PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM KẾT QUẢ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
ThS. Phạm Ngọc Thắng
Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế
Văn phòng TW Đảng
Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 đã được Quốc hội khóa XI, kỳ
họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002, có hiệu lực thi hành từ năm ngân
sách 2004. Đây là một Luật quan trọng trong hệ thống pháp luật về tài chính
của nước ta. Qua hơn 6 năm thực hiện Luật NSNN đã phát huy được nhiều
mặt tích cực, nâng cao được hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản
nhà nước, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức,
cá nhân, củng cố kỷ luật tài chính, tăng cường tích lũy, sử dụng tiết kiệm
NSNN, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Trong
quá trình thực hiện, phâp cấp quản lý ngân sách là một vấn đề nổi cộm cần
phải được tổng kết, phân tích, đánh giá để sửa đổi cho phù hợp nhằm hoàn
thiện hệ thống cơ chế, chính sách tài chính phục vụ mục tiêu phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy nền kinh tế nước ta hội
nhập với nền kinh tế thế giới, đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước nói chung
và việc điều hành ngân sách nhà nước nói riêng.
Theo quy định của Luật NSNN, hệ thống NSNN hiện nay còn mang
tính lồng ghép nên quy trình ngân sách (khâu dự toán và quyết toán) khá
phức tạp. Cụ thể là Quốc hội không những quyết quyết định NSNN theo tổng
mức, cơ cấu và một số lĩnh vực mà còn quyết định dự toán chi từng Bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, mức bổ sung ngân sách Trung
ương cho từng tỉnh. Thành phố trực thuộc Trung ương. Hội đồng nhân dân
các cấp, căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao và tình
hình thực tế tại địa phương quyết định : dự toán ngân sách địa phương; quyết
định phân bổ dự toán ngân sách cấp mình quản lý; phê chuẩn quyết toán ngân
sách địa phương; quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực
không hỗ trợ thì đại phương sẽ rất khó khăn…
Đối với chi đầu tư phát triển, Luật NSNN hiện hành chưa quy định cụ
thể về quyền hạn, trách nhiệm của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư và
trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quản lý vốn đầu tư phát triển (bố
trí vốn, thanh toán và kế toán, quyết toán vốn đầu tư); quy trình quản lý, phân
bổ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên chưa thống nhất (cơ quan
quản lý, tiêu thức phân bổ ngân sách…), nên việc hạch toán kế toán và tổng
hợp báo cáo chi NSNN của Kho bạc Nhà nước gặp khó khăn. Ngoài ra, Luật
NSNN và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định rõ cơ chế kiểm soát
cam kết chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước. Vì vậy, một mặt làm công tác
quản lý chi NSNN chưa hiệu quả và chưa nâng cao được trách nhiệm, kỷ luật
tài chính đối với cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước và các đơn vị sử dụng
NSNN; mặt khác, cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng
nợ đọng trong thanh toán tại một số Bộ, ngành, địa phương.
Từ những vấn đề thực tế đặt ra trên đây, trong thời gian tới để tiến
hành công tác xây dựng định hướng chiến lược trong cải cách ngân sách, xin
đề xuất một số kiến nghị như sau :
Một là, cần nghiên cứu bỏ tính lồng ghép giữa các cấp ngân sách để
đảm bảo tính chủ động, tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của các địa
phương trong việc lập, chấp hành và quyết toán NSNN.
Hai là, nghiên cứu quy định trong Luật NSNN trách nhiệm của các Bộ,
ngành, địa phương và đơn vị sử dụng NSNN sau khi nhận được dự toán đã
được cấp có thẩm quyền phân bổ phải ưu tiên phan bổ vốn cho các công
trình, dự án đang được triển khai theo phân kỳ vốn và đảm bảo tiến độ thực
hiện; quy định rõ về trách nhiệm, quyền hạn của người quyết định đầu tư, chủ
đầu tư, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong việc quản lý vốn đầu tư từ vốn
NSNN.
Ba là, nghiên cứu sửa đổi các quy định về phân cấp nguồn thu, tập
trung vào việc quy định lại khoản thuế thu nhập của các doanh nghiệp hạch
toán toàn ngành cho phù hợp với tình hình thực tế và thuận lọi cho công tác