CHÍNH SÁCH, BIỆN PHÁP GIẢM NHẬP SIÊU
CẢI THIỆN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ
Ths. Nguyễn Hoàng Giang
Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế
Văn phòng Trung ương Đảng
I. TÌNH HÌNH NHẬP SIÊU
1. Nhập siêu kéo dài và gia tăng là nguy cơ lớn đẩy gánh nặng lên hệ
thống tài chính và gánh nặng nợ quốc gia.
Tình hình nhập siêu nước ta trong những năm gần đây luôn ở mức rất cao, là
nguyên nhân chính dẫn đến cán cân vãng lai thâm hụt, ảnh hưởng lớn đến việc bảo
đảm ổn định tỷ giá, gây khó khăn cho công tác điều hành kinh tế vĩ mô. Nhập siêu
tăng từ hơn 5 tỷ USD (năm 2006) lên 17 tỷ USD (năm 2008), 12,8 tỷ USD năm
2009 và dự kiến khoảng 12 tỷ USD năm 2010. Tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu rất
cao, trong 3 năm (2007 đến 2009) và 6 tháng đầu năm 2010 đều trên 20%.
Năm Xuất khẩu
(tỷ USD)
Nhập khẩu
(tỷ USD)
Nhập siêu
(tỷ USD)
Tỷ lệ nhập
siêu/xuất khẩu (%)
2006 39,8 44,89 5,09 12,8%
2007 48,56 62,68 14,12 29%
2008 63 79,9 17 27%
2009 57,1 69,9 12,8 22,5
6 tháng đầu
mặt hàng đối với nhóm thị trường nhập siêu trong vài năm gần đây hầu như không
thay đổi.
- Đối với Trung quốc, nhập khẩu từ thị trường chiếm gần 25% tổng kim
ngạch nhập khẩu của cả nước (năm 2009, nhập siêu với Trung quốc đạt 11,53 tỉ
USD, chiếm 90% tổng trị giá nhập siêu của cả nước), cụ thể là:
+ Việt nam nhập khẩu từ Trung quốc các mặt hàng có hàm lượng chế biến
cao hơn so với các mặt hàng mà Việt nam xuất khẩu sang thị trường này. Những
năm gần đây, cơ cấu hàng hoá Việt nam nhập khẩu từ thị trường này không thay
đổi nhiều, chủ yếu vẫn là máy móc thiết bị và vật tư, nguyên liệu sản xuất như sắt
thép, phân bón, hoá chất, vật tư nông nghiệp, nguyên phụ liệu dệt, may, da, điện
thoại di động…
+ Hàng hoá nhập khẩu từ trung quốc có công nghệ không cao, giá thấp nên
về dài hạn, nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị từ Trung quốc sẽ giảm sức cạnh
tranh của hàng hoá Việt nam. Thời gian tới, xuất khẩu sản phẩm thô của Việt nam
sang Trung quốc bị thu hẹp, nếu không tăng tỉ trọng hàng chế biến xuất khẩu sang
Trung quốc và giảm nhập khẩu những mặt hàng Việt nam đã sản xuất được thì tình
trạng nhập siêu từ thị trường này còn tiếp tục gia tăng.
1.3. Một số nguyên nhân dẫn đến nhập siêu
- Nhóm hàng nguyên nhiên phụ liệu và vật tư phục vụ sản xuất trong nước
và xuất khẩu: do cùng cơ cấu mặt hàng xuất khẩu (nông sản, tiêu dùng, dệt may,
giày da, điện tử) với các nước trong khu vực và sức cạnh tranh của hàng hoá Việt
nam thấp nên mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sang các nước Châu Á chưa
theo kịp tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ các nước này. Ngoài ra, lợi thế về vận
tải, giá cả và tính phù hợp nên đa số nhóm hàng này được nhập khẩu chủ yếu từ
các nước trong khu vực.
- Nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước luôn ở mức cao với các mặt
hàng thiết yếu trong nước chưa sản xuất được (hoặc sản xuất chưa đáp ứng được
nhu cầu) như: xăng dầu, phân bón, máy móc thiết bị Rất nhiều những mặt hàng
này ngời việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước còn là yếu tố đầu vào cho
nhiều ngành sản xuất và cho xuất khẩu ra các thị trường khác.
- Một số sản phẩm công nghiệp sẽ có nhiều khả năng tăng trưởng nhanh
trong giai đoạn tới do kết quả của quá trình thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là các dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 3 năm gần đây tăng mạnh (lĩnh vực điện tử, linh
kiện điện tử, máy tính…).
* Khó khăn và thách thức
- Nền kinh tế đang dần hồi phục nhưng còn chứa đựng nhiều rủi ro, khó
lường. Cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp và một số nước châu Âu đang diễn
biến phức tạp và có ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng
này sẽ làm chậm lại quá trình hồi phục của kinh tế thế giới.
- Mặc dù xuất khẩu hàng hóa của nước ta sang các thị trường lớn như Mỹ,
Nhật Bản đều đạt mức tăng trưởng khá cao trong những tháng đầu năm thì xuất
khẩu sang EU lại đạt thấp. Dự báo xuất khẩu hàng hóa của nước ta sang thị trường
này trong thời gian tới sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn hơn bởi:
+ Cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu có nguy cơ lan rộng, ảnh hưởng rất
lớn đến nền kinh tế cũng như sức mua và nhu cầu nhập khẩu của khu vực châu Âu.
+ Đồng Euro giảm giá mạnh cũng sẽ khiến giá hàng hóa nhập khẩu vào châu
Âu trở nên đắt đỏ hơn. Chỉ trong vòng 5 tháng qua đồng Euro đã giảm tới 11% so
với đồng USD.
