Báo cáo khoa học " KINH TẾ VIỆT NAM ĐANG TRÊN ĐÀ PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỂN " doc - Pdf 15

KINH TẾ VIỆT NAM ĐANG TRÊN ĐÀ PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỂN

Ts. Hoàng Hải
Tổng Biên tập Tạp chí Mặt trận

Theo các số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội của nước ta trong sáu
tháng đầu năm 2010 cho thấy, kinh tế nước ta vẫn đang trên đà phục hồi và phát
triển theo hướng tích cực với mức tăng trưởng khá trên hầu hết tất cả các ngành,
lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6
tháng đầu năm 2010 tăng 6,16% so với cùng kỳ năm trước và tăng đều ở cả 3 khu
vực. Tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm tuy chưa bằng mục tiêu 6,5% đề ra cho
cả năm nhưng là tốc độ tăng khá cao trong điều kiện xản xuất, kinh doanh
trong nước còn gặp khó khăn. Mặt khác, tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm
theo xu hướng mức tăng quý sau cao hơn quý trước cho thấy nền kinh tế nước
ta đang phục hồi nhanh và có khả năng đạt mức tăng trưởng cao hơn trong thời
gian tới.
1-Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong 6
tháng đầu năm 2010
Trong lĩnh vực sản xuất sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6
tháng đầu năm 2010 tuy gặp nhiều khó khăn nhưng nhờ có những chính sách và
biện pháp kịp thời, thị trường xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản đã khôi
phục và phát triển, sản xuất nông, lâm, thuỷ sản 6 tháng đầu năm vẫn đạt khá so
với cùng kỳ năm trước. Giá trị sản xuất toàn ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6
tháng năm 2010 ước đạt 103,4 nghìn tỉ đồng, tăng 5,34% so với cùng kỳ năm
trước, trong đó nông nghiệp đạt 75,9 nghìn tỉ đồng, tăng 5,41%; lâm nghiệp đạt 3,4
nghìn tỉ đồng, tăng 4%; thuỷ sản đạt 24,1 nghìn tỉ đồng, tăng 5,32%.
Sản lượng lúa của các địa phương phía Bắc ước đạt 6,82 triệu tấn, giảm 3,25
vạn tấn (giảm 0,5%) so với cùng kỳ năm 2009. Nguyên nhân là do thiếu nước ngay
từ đầu vụ, nắng hạn kéo dài, sâu bệnh gây hại lúa đã làm năng suất lúa giảm nhẹ.
Sản lượng lúa của các địa phương phía Nam ước đạt 12,37 triệu tấn, tăng 52,77
vạn tấn (tăng 4,5%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng do diện tích gieo

