KINH T TH GII V KHU VC CHU
T SAU KHNG HONG N NAY
Phm Quang Lc
V trng V Kinh t-VPTW
1- Tình hình trin kinh tế thế giới
Việc kinh tế toàn cầu phục hồi nhanh hơn dự kiến do tốc độ tăng trởng kinh
tế mạnh tại châu á trong 6 tháng đầu năm 2010 và nhu cầu của khu vực kinh tế của
Mỹ phục hồi là cơ sở quan trọng để Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) trong tháng 7 đã
nâng dự báo về tăng trởng kinh tế toàn cầu năm 2010, từ mức 4,2% theo dự báo
trớc đây lên 4,6%.
Những lo ngại về một cuộc khủng hoảng kép bắt nguồn từ vấn đề về nợ công
của Hy Lạp hiện đã đợc đẩy lùi. Theo nhận định của IMF, kinh tế toàn cầu sẽ
không trải qua đợt suy thoái lần thứ 2. Sau khi vấn đề khủng hoảng nợ Hy Lạp lan
ra toàn cầu khiến các nhà đầu t hoang mang, thị trờng chứng khoán đi xuống, đã
có một dấu hiệu cho thấy khu vực Châu Âu đang lấy lại đà tăng trởng : Kinh tế Bồ
Đào Nha tăng trởng tốt
1
, thị trờng việc làm ở Đức phục hồi mạnh
2
và tình hình
ngành ngân hàng châu Âu không xấu nh dự báo
3
. Hy Lạp đã giảm đợc 40%
thâm hụt ngân sách trong 5 tháng đầu năm. Đây là dấu hiệu khiến thị trờng có thể
lạc quan với tốc độ phục hồi trong năm nay.
4
Mặc dù xuất hiện nhiều dấu hiệu tích cực, nhng kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn
nhiều rủi ro.
hai kênh thơng mại và tài chính.
2- Diễn biến tại hai nền kinh tế chủ chốt :
a. Kinh tế Mỹ : Phục hồi với những nền tảng không vững chắc
Số liệu mới nhất cho thấy GDP Mỹ tăng 3,0% trong quý I năm 2010, tiếp tục
duy trì đà phục hồi, song thất nghiệp vẫn ở mức cao 9,7%. Bớc sang quý II/2010
và tháng 5 này, nền kinh tế Mỹ không có nhiều dầu hiệu cải thiện căn bản, do nhu
cầu tiêu dùng vẫn yếu. Mỹ là nớc nhập khẩu nhiều nhất thế giới, do đó tổng cầu
của Mỹ yếu sẽ ảnh hởng tới các động lực phục hồi tăng trởng kinh tế thế giới.
Kinh tế Mỹ đang chịu áp lực ngày càng tăng từ khủng hoảng nợ châu Âu.
Chỉ số kinh tế dẫn trớc (LEI) đã giảm lần đầu tiên trong tháng 4/2010 sau 12
tháng tăng liên tục kể từ tháng 3-4-2009 khi chỉ số này bắt đầu đi lên báo hiệu sự
xuất hiện điểm uốn mang tính bớc ngoặt. Mặc dù mức giảm của LEI trong tháng 4
là khá nhỏ (0,1%), nhng cho thấy sự đổi hớng đáng lo ngại của các thành tố tạo
nên chu kỳ kinh tế Mỹ : quá trình phục hồi đang tiến tới điểm nhạy cảm - nếu vợt
qua thì có thể đi lên mạnh mẽ, nếu không vợt qua thì có thể "hụt hơi" dẫn tới khủng
hoảng "hai đáy".
Từ cuối 2009 đến nay đồng USD bớc vào giai đoạn tăng giá, vừa cho phép
Mỹ tiếp tục thu hút các dòng vốn vay từ bên ngoài, vừa cho thấy tình trạng vay nợ
của Mỹ sẽ còn kéo dài.
5
Nguy cơ lan rộng của khủng hoảng nợ châu Âu càng làm
tăng xu thế trên, kích động các dòng vốn rút khỏi các thị trờng bất ổn để chuyển
về nơi an toàn là trái phiếu chính phủ Mỹ. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa Mỹ
sẽ "miễn nhiễm" trớc nguy cơ lan rộng cuộc khủng hoảng nợ Châu Âu.
