TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ
THANH TOÁN NỘI ĐỊA TẠI
NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG CẦN THƠ Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TRẦN QUỐC DŨNG NGUYỄN NHƯ QUỲNH
MSSV: 4031083
Lớp: Kế toán khóa 29
Cần Thơ - 2007
Ngoại Thương Cần Thơ” để làm luận văn tốt nghiệp. 1.1.2. Căn cứ khoa học và thực tiễn:
Khi nền kinh tế Việt Nam mở cửa hội nhập và phát triển thì cũng là lúc hệ
thống ngân hàng ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Hàng loạt các ngân hàng, chi
nhánh, phòng giao dịch được thành lập trong những năm gần đây. Chính điều đó
đã dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trên cả nước nói chung và
các ngân hàng trên địa bàn thành phố Cần Thơ nói riêng để tồn tại và phát triển.
Các ngân hàng ngày càng muốn cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích nhằm phục vụ
nhu cầu cho khách hàng và cũng là để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.
Dịch vụ thanh toán thẻ là một trong những dịch vụ đã được các ngân hàng
thương mại triển khai thực hiện trong những năm gần đây nhằm đạt được các
mục đích trên.
1.2.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.
1.2.1. Mục tiêu chung:
Đánh giá tình hình kinh doanh dịch vụ thẻ thanh toán nội địa tại các Ngân
hàng thương mại nói chung trong nền kinh tế hiện nay trong đó có Ngân hàng
Ngoại thương Cần Thơ. Thông qua phân tích đánh giá để đưa ra giải pháp nhằm
phát triển loại hình kinh doanh này trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể:
Đề tài nghiên cứu nhằm phân tích tình hình kinh doanh dịch vụ thẻ thanh
toán nội địa tại Ngân hàng Ngoại thương Cần Thơ trong giai đoạn 3 năm (2004-
2006). Từ đó tìm ra những thuận lợi, khó khăn còn vướng mắc từ dịch vụ kinh
doanh thẻ thanh toán nội địa nhằm đề ra những giải pháp cụ thể để ngày càng
hoàn thiện và nâng cao dịch vụ kinh doanh thẻ thanh toán nội địa.
1.3.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
1.3.1. Không gian nghiên cứu:
điểm hiện tại số thẻ ước khoảng 1.300.000 thẻ. Không chỉ chú trọng phát triển
thẻ Connect 24 mà đối với thẻ tín dụng quốc tế, Vietcombank cũng có những
chiến lược riêng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Tài liệu 2: Trên tạp chí Thị trường Tiền tệ số 1 + 2 năm 2006 có bài viết:
“Góp phần phát triển bền vững thị trường thẻ” với nội dung:
Tuy chỉ mới xuất hiện trong một thời gian ngắn nhưng lĩnh vực thẻ thanh
toán đang có những bước đột phá trong sự tăng trưởng đáng kể với lượng thẻ
phát hành lên đến 2,1 triệu thẻ. Các sản phẩm thẻ ngày càng đa dạng và phong
phú hơn làm tăng tính cạnh tranh giữa các ngân hàng. Ví dụ như thẻ tín dụng với
tính năng hấp dẫn là: chi tiêu trước, trả tiền sau; thẻ ghi nợ để rút tiền mặt, thanh
toán tiền hàng hóa dịch vụ, hay chuyển tiền.
Thực tế là người dân đang từng bước quen dần với hình thức thanh toán
thẻ. Điều này dẫn đến sự hợp tác giữa các ngân hàng thương mại trong lĩnh vực
thẻ bên cạnh sự cạnh tranh gay gắt của họ trên thị trường. Tuy nhiên, do những
điều kiện khách quan nên vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc trong hoạt
động thẻ của ngân hàng trong thời gian qua do đó cần tăng cường quan hệ với
các tổ chức thẻ quốc tế và các ngân hàng phát hành thẻ thanh toán để trao đổi
kinh nghiệm và phối hợp nhằm phát triển thị trường thẻ ở Việt Nam.
