ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐH KINH TẾ
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài: “Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) và những
biện pháp của FED trong cuộc khủng hoảng tài chính tại
MỸ năm 2007 ”
N05 – Nhóm 7
GVHD: Phạm Quốc Khang
Huế, 10/2011
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
Danh sách thành viên:
1. Nguyễn Thị Hồng Thủy
2. Phan Thị Thanh Nhơn
3. Trần Hoàng Quỳnh Thi
4. Phan Thị Kiều Nhi
5. Hoàng Thị Hồng Hạnh
6. Hồ Thị Anh Yến
7. Phan Nhật Quang
8. Trần Khánh Nhật
9. Nguyễn Quốc Huy
10.Nguyễn Đại Quốc Anh
11. Nguyễn Văn Trọng Nhân
12.Hoàng Công Pháp
Page 2
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
Nội dung:
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHỦ ĐỀ:
II. NỘI DUNG:
1. Cơ sở lý thuyết:
Page 4
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHỦ ĐỀ:
Cục dự trữ liên bang Mỹ, gọi tắt là FED, là Ngân hàng trung ương của nước Mỹ.
Trong vai trò của một Ngân hàng trung ương, FED là ngân hàng của các ngân hàng và là
ngân hàng của Chính phủ liên bang. FED được xây dựng để đảm bảo duy trì cho nước
Mỹ một chính sách tiền tệ linh hoạt hơn, an toàn hơn, và ổn định hơn. Trong quá trình tồn
tại và phát triển cùng với lịch sử nước Mỹ, FED ngày càng chứng minh được vai trò vô
cùng quan trọng của nó trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế Mỹ.
Đặc biệt, vào năm 2007, nền kinh tế Mỹ đã phải hứng chịu cuộc Khủng hoảng Tài
chính lớn nhất trong vòng 7 thập niên trở lại đây. Cuộc Khủng hoảng đã gây ra những
ảnh hưởng nặng nề cho nền kinh tế Mỹ cũng như thế giới. Với sự sụp đổ của nhiều định
chế Tài chính lớn, Fed đã có nhiều nỗ lực nhằm xử lý hậu quả, ổn định tâm lý và khôi
phục nền kinh tế. Và lúc này, người ta đang đặt câu hỏi về những công việc mà Fed đã
thực hiện từ lúc cuộc khủng hoảng xảy ra.
Với những vấn đề như trên, phần thực trạng của chúng tôi gồm 3 phần chính:
1. Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED).
2. Những biện pháp của FED trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ năm 2007.
3. Thành tựu và hạn chế của FED trong việc đưa ra những chính sách ứng phó với
cuộc khủng hoảng 2007.
Qua bài tập thảo luận nhóm này, chúng tôi hy vọng sẽ có được hiểu biết nhất định
về Fed - ngân hàng Trung ương lớn nhất thế giới và những chính sách của FED từ lúc
cuộc khủng hoảng xảy ra cho đến nay.
Page 5
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
II. NỘI DUNG:
1. Cơ sở lý thuyết:
1.1. Khủng hoảng tài chính:
Khái niệm:
Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế
GDP danh nghĩa (GDP
n
: Nominal)
Khái niệm: GDP
n
là tổng sản phẩm quốc nội sản xuất ra trong một thời kỳ được
tính theo giá hiện hành.
Công thức: GDP
i
n
=∑Q
t
i
P
t
i
Trong đó:
• Q
t
i
: sản lượng hàng hóa và dịch vụ i ở năm t
• P
t
i
: giá hiện hành của hàng hóa và dịch vụ ở năm t
GDP thực tế (GDP
r
: real)
Khái niệm: GDP
r
hơn có thể phải vay với lãi suất tăng thêm 2%, tức là 7% tại cùng ngân hàng đó. Nhiều
khoản vay tiêu dùng khác cũng phụ thuộc vào lãi suất cơ bản.
Mục đích của giảm lãi suất:
• Tăng đầu tư → tăng tổng chi tiêu
• Tăng đầu tư → tăng sản lượng → tăng thu nhập → kích thích tiêu dùng
Lãi suất chiết khấu: Áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức chiết
khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng. Nó
được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay
khi ngân hàng đưa tiền vay cho khách hàng. Như vậy, lãi suất chiết khấu được trả trước
cho ngân hàng chứ không trả sau như lãi suất tín dụng thông thường.