6
Chuyên
gia kinh tế của JP Morgan đánh giá, khi đồng Euro mất giá 10%, tăng trởng GDP
của Mỹ sẽ co "bốc hơi" 0,3%, đồng thời còn khiến chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ thu
hẹp mất 0,1%.
Bên cạnh đó, tình trạng thâm hụt ngân sách của Mỹ lên tới 10% GDP (1420
quan tâm hàng đầu của các nớc sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, trớc tiên là
Mỹ. Ngày 15/7 vừa qua, Quốc hội Mỹ đã thông qua Dự luật đại cải tổ ngành tài
chính Mỹ nhằm mục đích ngăn chặn sự lặp lại của cuộc khủng hoảng tài chính
2007 - 2009
7
.
b. Kinh tế Trung Quốc : Kích thích kinh tế ngắn hạn đe dọa chất lợng
tăng trởng trung hạn.
Mặc dù đạt đợc tốc độ phục hồi tăng trởng ấn tợng
8
, thặng d thơng mại
trở lại trong tháng 4/2010
9
, nền kinh tế Trung Quốc bớc vào quý II với hai nguy
cơ lớn cha giải quyết đợc là (a) bong bóng tài sản vẫn phình to
10
và (b) nguy cơ
lạm phát càng hiện hữu.
11
Trớc tình hình đó, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc
(NHTW) đã tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ bằng việc lần thứ ba nâng tỷ lệ dự
trữ bắt buộc lên mức 17%.
12
Theo các chuyên gia phân tích, việc NHTW điều chỉnh
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho thấy chính sách tiền tệ đang từng bớc trở lại bình th-
ờng; một mặt phản ánh NHTW lo ngại tính thanh khoản quá mức của đồng NDT
trong tình hình hiện nay, mặt khác cũng cho thấy Chính phủ Trung Quốc đã tăng c-
ờng quản lý, đề phòng lạm phát, phòng ngừa bong bóng tài sản và kinh tế tăng
trởng quá nóng.
chặn bong bóng tài sản, kiềm chế đầu t không hiệu quả nhằm tránh nguy cơ nợ xấu.
Khó khăn sẽ còn gia tăng đối với lĩnh vực xuất khẩu - động lực tăng trởng kinh tế
Trung Quốc - khi đồng NDT đã lên giá với 14% - 17% so với đồng Euro, vì NDT
đợc "neo" vào USD trong khi Euro đã mất giá mạnh (17,6%) so với USD trong 6
tháng qua.
Từ đầu năm đến nay, từ Trung ơng đến địa phơng, các biện pháp kiểm soát
tập trung đối với thị trờng bất động sản đã đợc đa ra. Tháng 4/2010 đã trở thành
tháng trọng điểm điều tiết thị trờng bất động sản. Chính sách mới này gồm 10
điểm ban hành ngày 17/4/2010 đợc coi là "chính sách điều tiết thị trờng bất động
sản nghiêm khắc nhất trong lịch sử". Hệ quả là thị trờng bất động sản dờng nh
đang đứng trớc thời điểm "đông lạnh", khối lợng giao dịch giảm xuống điểm
"đóng băng". Đây là diễn biến rất đáng theo dõi vì nó có thể ảnh hởng tới tốc độ
tăng trởng kinh tế Trung Quốc và các nền kinh tế khác.
Tóm lại, kinh tế Trung Quốc các tháng đầu năm 2010 đã cho thấy xu thế
nóng dần lên, áp lực lạm phát đang tăng dần, đặc biệt giá nhà vẫn tăng quá nhanh.
Trớc tình hình này, Trung Quốc đã đa ra nhiều biện pháp khống chế bao gồm điều
chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc và hàng loạt các chính sách điều chỉnh thị trờng bất
động sản. Sau 3 lần tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, việc tăng lãi suất NDT có thể chỉ còn
là vấn đề thời gian. Rõ ràng, Trung Quốc đang đứng trớc những lựa chọn điều
chỉnh chính sách vĩ mô quan trọng vào các tháng tới đây.