Tài liệu 3: Tạp chí ngân hàng số 13 (tháng 07 năm 2006) có bài viết
“Thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam” với nội dung: Trong lúc ở những
nước phát triển việc thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) đã trở nên phổ
biến và thông dụng với những tiện ích rất lớn thì ở Việt Nam việc TTKDTM vẫn
còn triển khai và ứng dụng rất chậm. Dù đã nhận thấy được những thuận lợi mà
việc TTKDTM mang lại nhưng việc áp dụng vào Việt Nam hầu như vẫn còn là
một vấn đề quá khó. Nguyên nhân chính là ở chỗ chúng ta chưa có một hệ thống
tài chính ngân hàng hiện đại, hoạt động dựa trên các nguyên tắc thị trường theo
đúng nghĩa. Sự đóng cửa nền kinh tế cũng gây ra không ít những khó khăn trong
sự khởi đầu. Một số nguyên nhân khác như thu nhập của người dân không cao,
các thiết bị máy móc thì lạc hậu, trình độ chuyên môn của cán bộ ngân hàng còn
chuyển, giúp Nhà nước điều tiết tốt các chính sách tiền tệ.
+ Giảm bớt hiện tượng “rửa tiền” nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ.
+ Thúc đẩy nhanh quá trình vận động của vật tư, tiền vốn trong nền kinh
tế quốc dân, dẫn đến giảm chi phí sản xuất và lưu thông hàng hóa, tăng lợi nhuận
cho quá trình sản xuất.
+ Áp dụng công nghệ hiện đại, tạo điều kiện cho quá trình hội nhập kinh
tế thế giới [2, tr.24,25].
c. Mô tả về mặt kỹ thuật.
Mặt trước của thẻ:
- Các huy hiệu của tổ chức phát hành thẻ, tên thẻ.
- Biểu tượng của thẻ: đây là những biểu tượng rất khó giả mạo do vậy nó
được xem như yếu tố an ninh chống giả mạo.
- Số thẻ: là số dành riêng cho mỗi chủ thẻ được dập nổi lên trên thẻ.
- Ngày hiệu lực của thẻ (valid date): là thời hạn mà thẻ được lưu hành.
- Họ và tên của chủ thẻ: in bằng chữ nổi.
Mặt sau của thẻ:
- Dãy băng từ có khả năng lưu trữ những thông tin.
- Băng chữ ký [3, tr.13-16].
2.1.1.2. Phân loại.
a. Theo công nghệ sản xuất:
- Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): trên bề mặt thẻ được khắc nổi các
thông tin cần thiết. Hiện nay nó không còn được sử dụng nữa vì kỹ thuật sản xuất
quá thô sơ dễ bị lợi dụng làm giả.
- Thẻ băng từ (Magnetic stripe): thẻ này được sử dụng phổ biến trong
vòng 20 năm nay nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm:
+ Khả năng bị lợi dụng cao, người ta có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị
đọc gắn với máy vi tính.
+ Thẻ từ chỉ mang thông tin cố định.
- Thẻ thông minh (Smart Card): là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán dựa
nhận thanh toán thẻ như: cửa hàng, nhà hàng, khách sạn...
b. Ngân hàng đại lý hay ngân hàng thanh toán (Acquirer): là ngân hàng
trực tiếp kí hợp đồng với cơ sở tiếp nhận và thanh toán các chứng từ giao dịch do
cơ sở chấp nhận thẻ xuất trình.
c. Ngân hàng phát hành thẻ (Issuer): là thành viên chính thức của các tổ
chức thẻ quốc tế, là ngân hàng chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý
và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản, đồng thời thực hiện việc thanh toán
cuối cùng với chủ thẻ.
d. Chủ thẻ (Cardholder): là người có tên ghi trên thẻ dùng thẻ để chi trả,
thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ thay tiền mặt. Chỉ có chủ thẻ mới có thể sử
dụng thẻ của mình, một chủ thẻ có thể sở hữu một hoặc nhiều thẻ.
e. Danh sách Bulletin: Danh sách Bullentin hay còn gọi là danh sách báo
động khẩn cấp, là danh sách liệt kê những số thẻ không được thanh toán. Đó là
những thẻ tiêu dùng quá hạn mức, thẻ giả mạo đang lưu hành, thẻ bị lộ số PIN,
thẻ bị mất cấp, thất lạc, thẻ bị loại bỏ…
f. Thương vụ: Thương vụ được hiểu là vụ thanh toán tiền hàng hóa, dịch
vụ, trả nợ bằng thẻ hoặc các dịch vụ rút tiền mặt tại quầy hoặc qua máy ATM do
chủ thẻ thực hiện.
g. Hạn mức tín dụng (Credit limit): hạn mức tín dụng là tổng số tín dụng
tối đa mà ngân hàng phát hành cấp cho chủ thẻ sử dụng đối với từng loại thẻ.
h. Tài khoản thẻ (Card account): là tài khoản được mở riêng cho việc sử
dụng và thanh toán thẻ của chủ thẻ.
i. Số PIN (Personnal Identificate Number): là mã số cá nhân của riêng chủ
thẻ [3, tr.33-36].
