LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: “Thực trạng thu - chi quỹ BHXH tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ (Nam Định)” pot - Pdf 15


0 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Thực trạng thu - chi quỹ
BHXH tại phòng BHXH huyện Giao
Thuỷ (Nam Định)”

GVHD:
PGS.TS Hồ Sĩ Sà
SVTH:
Trần Văn Phác
1
MỤC LỤC

2 – Những kết quả đạt được của BHXH huyện Giao Thuỷ 41
3 – Những hạn chế trong công tác quản lý thu chi quỹ BHXH 44
CHƯƠNG III. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC THU CHI QUỸ BHXH Ở BHXH HUYỆN GIAO THUỶ 45
I. Đối với cơ quan BHXH nói chung 45
1 – Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về BHXH, xây dựng luật
BHXH 45
2 – Có chương trình đào tạo và sử dụng cán bộ 46
3 – Mở rộng nguồn thu BHXH 47
4 - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về BHXH 48
5 – Hoàn thiện việc quản lý thu chi, kết hợp vi tính hoá trong công tác quản
lý thu chi quỹ BHXH 50
II. Đối với BHXH huyện Giao Thuỷ 52
1 – Về công tác thu 52
2 – Về công tác chi 54
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

3

LỜI NÓI ĐẦU
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra
đời sớm ở nước ta. Đây là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, nó ít mang tính
chất kinh doanh thương mại mà chủ yếu là tính nhân dạo và nhân văn cao
cả.
Kể từ khi ra đời đến nay, nó đã góp phần làm ổn định đời sống cho cán
bộ công nhân viên chức Nhà nước, quân nhân, những người lao động làm
việc trong các thành phần kinh tế của đất nước; ổn định chính trị – xã hội,
thúc đẩy quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc.
Hiện nay, được sự quan tâm của Nhà nước mà chính sách BHXH ngày


5
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXHI. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ BHXH
1 – Sự ra đời của BHXH
Nền sản xuất hàng hoá càng phát triển thì vấn đề thuê mướn nhân
công diễn ra càng phổ biến, mâu thuẫn giữa chủ và thợ ngày càng gia tăng.
Đặc biệt khi người lao động không may gặp rủi ro, sự cố như: ốm đau,
bệnh tật, tai nạn lao động, mất việc làm…phải nghỉ việc. Khi rơi vào
những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết không những không mất đi
mà còn tăng lên, thậm chí còn phát sinh ra nhiều nhu cầu mới như: cần
được khám chữa bệnh, điều trị khi ốm đau; cần người nuôi dưỡng, chăm
sóc khi gặp tai nạn, thương tật… Tổng thời gian nghỉ việc người chủ
không trả lương, làm cho người lao động càng gặp nhiều khó khăn hơn và
không yên tâm làm việc. Vì vậy, lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công

rủi ro bất ngờ xảy ra như: ốm đau; bệnh tật, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp…Tất cả những nguyên nhân đó xảy ra đều ít nhiều làm ảnh hưởng
đến đời sống vật chất và tinh thần cho bản thân cũng như gia đình; người
thân của họ.
Muốn khắc phục được khó khăn do các rủi ro nêu trên gây ra, người
lao động cần phải được sự bảo trợ của tập thể số đông. Đặc biệt để người
lao động yên tâm tham gia sản xuất tạo điều kiện phát triển kinh tế đất
nước thì nhà nước cần phải can thiệp vào nhằm làm giảm bớt những khó
khăn cho người lao động trong các trường hợp: ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động – bệnh nghề nghiệp, chết, mất việc làm khi về già…Từ đó BHXH

7
được ra đời như một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội
đều cảm thấy cần phải tham gia hệ thống BHXH này.
II . VAI TRÒ VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA BHXH
1 – Vai trò của BHXH
1.1) Đối với người lao động
Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn thiện quá
trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá thì những "rủi ro" như ốm đau, tai nạn
lao động- bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm…lại diễn ra một cách
thường xuyên và ngày càng phổ biến hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi ro
này xảy ra sẽ gây khó khăn cho người lao động vế cả vật chất lẫn tinh thần,
ảnh hưởng không tốt cho cả cộng đồng.
Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà
nước, BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những người lao động gặp
phải rủi ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế,
những điều kiện lao động thuận lợi…giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm
công tác, tạo cho họ một niềm tin vào tương lai. Từ đó góp phần quan trọng
vào việc tăng năng suất lao động cũng như chất lượng công việc cho xí
nghiệp nói riêng và cho toàn xã hội nó chung.