xuyên, đời sống dân cư có nhiều cải thiện. Khu vực dịch vụ tiếp tục phát triển với
tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 6/2010
ước đạt 127,5 nghìn tỉ đồng, tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2009, nếu loại trừ yếu
tố giá thì tăng 16,4%. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6
tháng đầu năm, kinh doanh thương nghiệp tăng 27,6%; khách sạn nhà hàng tăng
22,1%; dịch vụ tăng 23,9%; du lịch tăng 32,6%. Về vận tải hành khách 6 tháng đầu
năm 2010 ước tính tăng 13,4% về vận chuyển và tăng 15,6% về luân chuyển so với
cùng kỳ năm 2009. Vận chuyển hàng hoá 6 tháng ước tính tăng 11,4% về vận
chuyển và tăng 9,4% về luân chuyển so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải
hàng hoá đường bộ tăng 12,1% và 12,2%; đường sông tăng 5,1% và tăng 1,8%;
đường biển tăng 21% và tăng 10%; đường sắt giảm 0,8% và tăng 2,7%. Lượng
khách quốc tế đến Việt Nam cũng tăng, ước đạt hơn 2,5 triệu lượt người, tăng
32,6% so với cùng kỳ năm trước. Khách đến từ các nước Trung Quốc tăng 92,5%;
Cam-pu-chia tăng 88,9%; Hàn Quốc tăng 28,3%; Thái Lan tăng 28,1%; Ôxtrâylia
tăng 25,7%; Đài Loan tăng 20,5%; Nhật Bản tăng 18,5. Số lượng khách nội địa 6
tháng đầu năm ước đạt 14,8 triệu lượt, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước. Khối
lượng vận tải hàng hoá đạt 343,9 triệu tấn, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2009,
khối lượng luân chuyển đạt 97,4 tỉ tấn/km, tăng 9,4% so với cùng kỳ. Mạng lưới,
dịch vụ bưu chính, viễn thông cũng không ngừng phát triển, số thuê bao sử dụng
Internet 6 tháng đầu năm 2010 ước đạt 2,47 triệu, tăng 23,89% so với cùng kỳ năm
2009.
Với việc tăng nhẹ trong tháng 6, CPI sáu tháng qua đã tăng 4,78% so với
tháng 12/2009 và tăng 8,75% so với cùng kỳ 2009. CPI tháng 6 tăng ở 10/11 nhóm
trong rổ hàng hoá chung với mức tăng từ 0,01-0,62%. Bật lên dẫn đầu về mức tăng
là nhóm hàng đồ uống và thuốc lá với mức tăng 0,62%; tiếp đến là nhóm bưu
chính viễn thông với mức tăng 0,49%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,48%;
hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,46%. Đặc biệt, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng
đang từ vị trí dẫn đầu về mức tăng trong tháng 5 đã đột ngột rơi xuống vị trí tăng
thấp nhất do giá thép, giá nhà và giá vật liệu xây dựng giảm mạnh. Mặc dù các
nhóm hàng hoá chỉ tăng nhẹ nhưng trong tháng 6 này, hai nhóm hàng hoá là hàng

tăng 39,5% so với cùng kỳ năm 2009. Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu tháng 7/2010
ước tính đạt 5,8 tỉ USD, giảm 8,2% so với tháng trước và tăng 20,7% so với cùng
kỳ năm 2009. Các thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là Mỹ (chiếm tỉ
trọng ước đạt 20%), ASEAN đạt 17%, EU 16%, Nhật Bản đạt 11%, Trung Quốc
đạt 9,5%; 5 thị trường xuất siêu lớn nhất của Việt Nam là Mỹ, Philippin, Ôxtrâylia,
Thuỵ Sỹ và Cam-pu-chia. Kim ngạch nhập khẩu tháng 6 ước đạt 7,2 tỉ USD, tăng
nhẹ so với tháng trước. Tính chung kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2010
ước đạt hơn 38,9 tỉ USD, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó nhập
khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 16,15 tỉ USD, tăng
48,9%. Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu tháng 7/2010 ước tính đạt trên 6,9 tỉ USD,
giảm 1,5% so với tháng trước và tăng 9% so với cùng kỳ năm 2009. Các thị trường
nhập khẩu chủ yếu 6 tháng đầu năm 2010 là Trung Quốc (tỉ trọng đạt 23%),
ASEAN (20%), Hàn Quốc (10,5%), Nhật Bản (10,5%), EU (8%). Ước nhập siêu
tháng 6 là 1,2 tỉ USD, chiếm 20% kinh ngạch nhập khẩu.
Đầu tư phát triển tiếp tục có chuyển biển tích cực. Tổng vốn đầu tư toàn xã
hội tháng 6 đầu năm ước đạt 337 nghìn tỉ đồng, bằng 43,5% GDP, trong đó vốn
đầu tư từ ngân sách nhà nước ước đạt 51 nghìn tỉ đồng, bằng 47% so với kế hoạch
năm, trái phiếu Chính phủ đạt 21 nghìn tỉ đồng. Ước tổng giá trị vốn ODA 6 tháng
đầu năm 2010 đạt 1.410 triệu USD, bằng 57% kế hoạch giải ngân cả năm 2010,
tăng 11% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó vốn vay khoảng 1.310 triệu USD,
vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 100 triệu USD. Vốn đầu tư toàn xã hội theo
giá thực tế thực hiện 6 tháng đầu năm ước tính đạt 390,1 nghìn tỉ đồng, tăng 13,4%
so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm vốn khu vực Nhà nước 166,8 nghìn tỉ đồng,
tăng 17,8%; khu vực ngoài Nhà nước 120 nghìn tỉ đồng, tăng 9%; khu vực có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài 103,3 nghìn tỉ đồng, tăng 11,8%.
Sáu tháng đầu năm 2010, cả nước có 438 dự án được cấp giấy chứng nhận
đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới lại là 7,9 tỉ USD, giảm khoảng 20% về
số dự án nhưng tăng 43% về vốn đăng ký cấp mới so với cùng kỳ năm 2009. Đã có
121 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 525 triệu
USD, bằng 10,7% so với cùng kỳ năm 2009. Tuy nhiên, quy mô vốn đầu tư tăng