2.1.2.2. Các bên có liên quan.
a. Ngân hàng phát hành.
Ngân hàng phát hành có trách nhiệm:
- Xem xét việc phát hành thẻ cho chủ thẻ, hướng dẫn chủ thẻ cách sử dụng
và các qui định cần thiết khi sử dụng thẻ.
- Thường xuyên trưng bày các biểu tượng của thẻ mà cơ sở chấp nhận
thanh toán [3, tr.36-39].
2.1.2.3. Các thiết bị có liên quan.
Thanh toán bằng thẻ là một hình thức thanh toán hiện đại, sử dụng chủ
yếu bằng máy móc. Các máy móc này đòi hỏi phải thiết kế với kỹ thuật tinh vi
mới thực sự đảm bảo an toàn nhưng đồng thời cũng phải đơn giản và nhanh gọn.
Các thiết bị hỗ trợ có rất nhiều nhưng hiện nay chủ yếu có các loại sau:
a. Máy chà hóa đơn (Imprinter): máy chà hóa đơn là thiết bị dùng để in lại
những thông tin cần thiết trên thẻ lên hóa đơn như: số thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu
lực của thẻ… từ đó hóa đơn được xem như bằng chứng về việc tiêu dùng của chủ
thẻ. Máy được cấu tạo gọn nhẹ, đơn giản, kích thước khoảng 30cm x 20cm x 40cm.
b. Máy cấp phép tự động (Veriphone, point of sale terminal – P.O.S
terminal): Máy cấp phép tự động được trang bị cho các cơ sở tiếp nhận thẻ để
trực tiếp xin cấp phép từ các trung tâm cấp phép của các loại thẻ khác nhau trên
thế giới. Nó giúp cho các thương vụ được thực hiện trong suốt 24 giờ ngay cả khi
ngân hàng đóng cửa.
Máy có bộ phận đọc giải băng từ trên thẻ giúp việc kiểm tra tính chất thật
giả trên thẻ. Trên máy có màn hình nhỏ hiển thị các thông tin vừa đọc và có bàn
phím để nhập số tiền xin cấp phép.
c. Máy rút tiền tự động ATM.
ATM là thành quả của ngân hàng được ứng dụng vào cuối thập niên 60 và
rất được khách hàng tán thành. Trước đây, khi muốn rút tiền người ta phải đến
ngân hàng trước giờ đóng cửa nhưng hiện nay không nhất thiết phải như vậy vì
máy ATM làm việc suốt 24 giờ trong ngày và được lắp đặt ở nhiều nơi công
cộng. Thông qua máy ATM, khách hàng có thể rút tiền mặt, chi trả các khoản
vay, kiểm tra số dư tài khoản của mình tại ngân hàng.
Máy ATM có một số bộ phận cơ bản: màn hình, bàn phím để nhập số PIN
và số tiền cần rút, khe để đút thẻ vào máy và khe để nhận tiền do máy đưa ra.
Hình 1: QUI TRÌNH PHÁT HÀNH VÀ SỬ DỤNG THẺ THANH TOÁN
(1) Khách hàng gửi hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ ATM đến ngân hàng.
(2) Ngân hàng phát hành tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, kiểm tra, xét
duyệt, tạo hồ sơ khách hàng và gửi yêu cầu phát hành đến trung tâm thẻ.
(3a) Trung tâm phát hành thẻ nhận hồ sơ phát hành thẻ từ ngân hàng phát
hành, tiến hành kiểm tra đối chiếu thông tin và in thẻ. Sau đó, trung tâm thẻ gửi
thẻ và số PIN cho ngân hàng phát hành.
(3b) Trung tâm thẻ có thể giao thẻ trực tiếp cho khách hàng theo yêu cầu
của ngân hàng phát hành.
(4) Ngân hàng phát hành nhận thẻ và số PIN từ trung tâm thẻ và giao thẻ
cho khách hàng.
(5) Khách hàng đến máy rút tiền tự động để thực hiện giao dịch .
2.2.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.2.1. Phương pháp chọn vùng nghiên cứu.