Thứ hai, với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của
Nhà nước, BHXH sẽ “ bảo hiểm” cho người lao động, hoạt động BHXH sẽ
giải quyết những “ trục trặc”, “ rủi ro” xảy ra đối với những người lao
động, góp phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả
năng sáng tạo của sức lao động. Sự góp phần này tác động trực tiếp đến
việc nâng cao năng suất lao động cá nhân, đồng thời góp phần tích cực của
mình vào việc nâng cao năng suất lao động xã hội. Với sự trợ giúp của
người lao động khi gặp phải rủi ro bằng cách tạo ra thu nhập thay thế thì

9
BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng sự
tiêu dùng cho xã hội.
Thứ ba, với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh
mẽ tới hệ thống tài chính ngân sách Nhà nước, tới hệ thống tín dụng tiền tệ
ngân hàng. Chính vì vậy, đặt ra một yêu cầu cho quỹ BHXH phải tự bảo
tồn và phát triển quỹ bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình
thức đầu tư phát triển phần “ nhàn rỗi” của quỹ. Phần này có tác động
không nhỏ tới sự phát triển đất nước, góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất
kinh doanh mới, việc làm mới góp phần quan trọng trong việc tạo ra việc
làm cho người lao đông. Từ đó góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp
của đất nước, góp phần tăng thu nhập cá nhân cho người lao động nói riêng
và tăng tổng sản phẩm quốc nội cũng như tổng sản phẩm quốc dân nói
chung.
Thứ tư, BHXH góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội, là công
cụ phân phối lại thu nhập giữa những nguời tham gia BHXH. Sự phân phối
lại thu nhập này được tiến hành thông qua hai cách: Phân phối lại theo
chiều ngang giữa người khoẻ và người già, người đang làm việc với người
đã nghỉ hưu, người trẻ tuổi với người lớn tuổi, giữa nam với nữ, người
đang hưởng trợ cấp với người chưa hưởng trợ cấp; phân phối lại theo
chiều ngang là mục tiêu quan trọng của chính sách kinh tế xã hội, giữa

những kết quả bất lợi không mong muốn. Những kết quả bất lợi này trực
tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn đến những rủi ro cho người lao động. Khi xảy ra
tình trạng như vậy nếu không có BHXH thì Nhà nước vẫn phải chi Ngân
sách để giúp đỡ người lao động dưới một dạng khác. Sự giúp đỡ đó chẳng
những làm cho đời sống người lao động ổn định mà còn làm cho sản xuất
kinh tế xã hội của đất nước ổn định. Vì vậy, khi trong xã hội loài người
xuất hiện BHXH – một dạng đảm bảo đời sống tiến bộ hơn đối với người

11
lao động- so với các dạng giúp đỡ truyền thống thì Nhà nước càng có điều
kiện và càng có trách nhiệm tổ chức và tham gia dạng hoạt động đó.
Đối với người sử dụng lao động, mọi khía cạnh đặt ra cũng tương tự
như trên nhưng chỉ trong phạm vi một số doanh nghiệp. Ở đó giữa người
lao động và người sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ. Người sử
dụng lao động muốn ổn định và sản xuất kinh doanh thì ngoài việc chăm lo
đầu tư để có máy móc thiết bị hịên đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm
lo tay nghề và đời sống của người lao động mà mình sử dụng. Khi người
lao động làm việc bình thường thì phải trả lương (trả công) thoả đáng cho
người lao động. Khi họ gặp rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp trong đó có rất nhiều trường hợp gắn với quá trình lao động, với
những điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp thì phải có trách nhiệm
BHXH cho họ. Chỉ có như vậy người lao động mới yên tâm tích cực lao
động sản xuất góp phần tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế cho
doanh nghiệp.
Đối với người lao động khi gặp những rủi ro không muốn và không
phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi ro
của bản thân. Vì thế, nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác
hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì tự
mình phải gánh chịu trực tiếp và trước hết đã Điều đó có nghĩa là bản thân
người lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho

không phải luôn luôn như nhau, thống nhất với nhau mà trái lại có lợi ích
có lúc lại mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng
thời hạn nghỉ làm việc và hưởng trợ cấp BHXH sẽ rất có lợi cho người lao
động nhưng lại gây khó khăn cho người chủ sử dụng lao động, nếu giảm