3. Khủng hoảng nợ công trở thành vấn đề toàn cầu :
Những vấn đề về nợ công của châu Âu vẫn là một nguy cơ đối với đà phục
hồi của kinh tế toàn cầu. Diễn biến phục hồi của nền kinh tế thế giới trong tháng
5/2010 cho thấy vẫn còn đó những điểm "dễ tổn thơng" trong hệ thống kinh tế
quốc tế. Cuộc khủng hoảng nợ công tại một quốc gia nh Hy Lạp đã trở thành vấn
đề "cấp bách" của cả một khu vực kinh tế nh EU và là chủ đề nghị sự "nóng" của
13 Một số nhà phân tích cho rằng, Trung Quốc hiện nay giống hệt Nhật Bản cuối thập niên 1980: Đầu t
quá mức dẫn tới d thừa công suất ở nhiều ngành kinh tế khiến lợi nhuận suy giảm, cho vay quá nhiều đe
dọa gia tăng nợ xấu trong tơng lai, giá bất động sản và cổ phiếu vợt xa giá trị thực - từ đó có ngời chỉ
chữ V, nếu làm sai thì hình chứ W sẽ lại xuất hiện.
Kinh tế EU : Liệu có thành "tâm bão" khủng hoảng nợ công toàn cầu?
Những số liệu thống kê cho thấy nền kinh tế khu vực đồng Euro phục hồi
tăng trởng rất "phập phù", vì trong quý IV năm 2009 thì GDP của khu vực đã
không tăng và chỉ đạt 0,2% trong quý I/2010. Triển vọng quý II/2010 không có gì
14 Theo Báo cáo của BOJ ngày 20/5, mức chi tiêu theo hộ gia đình chỉ tăng 0,3% trong quý I/2010, tốc độ
tăng chậm hơn 0,7% so với giai đoạn trớc đó. Chỉ tiêu trong kinh doanh tăng 1%, ít hơn quý 4 năm 2009
(1,35). Đầu t nhà đất 0,3%, mức tăng đầu tiên trong vòng 5 quý.
sáng sủa khi cả EU và khu vực đồng Euro đang tập trung xử lý khủng hoảng nợ Hy
Lạp và ngăn chặn nguy cơ lan rộng tới một loạt quốc gia thành viên khác.
Nhìn lại năm 2009, nền kinh tế EU và khu vực đồng Euro bớc vào đầu năm
với nhiều dự báo "cuộc khủng hoảng sẽ không tác động mạnh nh ở Mỹ", với những
lập luận về sự u việt của mô hình ngân hàng Châu Âu trớc cơn bão tài chính và
cho vay dới chuẩn. Nếu nh nửa đầu năm, tâm lý này vẫn còn ngự trị thì đến cuối
năm 2009, tình hình kinh tế EU đã xấu đi nhanh chóng do vấn đề nợ công ngày
càng trở thành ngòi nổ khủng hoảng kinh tế khu vực. Những rạn nứt đầu tiên đã bắt
đầu từ tình trạng khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp.
15
Nguy cơ về cuộc khủng nợ công ở khu vực đồng Euro đã tác động mạnh đến
niềm tin của giới đầu t vào đồng Euro. Đồng Euro sụt giảm mạnh trong quý
I/2010
16
(giảm khoảng 14% so với USD), khi cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy
Lạp trở thành vấn đề cấp bách của toàn nền kinh tế EU cũng nh toàn cầu. Điều mà
giới đầu t lo lắng là cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp sẽ lan rộng sang các
"nớc yếu" ở châu Âu. Theo nhiều chuyên gia, sau Hy Lạp, quốc gia có khả năng
"lâm nạn" cao nhất là Tây Ban Nha, đất nớc đang chìm sâu trong suy thoái. Quốc
gia láng giềng của Tây Ban Nha là Bồ Đào Nha cũng là một mắt xích dễ đứt
"Euro mất giá, USD lên giá" đã xuất hiện rõ nét. Sự đảo chiều của tỷ giá USD/Euro
chắc chắn sẽ có những tác động sâu rộng đối với quan hệ kinh tế quốc tế trong thời
gian tới.
Phối hợp chính sách ứng phó khủng hoảng nợ công diễn ra đồng loạt và
mạnh trên quy mô toàn cầu : Tình trạng khủng hoảng nợ Hy Lạp diễn biến xấu đi
nhanh chóng đã "kích hoạt" hàng loạt các hành động chính sách phối hợp ứng phó
khẩn cấp trên quy mô toàn cầu trong tháng 5/2010. Các bớc hành động mau lẹ,
quyết đoán này đã bớc đầu ngăn chặn nguy cơ "vỡ nợ quốc gia" của Hy Lạp, sự
sụp đổ niềm tin vào đồng Euro và cơn hoảng loạn trên thị trờng tài chính toàn cầu.
