 tổng số lượng nhân viên
tại Hanoitourist. Nhân viên phòng Outbound được chia ra làm 3 nhóm: điều hành,
bán tour và hướng dẫn viên.
2.1.5. Cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty Lữ hành Hanoitourist
Hiện nay công ty lữ hành Hanoitourist đã có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ
thuật khá đầy đủ. Trụ sở chính của Công ty đặt tại 18 Lý Thường Kiệt và 30A Lý

Cụ thể: Khách Outbound tăng 235 người, tương ứng tăng 5,613% so với năm
2008. Khách Inbound tăng 18 người, tương ứng tăng 0,25345% so với năm 2008.
Khách nội địa tăng 2801 người, tương ứng tăng 29,54953% so với năm 2008.
Năm 2009, Số lượng khách du lịch có sự dịch chuyển về cơ cấu tương đối lớn
so với năm 2008. Tổng số khách Inbound, Outbound và nội địa đều tăng . Đặc biệt là
nguồn khách nội địa tăng mạnh hơn so với các năm trước nguyên nhân là do có sự
chỉ đạo của Tổng cục du lịch về kích cầu du lịch Nội địa kết hợp với hãng hàng
không, dịch bệnh tại 1 số nước. Như vậy, nguồn khách nội địa rất tiềm năng về cả số
lượng và chất lượng do mức thu nhập của người dân ngày càng cao ,cùng với chính
sách Marketing của công ty đã định hướng đúng đắn và công tác thực hiện triệt để.
2.2.2. Tổng doanh thu từ hoạt động kinh doanh du lịch.
Trong những năm gần đây trên thế giới có rất nhiều biến động gây ảnh hưởng
trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngành Du lịch nói chung và của Công ty lữ
hành Hanoitourist nói riêng. Năm 2008 do cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh
hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Dưới đây là các
nguồn doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh du lịch của Công ty Du lịch
Hà Nội. Xong năm 2009 với những biện pháp kích cầu du lịch của Tổng cục du lịch
thì hoạt động kinh doanh du lịch của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành đã dần
khởi sắc và có những chyển biến tích cực.
23
Bảng số 4: Doanh thu và lợi nhuận Outbound qua các năm
(Đơn vị tính: tỷ đồng)
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Tổng số
tiền
(Tỷ
đồng)

Năm 2009
Tổng số
tiền
(Tỷ
đồng)
Inbound
Tổng
số tiền
(Tỷ
đồng)
Inbound
Tổng số
tiền
(Tỷ
đồng)
Inbound
Tổng
số tiền
(Tỷ
đồng)
Inbound
Doanh thu 72 23 86 17 83,18 18 84.4 14,8
24
Lợi nhuận 0,95 0,098 1,156 0,065 0,767 0,058 0,82 0,068
Tỉ lệ
LN/DT
1,32%
0,426
%
1,34%

sụt giảm, chỉ đạt 83,18 tỷ đồng (giảm 3,27% so với năm 2007); khủng hoảng đã làm
chi phí tăng lên chóng mặt vì thế lợi nhuận thu được chỉ còn 767 triệu đồng (giảm
33,65% so với năm 2007).
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status