Thành phố Cần Thơ là trung tâm kinh tế trọng điểm của vùng Đồng bằng
Sông Cửu Long – nơi có nhiều công ty, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước
đang hoạt động. Đồng thời, Vietcombank Cần Thơ là chi nhánh lớn của
Vietcombank cũng có trụ sở tại Thành phố Cần Thơ. Cho nên, đây là nơi thường
xuyên có khách hàng sử dụng thẻ đến giao dịch do đó rất thuận lợi cho việc thu
thập ý kiến đóng góp của khách hàng đang sử dụng thẻ mang thương hiệu
Vietcombank. Vì vậy, đề tài chọn thành phố Cần Thơ là vùng nghiên cứu.
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu.
2.2.2.1. Số liệu sơ cấp: được lấy thông qua phỏng vấn trực tiếp khách hàng
CHƯƠNG 3
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KINH DOANH THẺ NỘI ĐỊA TẠI
VIETCOMBANK CẦN THƠ
3.1. GIỚI THIỆU NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG CẦN THƠ.
3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ gọi tắt là Ngân
hàng Ngoại thương Cần Thơ có tiền thân ban đầu là phòng ngoại hối trực thuộc
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam mà trụ sở ban đầu có cùng địa chỉ với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam tại số 02 Ngô Gia Tự Thành phố Cần Thơ.
Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Cần Thơ được thành lập theo quyết
định số 16/NH.QĐ do Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kí ngày
25/01/1989.
Ngày 01/10/1989, Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Cần Thơ chính
thức được thành lập từ phòng ngoại hối Ngân hàng Nhà nước tỉnh Hậu Giang cũ
(nay là Thành phố Cần Thơ), chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước
Chi nhánh Cần Thơ và Hội sở chính Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
- Thực hiện nghiệp vụ thuê mua tài chính.
3.1.3. Tình hình nhân sự và cơ cấu tổ chức:
3.1.3.1. Tình hình nhân sự:
Tình hình nhân sự ban đầu khi mới thành lập chỉ có 18 người với 5 phòng
nghiệp vụ: Phòng kế hoạch và tín dụng, phòng thanh toán quốc tế, phòng kế toán
tài vụ, phòng ngân quỹ và phòng hành chính nhân sự.
Sau hơn 15 năm phấn đấu, hiện nay nhân sự của Chi nhánh là 217 người
trong đó có 126 nữ.
- Trình độ trên đại học: 4 người.
- Trình độ đại học: 160 người.
- Trình độ trung cấp: 15 người.
- Khác: 38 người.
Tình hình nhân sự được phân theo địa điểm làm việc như sau: - Tại hội sở chính: 130 người.
- Tại chi nhánh cấp 2 Trà Nóc: 24 người.
- Tại chi nhánh cấp 2 Bạc Liêu: 18 người.
- Tại chi nhánh cấp 2 Sóc Trăng: 35 người.
- Phòng giao dịch Ninh Kiều: 10 người.
3.1.3.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức:
Vietcombank Cần Thơ đã có nhiều đổi mới trong cơ cấu tổ chức nhằm
thực hiện mô hình tổ chức mới trong hoạt động tín dụng và công tác đối ngoại
theo kế hoạch của Vietcombank Trung Ương. Cơ cấu bộ máy mới gồm: 1 Giám
đốc, 4 Phó Giám đốc và 9 phòng ban thay vì 10 phòng ban như trước đây, trong
đó phòng tín dụng được chia ra làm 3 tổ: phòng kế toán, phòng vi tính, phòng
vốn, phòng kiểm tra nội bộ, phòng thanh toán quốc tế, phòng hành chính nhân
sự, phòng kinh doanh dịch vụ, phòng ngân quỹ và phòng giao dịch.
a. Sơ đồ bộ máy tổ chức của Vietcombank Cần Thơ (xem hình 2 trang 17):
b. Chức năng, nhiệm vụ của các tổ, phòng ban, chi nhánh:
Phòng vi
tính
Phó Giám
Đốc
Phòng Kế
Toán
Thanh
toán quốc
tế
Chi nhánh
Sóc Trăng
Phó Giám
Đốc
Chi nhánh
Bạc Liêu
Phòng
Vốn
Phòng
giao dịch
Phó Giám
Đốc
Giám Đốc
Tổ quản
lý nợ
Tổ quan hệ
khách hàng
Tổ thẩm
định
Hình 2: SƠ ĐỒ CƠ CẤU BỘ MÁY TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CỦA VIETCOMBANK
CẦN THƠ NĂM 2006
với các đơn vị nước ngoài.
