MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM TS. Hoàng Xuân Hòa
Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế
Văn phòng Trung ương Đảng Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 làm suy thoái nền
kinh tế thế giới, các nền kinh tế mới nổi như Nga, Braxin, Ấn Độ và Hàn Quốc,
ASEAN đã có sự phục hồi vươn lên mạnh mẽ, đặc biệt là sự tăng trưởng vượt bậc
của Trung Quốc, đã tạo ra động lực chính góp phần đưa thế giới thoát khỏi khủng
hoảng và châu Á đang ngày càng khẳng định vị thế của mình trong mối tương quan
với kinh tế thế giới. Tuy nhiên, nền kinh tế toàn cầu vẫn còn đang phải đối mặt với
nhiều vấn đề khó khăn lớn như: Nợ công và thâm hụt ngân sách do tác động của
các gói giải cứu nền kinh tế gây bất ổn cho kinh tế vĩ mô; Tỷ lệ thất nghiệp cao vẫn
đang đe dọa nhiều nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển; Sức ép
lạm phát ở các nước đang phát triển ngày càng gia tăng… Những vấn đề này cũng
có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế của nước ta. Trong khuôn khổ của
bài viết này, đề cập đến một trong những khó khăn, thách thức của nhiều quốc gia
hiện nay đó là vấn đề quản lý nợ công.
1- Xu hướng nguy cơ khủng hoảng nợ công và biện pháp ứng phó của
các nước trên thế giới
Những lo ngại về một cuộc khủng hoảng nợ công được các nhà kinh tế cảnh
báo từ cuối năm 2009 khi các gói khích thích kinh tế với tổng số vốn hơn 2,2 nghìn
tỷ đô la tương đương 4,7% GDP toàn cầu được các nước triển khai nhanh chóng
khiến thâm hụt ngân sách của các chính phủ tăng vọt. Nguy cơ khủng hoảng nợ
công hiện tập trung vào những nước có tỷ lệ nợ công lớn, đồng thời cơ cấu nợ
thiên lệch về những khoản nợ ngắn hạn (thời hạn dưới 12 tháng) và nợ nước ngoài
cũng như do hạn chế về khả năng quản trị nợ.
Tỷ lệ nợ công của 11 nước trong khu vực đồng Euro (Eurozone) đã vượt
mức 60% GDP cho phép (Hy Lạp 124,9%, Italia 116,7%, Bỉ 101,2%, Bồ Đào Nha
84,6%). Nếu tính trung bình, tỷ lệ nợ công của 16 nước Eurozone sẽ ở mức 84%
GDP và thâm hụt ngân sách gần 7% GDP. Các nhà đầu tư bắt đầu lo ngại khả năng
vỡ nợ của một số nước Eurozone như Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ai
lên… khiến cho đồng Euro liên tục mất giá (khoảng 17,6% trong 6 tháng qua) và
đẩy lãi suất trái phiếu chính phủ các nước này lên mức cao kỷ lục.
Với Nhật Bản, các tổ chức tài chính thế giới (IMF, WB) liên tục đưa ra cảnh
báo tình trạng nợ công quá cao của Nhật Bản có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính
dựa trên các căn cứ như:
- Tỷ lệ nợ công của NB trên GDP từ mức 60-70% đầu những năm 90 liên
tục tăng qua các năm. Năm 1997 vượt ngưỡng 100%, năm 2009 lên tới 174% và
dự báo năm 2010 có thể là 181%;
1
Viện KHXHVN, Báo cáo số 6 năm 2010.
- Tính về giá trị, nợ công dài hạn của chính phủ Nhật Bản năm 2009 là
825.000 tỷ Yên, năm 2010 sẽ là 862.000 tỷ Yên. Nếu tính gộp cả các khoản nợ
ngắn hạn khác thì đến cuối năm 2010, nợ công của Nhật Bản có thể lên tới 973.163
tỷ Yên (204% GDP);
- Tỷ lệ phụ thuộc vào công trái của thu ngân sách ngày càng lớn (tăng từ
19% năm 1994 lên 52% năm 2009 và 48% năm 2010);
- Thâm hụt ngân sách trên GDP ở mức cao và có xu hướng tăng (từ 3-5%
năm 2005-2008 lên đến 8,3% năm 2009 và 9,3% năm 2010).