13
hậu quả bất lợi cho người sử dụng lao động thì Nhà nước lại phải gánh
chịu.
2.6) Mức trợ cấp BHXH phải đảm bảo thấp hơn tiền lương khi đang đi
làm, nhưng cũng phải lớn hơn mức lương tối thiểu
Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lương như
trợ cấp ốm đau, thai sản, hưu trí tuổi già chứ không phải là trợ cấp bù đắp
hoặc trợ cấp BHXH. Như đã biết, tiền lương là khoản tiền mà người sử
dụng lao động trả cho người lao động khi họ thực hiện công việc nhất định.
Nghĩa là, chỉ người lao động có sức khoẻ bình thường, có việc làm bình
thường và thực hiện công việc nhất định mới có tiền lương. Khi đã bị ốm
đau, tai nạn hay tuổi già không thực hiện được công việc nhất định hoặc
không việc làm mà trước đó có tham gia BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH
và trợ cấp đó không thể bằng tiền lương tạo ra được. Còn nếu cố tìm cách
trả trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lương thì không một người lao
động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc để có lương mà
ngược lại họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản để hưởng trợ cấp. Hơn nữa cách
lập quỹ, phương thức dàn trải rủi ro của BHXH cũng không cho phép trả
trợ cấp BHXH bằng tiền lương lúc đang đi làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền
lương thì chẳng khác gì bị rủi ro đem rủi ro của mình dàn trải hết cho
những người khác.
Như vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang
đi làm. Tuy nhiên do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức
trợ cấp thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hàng ngày.
Chỉ khi đó BHXH mới có tính nhân văn cao cả.

phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động để chúng có thể bù đắp,
bổ xung những ưu điểm cho nhau.

15
2.9) BHXH phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều
kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển cụ thể
BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều
kiện kinh tế xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý đặc biệt là với sự điều
chỉnh, sự đồng bộ của nền pháp chế của nước đó. Trong tình hình nước ta,
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh
tế xã hội đang chuyển động mạnh. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển
BHXH phải bảo đảm chắc chắn, tính toán thận trọng và có bước đi phù
hợp.

III. QUỸ BHXH
1 – Vai trò của quỹ BHXH
Trong đời sống kinh tế xã hội, có rất nhiều loại quỹ khác nhau như:
quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lương, quỹ tiền
thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ tiết kiệm Tất cả các loại quỹ này đều có một
điểm chung là tập hợp các phương tiện tài chính cho những hoạt động nào
đó theo mục tiêu định trước. Quỹ lớn hay quỹ nhỏ biểu thị khả năng về mặt
phương tiện và vật chất để thực hiện công việc cần làm.
Tất cả các quỹ đều không chỉ tồn tại với một khối lượng tĩnh tại một
thời điểm mà luôn biến động tăng lên ở đầu vào với các nguồn thu và giảm
đi ở đầu ra với các khoản chi như một dòng chảy liên tục. Để đảm bảo cho
đầu ra ổn định, người ta thiết lập một lượng dự trữ. Bởi vậy, để nắm và
điều hành được một quỹ nào đó thì không phải chỉ nắm được khối lượng
của nó tại một thời điểm nhất định, mà quan trọng hơn là phải nắm được
lưu lượng của nó trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo những quan niệm về quỹ nói chung như trên, thì quỹ BHXH là


17
Quỹ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:
- Thứ nhất, đó là phần đóng góp của người sử dụng lao động, người lao
động và Nhà nước, đây là nguồn chiếm tỉ trọng lớn nhất và cơ bản của quỹ.
- Thứ hai, là phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ được
tổ chức BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lời.
- Thứ ba, là phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm
luật lệ về BHXH. Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được
hình thành từ các nguồn nêu trên. Tuy nhiên phương thức đóng góp và mức
đóng góp của các bên tham gia có khác nhau.

2 - Mục đích sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho hai mực đich sau đây:
- Chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH
được sử dụng để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH, nhằm ổn định
cuộc sống cho bản thân và gia đình họ, khi đối tượng tham gia BHXH gặp
rủi ro. Thực chất là trợ cấp cho 9 chế độ mà tổ chức này đã nêu lên trong
công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ:
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp khi tàn phế