- Phát hành và thực hiện các nghiệp vụ có liên quan đến thư tín dụng.
- Thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài, mở L/C, bảo lãnh,… theo yêu cầu
của khách hàng một cách nhanh chóng, bảo mật và tiết kiệm phần lớn chi phí.
- Thực hiện phương thức nhờ thu, ủy nhiệm chi.
Phòng vi tính: thực hiện quản lý toàn bộ hệ thống vi tính của ngân hàng,
đảm bảo cho họat động của ngân hàng được thực hiện một cách thông suốt thông
qua hệ thống mạng vi tính.
Phòng giao dịch: khai trương ngày 29/03/2004 đặt tại số 170A1, Trung
tâm Thương mại Cái Khế, quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ. Phòng giao
dịch Ninh Kiều ra đời nhằm tạo điều kiện cho các tiểu thương, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ trên địa bàn quận thuận lợi hơn trong việc vay vốn, tiếp cận các sản
phẩm ngân hàng hiện đại và các dịch vụ tiện ích. Đồng thời, cũng nhằm vào
chiến lược chuyên môn hóa, đa dạng hóa đối tượng khách hàng, nâng cao hiệu
quả huy động vốn, tập trung vốn cho mục tiêu phát triển doanh nghiệp trên địa
bàn của Ngân hàng Ngoại Thương Cần Thơ.
Chi nhánh cấp 2 Sóc Trăng: trước đây là phòng giao dịch Sóc Trăng, thực
hiện mọi nghiệp vụ, dịch vụ giống như Ngân hàng Ngoại thương Cần Thơ.
Chi nhánh cấp 2 Bạc Liêu: được thành lập vào ngày 16/05/2003 nhằm góp
phần mở rộng mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương, nâng cao khả
năng giao dịch trực tiếp với khách hàng.
Chi nhánh cấp 2 Trà Nóc: được thành lập nhằm thu hút một lượng các
doanh nghiệp lớn đang hoạt động tại khu công nghiệp Trà Nóc, giúp các doanh
nghiệp tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí trong việc thanh toán nguyên
vật liệu sản xuất cho nhà cung cấp. 3.1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh.
Trải qua hơn 17 năm hoạt động, tuy tuổi đời còn quá non trẻ so với quá
IV. Kết quả kinh doanh
Thu nhập tỷ đồng 200 229 273 14,5 19,2
Chi phí tỷ đồng 143 195 241 36,4 23,6
Lợi nhuận tỷ đồng 57 34 32 -40,4 -5,9
(Nguồn: Phòng vốn, phòng kinh doanh dịch vụ, phòng kế toán Vietcombank Cần Thơ)
3.1.4.1. Tình hình nguồn vốn:
Nguồn vốn của ngân hàng là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập
và huy động được để đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. Vốn không những giúp cho ngân hàng tổ chức
được mọi hoạt động kinh doanh, mà nó còn góp phần quan trọng trong việc đầu
tư phát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng cũng như sự
phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung. Thấu hiểu được điều đó,
Vietcombank Cần Thơ đã cố gắng đa dạng hóa các loại hình huy động vốn: tiền
gửi vào tài khoản, tiền gửi tiết kiệm, phát hành kì phiếu, trái phiếu… với lãi suất
hấp dẫn, kì hạn đa dạng… nhằm thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi từ các tổ chức
kinh tế cũng như mọi tầng lớp dân cư.
Nhờ những chính sách ưu đãi cho khách hàng, Vietcombank Cần Thơ đã
huy động được một lượng vốn khá cao. Năm 2005, lượng vốn huy động đạt 950
tỷ đồng tăng 22,7% tức tăng 176 tỷ đồng so với năm 2004 chỉ huy động được
774 tỷ đồng. Đạt được điều đó là nhờ ngân hàng đã có những chính sách khách
hàng hợp lý, tạo tâm lý an tâm thoải mái cho khách hàng khi đến gửi tiền. Năm
2006, do tình hình lạm phát trong nước tăng cao, biến động thất thường của tình
hình thế giới về giá vàng… làm cho xu hướng gửi tiền của người dân giảm
xuống nên ngân hàng chỉ huy động được 790 tỷ đồng, giảm 16,8% so với cùng kì
năm trước nhưng vẫn còn cao hơn năm 2004.