xuất gặp nhiều khó khăn do nguồn điện cung cấp hạn chế. Trong điều kiện nguồn
huy động từ thuỷ điện gặp nhiều khó khăn do thời tiếp khô hạn kéo dài, nhu cầu về
điện tăng mà lượng điện cung cấp không đáp ứng được. Giá trị sản xuất và phân
phối điện 6 tháng đầu năm tăng chủ yếu do sản lượng điện sản xuất tăng cao 15,5%
(cùng kỳ năm trước tăng 7,9%). Thiên tai diễn biễn phức tạp. Đầu tư phát triển vẫn
theo chiều rộng là chủ yếu, hiệu quả đầu tư chưa cao; sức cạnh tranh của hàng hoá
thấp; các cân đối vĩ mô chưa thực sự vững chắc; đời sống dân cư tuy đã được cải
thiện nhưng một số vùng, địa phương vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Do đó để thực
hiện tốt mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010, góp phần hoàn thành
các mục tiêu và nhiệm vụ của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010,
các cấp, các ngành, các địa phương cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số
03/NQ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2010 và Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06 tháng 4
năm 2010 của Chính phủ, tập trung vào một số vấn đề trọng tâm sau đây :
Một là, nâng cao hiệu quả, chất lượng, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng. Doanh nghiệp cần phải chủ động và
có giải pháp hữu hiệu để đối phó với những thách thức có thể xảy ra. Tiếp tục đẩy
mạnh cải tiến công nghệ, phát huy thiết bị đã sản xuất được trong nước để giảm chi
phí, hạ giá thành và tăng hiệu quả đầu tư, góp phần giảm nhập siêu. Khẩn trương
thực hiện cơ cấu lại doanh nghiệp, tiến tới xây dựng lực lượng doanh nghiệp có sức
mạnh về mọi mặt nhằm nâng cao tiềm lực và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế.
Chính phủ cần có chính sách, giải pháp hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng, nhất là
hàng tiêu dùng cao cấp hoặc đã sản xuất được ở trong nước. Nhanh chóng hoàn
thiện việc xây dựng hàng rào kỹ thuật hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không
thiết yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước. Có cơ chế
thuế suất đúng mức nhằm khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất nhiều sản phẩm
và người tiêu dùng ưu tiên dùng hàng Việt Nam.
Hai là, thực hiện đánh giá lại hiệu quả của các hoạt động đầu tư, đặc biệt đối
với đầu tư công để có những điều chỉnh hợp lý. Nâng cao năng lực quản lý đầu tư
cũng như hiệu lực công tác giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư nguồn vốn của nhà
nước. Cơ cấu lại đầu tư của nhà nước theo hướng tăng thêm đầu tư cho y tế, đào

dựng phương án cụ thể về chế độ, chính sách hỗ trợ thiệt hại do bão lụt gây ra để
có căn cứ chủ động hỗ trợ kịp thời cho người dân.
Sáu là, rà soát lại quy trình triển khai thực hiện và tiến hành đánh giá tổng
thể các chương trình, dự án liên quan đến giảm nghèo đã và đang triển khai thực
hiện. Huy động mọi nguồn lực để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. Lồng
ghép và huy động tối đa các nguồn vốn, tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng và
đưa vào sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời
sống dân cư, nhất là ở vùng nông thôn. Đẩy mạnh và thực hiện đồng bộ các giải
pháp tuyên truyền, vận động và thuyết phục người dân ý thức vươn lên thoát nghèo.
_______________
(*) Nguồn tài liệu : Báo cáo của Tổng cục Thống kê


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status