+ Xuất khẩu giầy dép sang thị trường EU vẫn khó khăn do bị áp thuế chống
bán phá giá.
+ Các quy định ngày càng khắt khe hơn đối với hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt
là thủy sản.
- Từ năm 2010, việc các nước nhập khẩu bắt đầu áp dụng các rào cản thương
mại và các quy định mới sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
như quy định về truy xuất nguồn gốc thủy hải sản đánh bắt của EU, Dự luật nông
nghiệp 2008 (Farmbill) của Hoa Kỳ, Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ, Quy định về
trách nhiệm giải trình của EU nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm túc việc sử dụng gỗ
có nguồn gốc hợp pháp, tính hợp pháp của các lô hàng, Điều này đòi hỏi các
doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải chủ động và có sự chuẩn bị tốt để đáp ứng
những quy định mới của các thị trường nhập khẩu.
1.1. Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu
- Sớm triển khai Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến
thương mại quốc gia. Tăng cường XTTM ở các thị trường truyền thống, mở rộng
sang thị trường Châu Phi.
- Chỉ đạo các Thương vụ phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các cơ quan liên
quan hỗ trợ doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường xuất khẩu sang thị trường
mới, giải quyết các tranh chấp, cảnh báo các rủi ro và hàng rào kỹ thuật ở thị
trường sở tại, giúp doanh nghiệp yên tâm khi kinh doanh tại thị trường sở tại.
- Đẩy mạnh triển khai các Hiệp định FTA đã ký kết và tận dụng lợi thế các
FTA đem lại, tổ chức phổ biến rộng rãi cho các doanh nghiệp nội dung các Hiệp
định khu vực mậu dịch tự do (FTA) mà Việt Nam đã tham gia ký kết để tăng
cường hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tận dụng lợi thế các FTA.
- Đẩy mạnh các hoạt động đàm phán song phương, đa phương nhằm mở
rộng thị trường thúc đẩy xuất khẩu; rà soát và đàm phán sâu hơn đối với các thỏa
thuận ưu đãi thuế quan song phương giữa Việt Nam với các đối tác trong khu vực
như Lào, Campuchia.
- Nghiên cứu về các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang thị
trường Campuchia trong tình hình mới; nghiên cứu báo cáo Chính phủ về các biện
pháp thúc đẩy xuất khẩu và giảm nhập siêu đối với thị trường Trung Quốc.
- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất khẩu để tạo điều
kiện tối đa cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Cụ thể rút ngắn thời gian cấp Giấy
chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) từ 8 giờ xuống còn 3-4 giờ.
- Phối hợp với các Bộ, ngành, các địa phương tổ chức các Hội nghị giao ban
xuất khẩu với các Tập đoàn, Tổng Công ty, doanh nghiệp, các Hiệp hội ngành
hàng để tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh, trong hoạt động xuất khẩu,
bàn biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu cho từng ngành hàng, mặt hàng.
- Phối hợp với Ngân hàng Nhà nước xây dựng Đề án “Chương trình hỗ trợ
xuất khẩu” nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn, lãi suất cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
1.2. Các biện pháp hạn chế nhập khẩu
- Hạn chế tiếp cận ngoại tệ: Ban hành và triển khai nghiêm túc danh mục
hỗ trợ để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất hàng phụ trợ trong nước.
2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Thực hiện điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt theo tín hiệu của thị trường
và trên cơ sở mối quan hệ với lãi suất giữa tiền Việt Nam và ngoại tệ, chỉ số giá
tiêu dùng, cán cân thương mại và các kênh đầu tư khác theo hướng ổn định, đảm
bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngoại tệ cần thiết cho các doanh nghiệp trong đó có
doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.
- Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng nhằm ổn định
thị trường tiền tệ, bảo đảm khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng và đáp
ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, trong đó ưu tiên lĩnh vực xuất khẩu.
- Kiểm soát chặt chẽ việc cho vay ngoại tệ nhập khẩu, đặc biệt đối với Danh
mục các mặt hàng không thiết yếu, hàng tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu
3. Bộ Tài chính
- Hướng dẫn tiếp tục thực hiện trong năm 2010 thủ tục tạm hoàn thuế giá trị
gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong thời gian chưa được phía
nước ngoài thanh toán qua ngân hàng.
- Sớm triển khai Nghị định sửa đổi quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, trước
hết là đối với những mặt hàng trong nước sản xuất được hoặc không khuyến khích
nhập khẩu để hạn chế nhập siêu.
- Nghiên cứu quy định thời hạn nộp thuế và áp dụng các biện pháp liên
quan đến thông quan hàng hoá, cửa khẩu thông quan theo đối tượng hàng hóa; áp
dụng bổ sung các loại thuế, phí khác ngoài thuế nhập khẩu.
- Xem xét nâng giá tính thuế tối thiểu đối với mặt hàng tiêu dùng không
thiết yếu theo danh mục Bộ Công Thương đã ban hành.
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Triển khai nghiêm túc các quy định về kiểm tra chất lượng, an toàn thực
phẩm, kiểm dịch động vật, thực vật như: kiểm tra, giám sát vệ sinh an toàn thực
phẩm nông sản trước khi đưa ra thị trường; kiểm tra An toàn, vệ sinh thực phẩm
hàng hóa có nguồn gốc động vật nhập khẩu; quy định trình tự, thủ tục kiểm dịch
cầu và không đầu cơ, tích trữ hàng hóa.