Nợ công của một số quốc gia (tháng 2/2010)
Trước các nguy cơ khủng hoảng nợ công, biện pháp cơ bản đầu tiên được
các nước áp dụng là thắt chặt chi tiêu công, rà soát lại kế hoạch ngân sách để cắt
giảm, tăng thuế, giảm các chương trình phúc lợi. Đối với EU, đã nhanh chóng thiết
lập Cơ chế bình ổn tài chính châu Âu với việc đảm bảo nguồn tín dụng 750 tỷ Euro
vội vã thắt chặt ngân sách có thể phản tác dụng, đặc biệt sau một cuộc khủng
hoảng trong hệ thống ngân hàng. Bởi vậy, thay vì tìm cách cắt giảm mạnh thâm hụt
ngân sách ở thời điểm hiện nay, chính phủ các nước giàu cần đưa ra cam kết sẽ thắt
chặt ngân sách khi nền kinh tế đã phục hồi bền vững hơn và đưa ra những phương
án cụ thể nêu rõ thâm hụt ngân sách sẽ được giảm xuống bằng cách nào, cần cam
kết cải thiện nền tài chính công bằng cách cắt giảm chi tiêu trong tương lai, thay vì
đánh thuế cao hơn. Phần lớn các quốc gia châu Âu đều đã không còn nhiều cơ hội
để tăng thuế. Tại nhiều nước thuộc châu lục này, doanh thu từ thuế đã lên tới mức
40% so với GDP. Cải cách thuế chỉ đặc biệt cần thiết ở những quốc gia vốn đã phụ
thuộc quá nhiều vào nguồn thu thuế từ thị trường tài chính và địa ốc như Anh và
Ireland. Ngay tại Mỹ, nơi doanh thu từ thuế bằng chưa đầy 30% GDP, việc tăng
thuế cũng không phải là giải pháp tốt nhất. Do đó, việc kiểm soát chi tiêu công nên
được đặt ở vị trí ưu tiên, mặc dù vẫn có cơ hội để tăng thuế. Một giải pháp khác mà
một số nước giàu cần thực hiện là tăng tuổi nghỉ hưu, qua đó sẽ tăng doanh thu từ
thuế (do người lao động làm việc trong thời gian dài hơn) và cắt giảm chi phí
lương hưu trong tương lai. Tác động tiêu cực từ khủng hoảng là đẩy nợ công tăng
vọt, nhưng cũng là cơ hội để thắt chặt kiểm soát chi phí lương hưu và bảo hiểm cho
dân số đang lão hóa của họ.
2- Đánh giá về xu hướng gia tăng nợ công của nước ta và những bất cập
trong công tác quản lý nợ công
Theo số liệu của Bộ Tài chính, ước tính tổng số dư nợ công của Việt Nam
đến cuối năm 2009 khoảng 44,7% GDP. Trong đó, nợ Chính phủ chiếm 35,4%
GDP; nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm 7,9 GDP%; và nợ Chính quyền địa
phương chiếm 1,4 GDP%. Đến hết năm 2010, tỷ lệ nợ công sẽ cao hơn nữa, có thể
sẽ đạt mức 53% GDP. Theo hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội
nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), nợ công còn bao
gồm cả các nghĩa vụ nợ của Ngân hàng Trung ương, các đơn vị trực thuộc Chính
phủ (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước) ở tất cả các cấp chính quyền. Do đó, theo
khái niệm như vậy thì cách tính toán sẽ bao gồm cả nợ của ngân hàng Trung ương
và nợ của các doanh nghiệp nhà nước làm cho số liệu nợ công của Việt Nam do
của Liên minh châu Âu (EU) về tình trạng tài chính quốc gia, tỷ lệ thâm hụt tài chính dưới 3% GDP và tỷ lệ nợ công
chiếm dưới 60% GDP được coi là bình thường
3
Theo Quyết định số 211/2004/QĐ-TTg ngày 14/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng phát
triển tài chính Việt Nam đến năm 2010.
nhiều đến đến tỷ lệ phần trăm trong GDP theo mục tiêu mà chưa quan tâm đúng
mức đến vấn đề quan trọng hơn là cần chú ý đến xu hướng gia tăng của tỷ lệ này.
