1 Báo cáo thực tập tốt nghiệp
“Phát triển hoạy động bảo lãnh tại chi nhánh
NH ĐT&PT nam Hà Nội”
2
Mục lục
Lời nói đầu 1
Chương I: Hoạt Động Bảo Lãnh Tại Chi Nhánh NH ĐT&PT Nam Hà Nội 5
1.1. Khái quát về NHTM 5
1.1.1. Khái niệm - đặc điểm NHTM 5
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của NHTM 6
1.2 Hoạt động bảo lãnh của NHTM 13
1.2.1 Khái quát về hoạt động bảo lãnh của NHTM 13
1.2.2 Phát triển hoạt động bảo lãnh của NHTM 15
Chương II : Trực Trạng Hoạt Động bảo Lãnh Của Chi Nhánh NH đT&PT
Nam Hà Nội 33
2.1. Sơ lược quá trình phát triển 33
2.1.2. Cơ cấu tổ chức – Nhân sự 34
2.1.3. Kết quả hoạt động chủ yếu của NH 35
2.2. Trực trạng phát triển hoạt động bảo lãnh của chi nhánh NHĐT&PT
kinh doanh của mình. Tuy nhiên, bảo lãnh trong NHTM còn rất non trẻ. Đặc biệt
kinh doanh tiền tệ tín dụng, đặc biệt HĐBL mới được xuất ở việt nam, và phức tạp
bởi ngành NH nước ta mới phát triển trong vài thập niên gần đây và NHTM là một
loại hình doanh nghiệp do hệ thống luật pháp chưa hoàn thiện, môi trường kinh tế
chưa ổn định, các thủ tục hành chính phức tạp,
HĐBL là hoạt động mang lại lợi nhuận cao cho các NHTM. Do vậy, HĐBL
là một hoạt động cần đặc biệt chú ý của NHTM trong những năm gần đây. Qua thời
gian thực tập tại chi nhánh NHĐT & PT Nam Hà Nội, kết hợp với những kiến thức
đã tiếp thu được tại ĐH kinh tế, xuất phát từ tầm quan trọng của HĐBL, tôi mạnh
dạn chọn đề tài : “phát triển hoạy động bảo lãnh tại chi nhánh NH ĐT&PT nam
Hà Nội” làm chuyên đề thực tập cho mình.
Kết cấu của chuyên đề : Gồm 3 chương cụ thể như sau:
Chương I: Hoạt Động Bảo Lãnh Tại Chi Nhánh Ngân Hàng ĐT&PT Nam Hà
Nội.
4
Chương II: Trực Trạng Hoạt Động bảo Lãnh Của Chi Nhánh NH đT&PT
Nam Hà Nội.
Chương III: Giải Pháp .
5
6
dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một
tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Ngân hàng là tổ chúc thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh
tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế– xã hội
đều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò người thủ quỹ cho toàn xã hội.
Thu nhập từ ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình. Ngân
hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và
một phần đối với nhà nước, tỉnh, thành phố …) đối với các doanh ngiệp , ngân hàng
thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng hoá dự trữ hoặc
xây dựng nhà máy , mua sắm trang thiết bị .Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng
phải thanh toán cho các khoản mua hàng hoá và dịch vụ, họ thường sủ dụng séc, uỷ
nhiệm chi , thẻ điện tử hay tài khoản điện tử…và khi họ cần thông tin tài chính hay
lập kế hoạch tài chính , họ thường đến các ngân hàng để nhận được lời tư vấn. Các
khoản tín dụng của ngân hàng do chính phủ (thông qua mua các chứng khoán của
chính phủ) là nguồn tài chính quan trọng để đầu tư phat triển
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của NHTM
Ngân hàng là một tổ chức tài chính tham gia nhiều hoạt động cung cấp cho
công chúng và doanh nghiệp trong đó một số hoạt động chính của ngân hàng như
sau:
a). Vốn chủ sở hữu :
Để bắt đầu hoặt động ngân hàng chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất
định. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sủ dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà
cửa cho ngân hàng. Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành nguồn vốn này rất đa
dạng tuỳ theo tính chất sở hữu năng lực tài chính của ngân hàng ,yêu cầu và sự phát triển.
7
Nguồn vốn hình thành ban đầu tùy theo tính chất của ngân hàng mà nguồn gốc
hình thành vốn ban đầu khác nhau. Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, ngân sáh
nhà nước cấp , nếu là ngân hàng cổ phần các cổ đông đóng gióp tthông qua cổ phần hay
trọng, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi
trong môi trường cạnh tranh và để có nguồn tiền chất lượng ngày càng cao các ngân
hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau.