Page 8
FED và những biện pháp trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ 2007
Biểu đồ lãi suất cơ bản của Mỹ ( Nguồn: MoneyCafe.com)
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
Lãi suất tái chiết khấu: Áp dụng khi ngân hàng trung ương cho các ngân hàng trung gian
vay dưới hình thức chiết khấu lại thương phiếu hoặc giấy tờ có giá và cũng được khấu trừ
ngay khi ngân hàng trung ương cấp tiền vay cho ngân hàng. Nó cũng được tính bằng tỷ lệ
phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và cũng được khấu trừ ngay khi ngân hàng
trung ương cấp tiền vay cho ngân hàng.
1.4. Nghiệp vụ thị trường mở:
Khái niệm:
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng trung ương mua vào hoặc bán ra
những giấy tờ có giá của chính phủ trên thị trường. Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ
có giá, ngân hàng trung ương tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức
tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị
trường.
Các loại nghiệp vụ thị trường mở:
Nghiệp vụ thị trường mở của các ngân hàng trung ương chủ yếu có hai loại: mua
bán giấy tờ có giá dài hạn và mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn. Ở Mỹ, nghiệp vụ thị
trường mở chủ yếu được thực hiện đối với trái phiếu chính phủ dài hạn
tiền và đầu tư vào các khoản nợ công và tài trợ tín dụng giá rẻ cho các nhà công nghiệp.
Chính quyền liên bang cũng trao cho ngân hàng quyền được lưu ký quĩ và tài sản của
chính phủ. Thời gian hoạt động được qui định là 20 năm.
Page 10
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
1816-1836: Ngân hàng thứ hai của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - The Second Bank of the
United States được thành lập và đi vào hoạt động.
Năm 1812, cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Anh quốc nổ ra. Chính phủ Hoa Kỳ phải
phát hành rất nhiều nợ để tài trợ cho các hoạt động quân sự cực kỳ tốn kém. Từ 1811 đến
1815, số ngân hàng đã tăng 117 lên 246. Tổng số tiền kim loại các ngân hàng đã phát
hành rơi vào khoảng từ 14,9 triệu đô-la (1811) đến 13,5 triệu đô-la (1815). Trong khi đó,
tổng lượng tiền giấy và tiền gửi là 42,2 triệu đô-la (1811) đã tăng gần 90% sau 4 năm, đạt
con số 79 triệu đô-la (1815).Việc phát hành quá nhiều tiền và tài trợ các khoản chi phí
chiến tranh khổng lồ đẩy các ngân hàng vào tình trạng khó khăn và mất khả năng thanh
toán. Lúc này, các cuộc tranh cãi về việc giải quyết hậu quả cho tình trạng trên trở nên
gay cấn. Cuối cùng nước Mỹ một lần nữa lại lựa chọn việc thành lập ngân hàng trung
ương. Mô hình lần này cũng giống như First Bank of the United States, chỉ khác một chữ
trong tên gọi: Second Bank of the United States. Cuộc chiến Anh-Pháp kết thúc cùng
năm 1816. Và 80% sở hữu của ngân hàng trung ương Hoa Kỳ ``mới'' thuộc về gia đình
Rothschild và những người đại diện. Ngân hàng này có thời hạn 20 năm để thực hiện các
chức năng tạo ra một đồng tiền giấy thống nhất trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ, mua phần lớn
nợ của chính phủ, và nhận tiền gửi của Bộ Tài chính.
Các ông chủ của Second Bank of the United States (BUS2) bắt tay cùng đại diện
các ngân hàng lớn ở ngoại ô Boston và thống nhất cung cấp một khoản tín dụng trị giá 6
triệu đô-la bằng tiền đúc tại New York, Philadelphia, Baltimore, và Virginia trước khi
phải nhất nhất tuân theo yêu cầu thanh toán bằng tiền đúc với những khoản nợ phải thanh
toán cho ngân hàng các bang. Lượng tiền đúc này được tính toán sẽ vượt xa nhu cầu
chuyển đổi tiền giấy sang tiền đúc có thể phát sinh khi đạo luật mới được thực thi. Như
vậy, các ngân hàng có thể thoải mái phát hành mới tiền giấy mà không lo lắng tới việc vi
phạm pháp luật. ``Thương vụ'' giữa BUS2 và ngân hàng tại các bang đã biến qui định
• Donald Kohn, Phó Chủ tịch
• Susan Bies
• Frederic Mishkin
• Kevin Warsh
• Randall Kroszner
(Một ghế còn khuyết do chưa được bầu)
Ủy ban thị trường:
Ủy ban thị trường gồm 7 thành viên của Hội đồng thống đốc và 5 đại diện từ các
Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. Luôn có một đại diện của ngân hàng Fed tại Quận 2,
thành phố New York (hiện tại là Timonthy Geithner) là thành viên trong Ủy ban này.