Đối với Việt Nam, xu hướng gia tăng nợ công đang ở mức báo động, nhất là khi
chúng ta đang trong giai đoạn gia tăng đầu tư với nhiều công trình, dự án dự kiến
với số vốn rất lớn như dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận, đường sắt cao tốc
Bắc - Nam, quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn
đến năm 2050…; tăng phát hành trái phiếu chính phủ phục vụ cho các chương
trình phát triển
4
; trong khi đó mức bội chi ngân sách (điều chỉnh lên trên 5% GDP),
thâm hụt cán cân vãng lai ngày một gia tăng (chiếm 7,7% GDP), dự trữ ngoại hối
sụt giảm mạnh (gần 45%) sau khủng hoảng, hiệu quả kinh tế trong sử dụng vốn
vay cho đầu tư phát triển không cao, đặc biệt là đầu tư công (hệ số ICOR luôn ở
mức cao trong những năm gần đây, năm 2009 ở mức 8)…
Ngoài ra, Việt Nam còn phải đối mặt với việc thực hiện đúng hạn đối với
các cam kết nợ công, cả ngoài nước và trong nước, trước các áp lực về phát triển
kinh tế và xã hội, duy trì mức tăng trưởng cao Mức dự trữ ngoại hối của Việt
Nam đã giảm sẽ làm tăng nguy cơ thực hiện những cam kết về nợ trong bối cảnh
xảy ra khủng hoảng tiền mặt. Với mức nợ công tăng cao, vượt ngưỡng an toàn theo
mục tiêu đề ra rất dễ dẫn tới thâm hụt ngân sách cao
5
, gây áp lực mạnh lên lạm
phát, làm mất ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh tài chính quốc gia bị đe doạ.
Bên cạnh đó, tình trạng nợ và công tác quản lý nợ công của Việt Nam cũng
còn có một số bất ổn như: công tác rà soát, thống kê số liệu cũng như các văn bản
Để khắc phục những bất ổn về tình hình nợ cũng như công tác quản lý nợ
công, xin kiến nghị một số biện pháp sau:
Một là, thống nhất quan điểm nợ công, nợ quốc gia là gánh nặng nguy hiểm
cho quốc gia. Trong khi hiệu quả đầu tư thấp thì việc dựa vào vay nợ công để tăng
trưởng sẽ dễ dẫn đến khủng hoảng nợ, khủng hoảng kinh tế. Do vậy, cần thắt chặt
chi tiêu công, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi từ ngân sách nhà nước nhằm giảm
dần và đưa bội chi ngân sách về mức cho phép (dưới 5% GDP), từ đó làm giảm
gánh nặng nợ. Đồng thời cần có chính sách điều hành linh hoạt hơn nhằm ổn định
kinh tế vĩ mô để tăng thu ngân sách nhà nước, tăng trưởng kinh tế cao, đẩy mạnh
xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, tăng cường dự trữ ngoại tệ để cải thiện chỉ số nợ và
các cân đối lớn của nền kinh tế.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý đối với các hoạt động vay, sử dụng
vốn vay và quản lý nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia. Đẩy mạnh việc thanh
tra, kiểm tra, kiểm toán, quyết toán việc tuân thủ pháp luật của các đơn vị sử dụng
vốn vay để đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay. Việc huy động các nguồn vốn vay
trong nước và nước ngoài của Chính phủ cần được thực hiện trên cơ sở tiến độ giải
ngân, tránh đọng vốn, tăng chi phí trả lãi, đồng thời không gây nên tình trạng gia
tăng áp lực cho thị trường.
Ba là, đối với nợ nước ngoài, cần áp dụng các tiêu chuẩn giám sát nợ theo
thông lệ quốc tế nhằm duy trì giới hạn nợ ở mức an toàn. Giảm vay nợ cho các
chương trình không hiệu quả, quản lý chặt chẽ vay nợ của doanh nghiệp được
Chính phủ bảo lãnh. Tổ chức thực hiện thanh toán trả nợ, đảm bảo trả nợ đầy đủ,
đúng hạn, không để phát sinh nợ quá hạn làm ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế.
8
Các nhà tài trợ nước ngoài đã cam kết sẽ ủng hộ 8 tỷ ODA trong năm 2010, tăng đáng kể so với con số 5 tỷ USD
cam kết trong năm 2009.