3.1.4.2. Tình hình kinh doanh ngoại tệ:
Kinh doanh ngoại tệ là lĩnh vực mạnh nhất của Ngân hàng Ngoại thương
Cần Thơ với đội ngũ cán bộ kinh doanh lành nghề, được đào tạo chuyên sâu. Tuy
Số lượng thẻ tăng liên tục qua các năm dẫn đến doanh số thanh toán của
thẻ cũng tăng theo qua các năm. Năm 2004, doanh số thanh toán là 317.987 triệu
đồng trong đó thì doanh số thanh toán của thẻ tín dụng quốc tế chỉ chiếm một
lượng rất nhỏ trong tổng doanh số thanh toán, chỉ khoảng 1% (2.940 triệu đồng).
Điều này là phù hợp vì số lượng thẻ tín dụng quốc tế phát hành cũng rất ít chỉ
chiếm gần 0,5% so với tổng số lượng thẻ được phát hành. Năm 2005, doanh số
thanh toán là 558.515 đồng tăng 75,6% so với năm 2004. Năm 2006, doanh số
thanh toán cao nhất trong 3 năm đạt con số 907.650 triệu đồng. Sở dĩ doanh số
thanh toán tăng đều qua các năm là nhờ Vietcombank không ngừng tăng chất
lượng dịch vụ cũng như số lượng máy ATM hay đơn vị chấp nhận thẻ. Hiện nay
số lượng máy ATM của Vietcombank trên địa bàn Cần Thơ là 19 máy (xem phụ
lục 3) và có 19 công ty, nhà hàng, khách sạn… (xem phụ lục 4) chấp nhận thanh
toán thẻ do Vietcombank phát hành.
3.1.4.4. Tình hình kết quả kinh doanh:
Nhờ sự phấn đấu hết mình của Ban lãnh đạo, tập thể, cán bộ công nhân
viên ngân hàng mà kết quả thu nhập của ngân hàng không ngừng tăng lên qua
các năm. Thu nhập của Vietcombank Cần Thơ bao gồm các khoản thu nhập từ
cho vay, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán xuất nhập khẩu, kinh doanh
dịch vụ…Năm 2004, lợi nhuận của Vietcombank là 57 tỷ đồng với tổng thu nhập
là 200 tỷ đồng, chi phí là 143 tỷ đồng bao gồm các khoản chi về lương nhân viên,
chi trả lãi vay, chi nộp thuế, chi đầu tư xây dựng cùng các khoản chi khác. Năm
2005, thu nhập của ngân hàng tiếp tục tăng đạt 229 tỷ đồng tăng 14,5% so với
năm 2004 nhưng do ngân hàng đầu tư nhiều vào sửa chữa cơ sở hạ tầng, nâng
cao hệ thống máy tính làm cho chi phí của ngân hàng cũng tăng lên đến 195 tỷ
đồng. Vì vậy, lợi nhuận của ngân hàng giảm hơn 40% so với năm trước chỉ còn
34 tỷ đồng. Trong năm 2006, thu nhập của ngân hàng tăng 19,2% so với cùng kì
năm trước, và tốc độ tăng thu nhập năm 2006 cũng tăng hơn so với tốc độ tăng
thu nhập năm 2005. Song song, với việc tăng thu nhập thì chi phí của ngân hàng
cũng tăng đáng kể, chi phí lên đến 241 tỷ đồng do ngân hàng mở rộng thêm chi
ngân hàng hoạt động nên việc cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt
hơn. Do đó, Vietcombank Cần Thơ cần phải tiếp tục phấn đấu nhiều hơn nữa và
tìm ra những chiến lược phù hợp để luôn là một trong những ngân hàng hàng đầu
của Cần Thơ nói chung và của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng.
- Ngân hàng vẫn còn tồn tại những khoản nợ khó đòi chưa được giải quyết
dứt điểm đã và đang thực sự là những áp lực lớn trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
- Tình hình huy động vốn trung và dài hạn ngày càng khan hiếm.
- Hiện nay tình hình thị trường biến động rất phức tạp: giá vàng tăng đột
biến, giá xăng dầu thường xuyên biến động, lạm phát tăng cao,… Do đó, người
dân có nhu cầu dự trữ vàng và ngoại tệ hơn là giữ đồng Việt Nam nên càng gây
khó khăn cho ngân hàng trong việc huy động vốn.