Nhưng về nguyên tắc, mức trợ cấp này không cao hơn mức tiền lương hoặc
tiền công khi người lao động đang làm việc và nó chỉ bằng một tỷ lệ phần
trăm nhất định so với mức tiền lương hay tiền công. Ở các nước kinh tế
phát triển do mức lương cao nên tỷ lệ này thường thấp và ngược lại ở
những nước đang phát triển do mức tiền lêong còn thấp nên phải áp dụng
một tỷ lệ khá cao. Ví dụ, ở pháp mức trợ cấp hưu trí chỉ bằng 50% mức
lương cao nhất ( với điều kiện đóng BHXH đủ 37,5 năm ), ốm đau được
hưởng trợ cấp bằng 50% tiền lương, thời gian nghỉ ốm được hưởng trợ cấp
không quá 12 tháng. Sinh con được hưởng trợ cấp BHXH bằng 90% tiền
lương trong vòng 16 tuần v.v…Còn ở Philipin, mức trợ cấp hưu trí từ 42%
đến 102%, tuỳ thuộc từng nhóm lương khác nhau, ốm đau được hưởng
65%, sinh con được nghỉ 45 ngày và được trợ cấp bằng 100% tiền lương
v.v…
Tuy vậy, việc các nước quy định trợ cấp BHXH bằng tỷ lệ phần trăm
so với tiền lương hay tiền công thường dẫn đến bội chi quỹ BHXH. Vì vậy,
một số nước đã phải tìm cách khắc phục như: trả ngay 1 lần khi nghỉ hưu,
hoặc suốt đời đóng theo tỷ lệ phần trăm của một mức thu nhập quy định và
hưởng cũng theo tỷ lệ phần trăm của mức quy định.
Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH, quỹ BHXH còn
được sử dụng cho chi phí quản lý như: Tiền lương cho những người làm
việc trong hệ thông BHXH; khấu hao tài sản cố định, văn phòng phẩm và
một số khoản chi khác… Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lợi.
Mục đích đầu tư quỹ BHXH là nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ.
Quá trình đầu tư quỹ BHXH phải đảm bảo nguyên tắc: an toàn, có lợi
nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế- xã hội.
20


con dấu và tài khoản riêng.
Sơ đồ vị trí của BHXH huyện Giao Thuỷ:

BHXH huyện Giao Thuỷ có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ BHXH
tỉnh Nam Định giao cho gồm:
- Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác năm trình Giám đốc BHXH
tỉnh Nam Định phê duyệt và tổ chức thực hiện;
- Theo dõi, đốc thu BHXH 20% so với tổng quỹ lương (hiện nay là 23%
do y tế nhập vào 3%) trong đó thu 15% của chủ sử dụng lao động (hiện nay
là 17%) và 5% của người lao động (hiện nay là 6%);
- Chi trả các chế độ nghỉ ốm, thai sản cho đối tượng tham gia đóng góp
BHXH;
BHXH
Nam Định
BHXH
Việt Nam
BHXH
Giao Thuỷ 22

- Tạo ra được nguồn tài chính tập trung từ đó có thể tiến hành thống
nhất các hoạt động BHXH.
- Nguồn thu của BHXH được hình thành từ ba nguồn chủ yếu: đóng
góp của người lao động, người sử dụng lao động và phần hỗ trợ từ Ngân
sách Nhà nước; nguồn thu này phản ánh rõ nét quan hệ ba bên trong
BHXH, là cơ sở để tạo ra các quan hệ khác trong BHXH.
- Thực chất, quan hệ ba bên trong BHXH là mối quan hệ về lợi ích do
sự đóng góp vào BHXH của các bên tham gia là mối quan hệ về lợi ích, từ
việc tham gia đóng góp BHXH các bên tham gia BHXH đều tìm kiếm
được lợi ích cho mình, người sử dụng lao động tìm kiếm lợi ích từ việc họ
sẽ bỏ ra ít chi phí hơn khi người lao động không may gặp phải những rủi
ro, người lao động được tìm kiếm lợi ích từ việc họ được hưởng các quyền
lợi khi họ không may gặp phải những rủi ro, Nhà nước đạt được mục tiêu
ổn định được xã hội, ổn định được mối quan hệ lợi ích giữa người lao động
và người sử dụng lao động trong xã hội để người lao động yên tâm tham
gia sản xuất thúc đẩy nền kinh tế-xã hội phát triển.
Từ đó có thể nói rằng, thu BHXH là một phần quan trọng không thể
thiếu được của hoạt động BHXH.
1.2) Công tác thu BHXH tại BHXH huyện Giao Thuỷ
Giao Thuỷ là một huyện có địa hình rất phức tạp: một mặt giáp với
biển, một mặt lại giáp với Sông Hồng nên ở đây tồn tại nhiều ngành nghề
khác nhau như: làm nông nghiệp (phần lớn), khu vực giáp với biển thì nhân
dân lại đánh bắt và nuôi thuỷ sản xuất khẩu (nhưng chưa có đủ quy mô lớn
để trở thành công ty hay doanh nghiệp, mà hầu hết là tư nhân tự đứng ra

24
làm lấy với số lao động là con em trong gia đình họ) hoặc kinh doanh du
lịch; bãi tắm (Quất Lâm), làm muối…
Trên địa bàn huyện Giao Thuỷ hiện nay chưa có khu công nghiệp nào
mà chỉ có một vài xí nghiệp; công ty có quy mô đủ lớn (đi thuê lao động)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status