Thành viên từ các ngân hàng khác được luân phiên theo thời gian 2 hoặc 3 năm. FOMC
thường xuyên tiến hành việc chỉ đạo các nghiệp vụ thị trường tự do. Vì các nghiệp vụ thị
trường tự do là một công cụ quan trọng của FED để kiểm soát cung ứng tiền tệ nên
FOMC là tiêu điểm cho việc hoạch định chính sách cuả hệ thống Dự trữ Liên bang.
Các Ngân hàng dự trữ:
Page 13
FED và những biện pháp trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ 2007
Chủ tịch FED Bernanke
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
FED bao gồm 12 ngân hàng và 25 chi nhánh ở khắp nước Mỹ nên nó là một hệ
thống ngân hàng trung ương tư nhân. Mỗi ngân hàng Dự trữ liên bang đại diện cho một
quận và được đặt tên theo tên thành phố mà nó đặt trụ sở, đó là Boston, New York,
Philadelphia, Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St. Louis, Minneapolis, Kansas
City, Dallas, San Francisco, trong đó Ngân hàng dự trữ New York có vai trò "nổi bật hơn
một chút"so với các ngân hàng còn lại.
Theo Tòa án tối cao Mỹ, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực không phải là
công cụ của chính quyền liên bang, chúng là các ngân hàng độc lập, sở hữu tư nhân và
hoạt động theo luật pháp ở địa phương. Phán quyết trên cũng cho rằng, các Ngân hàng dự
trữ liên bang khu vực có thể được coi là công cụ của chính quyền liên bang theo một số
mục đích nhất định. Trong một phán quyết khác ở tòa án cấp bang, sự khác biệt giữa Hội
Giám sát và quy định các tổ chức ngân hàng đảm bảo hệ thống tài chính và ngân hàng
quốc gia an toàn, vững vàng và bảo đảm quyền tín dụng của người tiêu dùng
Duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống có thể phát sinh trên
thị trường tài chính
Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chức
chính thức nước ngoài, và chính phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành hệ
thống chi trả quốc gia.
Page 15
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
Ngoài ra FED còn tiến hành các nghiên cứu về nền kinh tế Mỹ cũng như kinh tế
các bang, cung cấp thông tin về nền kinh tế thông qua các ấn phẩm, hội thảo giáo dục và
qua website.
2.2. Những biện pháp của FED trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ
năm 2007:
2.2.1. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ năm 2007:
Cho vay dưới chuẩn:
Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation)
để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản
(MBS, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường.
Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay
mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng
bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản
càng tăng làm giá bất động sản càng giảm. Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của
trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng.
Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm
mạnh. Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp
hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản. Hậu quả
là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh.
Mua bán khống
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến cho vay
thực của ngân hàng. Đây là một trò chơi mà con người ta khi bắt đầu cảm nhận thấy mùi
của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ xuất hiện, cả thị trường
xuống dốc và tất cả mọi người đều bị thua lỗ.
Page 17
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị
xói mòn, xuống cấp. Sự sụp đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy đã
xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục.
2.2.2. Những biện pháp của FED trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ
năm 2007
a) Biện pháp của FED trước tháng 9/2008:
Tháng 8/2007, cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn đã nổ ra ở Mỹ mà
không có bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào. Khủng hoảng đã lan đến các trung tâm tài
chính lớn khác như: London, Tokyo, Paris, Frankfurt. Lần đầu tiên nhiều ngân hàng lớn
rơi vào khủng hoảng cho vay thế chấp kiểu này.