Chuỗi hành động này cũng cho thấy các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế, các nền
kinh tế chủ chốt và các Ngân hàng TW lớn đã rút đợc nhiều bài học từ cuộc khủng
hoảng suốt 2 năm qua và phối hợp chính sách ứng phó khủng hoảng toàn cầu tốt
hơn.
Các tổ chức quốc tế và khu vực vẫn lạc quan về triển vọng kinh tế năm 2010
bất chấp nguy cơ khủng hoảng nợ công vẫn lớn : Điều đáng lu ý là trong bối cảnh
khủng hoảng nợ công Châu Âu khẩn cấp nh vậy, các tổ chức quốc tế và khu vực
vẫn đa ra những dự báo lạc quan cho tăng trởng kinh tế EU và toàn cầu năm 2010
và nhận định đồng Euro sẽ không sụp đổ nh giới bình luận nhận định. Đây có thể
là một cách "trấn an" công chúng và giới đầu t trong cơn hoảng loạn. Tuy nhiên,
những tác động của tình trạng khủng hoảng nợ công tại EU và đồng "Euro yếu" đối
với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là tác động với một độ trễ nhất định tới các nền
kinh tế hớng xuất khẩu vào thị trờng EU, là không thể xem nhẹ.
Mặc dù những nguy cơ đối với sự ổn định tài chính toàn cầu đã giảm bớt do
tác động từ quá trình hồi phục kinh tế, nhng lo lắng về rủi ro nợ ở các nớc phát
triển có thể hủy hoại những cải thiện về ổn định và kéo dài giai đoạn sụp đổ tài
chính. Bốn nhóm biện pháp chính sách đợc IMF khuyến nghị cho việc quản trị
nền kinh tế thế giới hiện nay gồm : (1) Xử lý thận trọng thâm hụt ngân sách nhằm
tránh đẩy cuộc khủng hoảng sang giai đoạn mới; (2) Thực hiện tốt chiến lợc thoát
khủng hoảng, đảm bảo tạo ra một hệ thống tài chính lành mạnh và có quy mô thích
hợp để có thể cung cấp nguồn tín dụng cho khu vực t nhân; (3) Triển khai các
21
Để phòng tránh nó, nhiều chính phủ bắt
đầu lên các chơng trình "thắt lng buộc bụng" cắt giảm chi tiêu để không làm cho
các "quả bom nợ công" phìng to lên. Do đó, khả năng tốc độ tăng trờng kinh tế thế
giới chậm lại vào nửa cuối năm 2010 hoặc trong năm 2011 vẫn không thể loại trừ.
(Theo ngun ti liu ca B K hoch v u t; B Ngoi giao; Vin Khoa
hc v Xa hi Vit Nam).
20 Xem TTXVN (18/9/2009): "Nợ công của thế giới lên tới hơn 35.000 tỷ USD";
21 Theo ớc tính của IMF (T.4/2009), tỷ lệ nợ công/GDP của các nền kinh tế phát triển sẽ tăng 20 điểm %
trong năm 2009, khoảng 1/4 của sự gia tăng này là do các gói hỗ trợ tài chính. Đối với các nền kinh tế
phát triển trong G.20, cán cân tài khóa sẽ xấu đi nghiêm trọng, thâm hụt ngân sách trung bình sẽ ở mức
9,75% GDP, tăng tới 8,0 điểm % so với năm 2007, trong đó các gói hỗ trợ khu vực tài chính và kích thích
kinh tế đóng góp một nửa vào sự "xấu đi" này. Đối với các nền kinh tế mới nổi trong Nhóm G.20, cán cân
tài khóa xấu đi ít hơn và chủ yếu là do giá hàng hoá và tài sản giảm. IMF cũng ớc tính nếu tăng trởng
GDP giai đoạn 2009-2010 thấp hơn, giảm thêm 1 điểm %/năm, thâm hụt ngân sách trung bình sẽ tăng
thêm tơng ứng 1 điểm %/năm và tỷ lệ nợ công/GDP sẽ tăng tơng ứng thêm 6 điểm % năm vào năm
2011.