Những diễn biến đầu tiên của khủng hoảng:
1. Bear Stearns, ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ, đã thông báo hai trong nhiều
quỹ bảo hiểm của họ đã mất hơn 1/2 tài sản do sự sụt giảm mạnh giá trị danh mục đầu tư
cho vay thế chấp. Khách hàng không thể rút tiền và điều duy nhất họ có thể làm là theo
dõi một cách vô vọng sự mất giá của các khoản đầu tư.
2. Banque Nationale Paribas (BNP), ngân hàng lớn nhất của Pháp đã đình chỉ hoạt
động các quỹ bảo hiểm của họ do thị trường chứng khoán thế chấp mất thanh khoản.
3. Hai ngân hàng lớn của Trung Quốc, Ngân hàng Công thương Trung Quốc và
Ngân hàng Trung Quốc, đã thông báo khoản lỗ trị giá 11 tỷ USD vì những rủi ro liên
quan đến cho vay thế chấp.
4. Ở Anh, lần đầu tiên kể từ sau cuộc Đại suy thoái, dân chúng đã xếp hàng trước
cửa ngân hàng Northern Rock để rút tiền.
5. Tin tức về các sự kiện này đã lan toả và tạo ra cú sốc tài chính toàn cầu.
Page 18
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
01/04/2008 2,25 -0,75
01/05/2008 2,00 -0,25
01/11/2008 1,00 -0.1
(Nguồn: MoneyCafe.com)
Mục đích của những chính sách của Fed trong khoảng thời gian này là nhằm hỗ
trợ cho các định chế tài chính và nhằm ổn định thị trường, đồng thời thúc đẩy kinh tế. Và
đến tháng 9/2008, lãi suất cho vay của Fed chỉ là 2%. Tuy nhiên, những phản ứng của
Fed cũng không thể cứu vớt được thị trường bởi lẽ cuộc khủng hoảng đã được hình thành
từ quá lâu với những nguyên nhân mà Fed và chính phủ Hoa Kỳ không kiểm soát được.
Tháng 9/2008, cuộc khủng hoảng thực sự bùng nổ với sự sụp đổ của nhiều định chề tài
chính lớn. Nền kinh tế Hoa Kỳ rơi vào cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong 7 thập niên trở
lai đây.
b) Biện pháp của FED từ lúc cuộc khủng hoảng xảy ra cho đến khi kinh
tế Mỹ cơ bản thoát khỏi khủng hoảng (gần cuối năm 2009):
Cuộc khủng hoảng đã gây ra những hậu quả nặng nề đối với kinh tế Hoa Kỳ. GDP
của quý IV năm 2008 ngay lập tức giảm 5,4%, tỷ lệ thất nghiệp tăng 1% từ mức 6,2% lên
đến 7,2%, niềm tin của người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực.
Khi cuộc khủng hoảng xảy ra, Fed đã có những biện pháp rất rất mạnh mẽ để giúp
nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng.
Page 20
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
Hành động đầu tiên mạnh tay nhất là mua lại các khoản nợ xấu trị giá 1450 tỷ
USD chứng khoán thế chấp và giấy tờ nợ, do ngân hàng Fannie Mae, Freddie Mac và
Ginnie Mae phát hành, mua lại mua lại 300 tỷ USD trái phiếu chính phủ. Hành động này
giúp cho các ngân hàng này tăng tính thanh khoản và tiếp tục đi vào hoạt động. Nhìn vào
quy mô của khoản mua lại phần nào đó làm cho giới đầu tư tin tưởng vào quá trình khôi
phục của thị trương tài chính. Trong cuộc đại khủng hoảng lần này, ngoài 3 công cụ
truyền thống là tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu, công cụ thị trường mở, Fed đã
đưa ra 7 công cụ mới: TAF( đấu thầu cho vay kỳ hạn), TSLF( cho vay chứng khoán kỳ
hạn), PDCF( tín dụng cho các trung gian tài chính hàng đầu), AMLF( cho vay dựa trên
Quý 2/2009 -0.7%
Quý 3/2009 1.7%
(Nguồn: Usatoday.com)
Thị trường chứng khoán đã có những khôi phục mạnh mẽ kể từ cuộc khủng hoảng
xảy ra từ tháng 9 năm 2008. Chỉ số Dow Jones đã lấy lại được mức trên 10000 điểm.
Lòng tin của nhà đầu tư đã dần được khôi phục. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán luôn
lên xuống cùng với những quyết định của Fed và Chính phủ Hoa Kỳ.
Có thể nói rằng nền kinh tế lúc này chưa thực sự hồi phục. Tình trạng thất nghiệp
hiện nay đang ở mức cao. Kể từ tháng 9 năm 2008 đến cuối năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp
luôn ở mức báo động. Và đặc biết vào tháng 10/2009, tỷ lệ thất nghiệp ở mức 10.1 %.
Bảng tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ từ tháng 9/2008 đến tháng 10/2009
Thời gian Tỷ lệ thất nghiệp
Sep-08 6,2%
Oct-08 6,6%
Nov-08 6,8%
Dec-08 7,3%
Jan-09 7,8%
Page 22
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
Feb-09 8,2%
Mar-09 8,6%
Apr-09 8,9%
May-09 9,4%
Jun-09 9,5%
Jul-09 9,5%
Aug-09 9,7%
Sep-09 9,8%
Oct-09 10,1%
(Nguồn: Data360.org)
Nền kinh tế vẫn đang trong tình trạng chưa thể tự lực đứng dậy nếu không có sự
các doanh nghiệp Mỹ vẫn nắm giữ tiền mặt, tốc độ tăng thu nhập không đủ bù lạm phát,
GDP Mỹ chỉ tăng 1,9%, còn tỷ lệ thất nghiệp kẹt ở 9,1%. Ngoài ra, chương trình này
cũng tác động xấu đến đồng USD, thị trường nhà đất,…
Không chỉ vậy, Chủ tịch FED Bernanke còn tuyên bố Cục dự trữ liên bang Mỹ sẽ
duy trì chính sách lãi suất siêu thấp từ 0%-0.25% đến giữa năm 2013. Với chính sách này,
Fed kỳ vọng sẽ khôi phục niềm tin của thị trường, kích thích người Mỹ tăng chi tiêu, thúc
đẩy nền kinh tế.
Sau khi QE2 kết thúc, gần đây nhất, FED đã công bố chương trình kích thích kinh
tế 400 tỷ USD. Với chương trình này, Cục dự trữ liên bang Mỹ sẽ mua chứng khoán kho
bạc Mỹ 13 lần một tháng và bán nợ chính phủ Mỹ đang giữ 6 lần theo kế hoạch giảm chi
phí vay thông qua việc đổi 400 tỷ USD trái phiếu ngắn hạn thành trái phiếu dài hạn
(Operation Twist). Theo thông báo từ Ngân hàng dự trữ New York, Fed sẽ bán 8 - 9 tỷ
USD trái phiếu kho bạc danh nghĩa 5 lần/tháng trong mỗi lần thực hiện và 1 - 1,5 tỷ USD
các chứng khoán chống lạm phát kho bạc (TIPS) trong mỗi lần điều hành hoạt động. Fed
sẽ mua trái phiếu kho bạc 12 lần/tháng và TIPS 1 lần mỗi tháng. Mục đích là nhằm hạ
Page 24
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2011
thấp lãi suất đối với mọi khoản vay từ vay thế chấp đến vay vốn sinh viên, qua đó khuyến
khích người tiêu dùng và doanh nghiệp vay mượn và chi tiêu, ngăn chặn suy thoái và hỗ
trợ phát triển kinh tế.
2.3. Thành tựu và hạn chế của FED trong việc đưa ra những chính sách
ứng phó với cuộc khủng hoảng 2007:
Để giúp kinh tế Mỹ vượt qua được cuộc khủng hoảng, FED đã sử dụng những
chính sách cơ bản sau: Chính sách cắt giảm lãi suất, chính sách thị trường mở, chiết khấu
và tái cấp vốn, tỷ giá hối đoái. Những chính sách này một mặt đem lại nhiều thành tựu
những mặt khác cũng có không ít hạn chế.
2.3.1. Chính sách cắt giảm lãi suất:
Tác động tích cực:
• Kích cầu tiêu dùng nội địa làm đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế đang lao đao. Chỉ số niềm
tin tiêu dùng của Hội đồng hội nghị thường niên (Conference Board) đã tăng vọt từ 40,8