Tiền gửi thanh toán: Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc của cá nhân gửi
vào NH để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép , các
nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện. Các
khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều được nhập vào tiền gửi thanh
toán theo yêu cầu ,nhìn chung lãi suất của khoản tiền này rất thấp thay vào đó chủ
tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ của ngân hàng với mức phí thấp. Ngân
hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng, thủ tục làm rất đơn giản.
yêu cầu của ngân hàng là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán trong phạm vi
số dư. Một số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản cho vay.
Một số ngân hàng sử dụng nhiều “biến tướng” của tài khoản thanh toán để nâng lãi
suất loại tiền gửi này nhằm cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác.
Tiền gửi có kỳ hạn: nhiều khoản thu cố định của doanh nghiệp và dân cư sẽ
được chi trả sau một thời gian xác định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho
hoạt động thanh toán song lãi suất lại thấp. Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người
gửi tiền. Ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi kỳ hạn (có kỳ hạn và không kỳ
hạn) người gửi thanh toán không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền
gửi thanh toán đối với loại tiền gửi này. Khi cần chi tiêu người gửi phải đến ngân
hàng để rút tiền gửi thanh toán, song tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suât cao hơn
tuỳ theo độ dài kỳ hạn.
Đối với dân cư . các tầng lớp dân cư có các khoản thu nhập tạm thời chưa sủ
dụng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các
khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền
tiết kiệm ngân hàng cố giắng làm thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà
của dân cư bằng cách mở rộng mạng lưới huy động. đưa ra các hình thức huy động
9
đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn ngân hàng có thể mở cho mọi người tiết kiện
bằng các chứng khoán kho bạc. Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và
của ngân hàng đi vay tăng lên.
Vay trên thị trường vốn: Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng
cũng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ trên thị trường vốn. Rất nhiều
NHTM thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu
cho vay trung và dài hạn. Do vậy, các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho
các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn. thông
thường các khoản vay không có bảo đảm. Các ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất
cao sẽ vay mượn được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực
tiếp bằng cách này: họ thường vay thông qua các ngân hàng đại lí hoặc được bảo
lãnh của ngân hàng đầu tư. Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào tình độ phát
triển của thị trường tài chính tạo điều kiện chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn
của ngân hàng. ghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp. Ngân hàng cần nghiên cứu
kĩ thị trường để quyết định quy mô mệnh giá và thời hạn vay mượn thích hợp…
Các nguồn khác: bao gồn nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán, uỷ nhiệm
thu, chuyển tiền,ký gửi…
d. Các phương thức sử dụng vốn
Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị
tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng. Đồng thời, rủi ro
trong hoạt động có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay. Tình trạng
khó khăn về tài chính của ngân hàng thường phát sinh từ các khoản cho vay khó
đòi, bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau: quản lý yếu kém, cho vay không tuân thủ
nguyên tắc tín dụng, chính sách cho vay không hợp lý và tình trạng suy thoái ngoài
dự kiến. Vì thế chẳng có gì ngạc nhiên khi ta thấy thanh tra ngân hàng thường
xuyên kiểm tra cẩn thận danh mục cho vay của ngân hàng. đồng thời quá trình này
cũng bao gồm việc đánh giá tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà NH đang theo
đuổi nhằm bảo vệ tiền gửi của công chúng
Theo điều 3 quyết định 1627/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001: cho vay là hình
thức cấp tín dụng theo đó TCTD giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng
12
+ Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu
tư phục vụ đời sống.
+ Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ chức tín
dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Việc cho vay
hợp vốn thực hiện theo quy định của quy chế này và quy chế đồng tài trợ của các tổ
chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
+ Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và
thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo
nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm
bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng
dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức
tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn
mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ, rút tiền mặt tại máy rút tiền
tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát
hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các
quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử
dụng thẻ tín dụng.
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa
thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản
thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán.
14
kinh tế, chính trị, rủi ro thông tin không cân xứng, rủi ro không thực hiện hợp đồng,
rủi ro chất lượng sản phẩm kém, rủi ro thanh toán, rủi ro đạo đức. Để hạn chế những
rủi ro này, doanh nghiệp cần phải thu thập thông tin khoa học rồi lựa chọn đối tác
kinh doanh an toàn nhất. Nhưng khi đó chi phí doanh nghiệp phải tự bỏ ra để tìm
hiểu khách hàng là quá lớn, mất thời gian và để có đầy đủ thông tin về bạn hàng có
thể sẽ mất đi cơ hội kinh doanh. Do đó, nền kinh tế đòi hỏi phải có một công cụ để
hạn chế rủi ro và đảm bảo cho các giao dịch thương mại diễn ra an toàn, tăng sự tin
cậy giữa các đối tác kinh doanh. Như vậy từ bản thân nền kinh tế xuất hiện nhu cầu
có một sự đảm bảo trong giao dịch dẫn tới hình thức giao dịch đảm bảo với biểu
hiện là sự đảm bảo của một bên thứ 3, có đủ tư cách và năng lực để dàn xếp, đảm
bảo uy tín, tạo tín nhiệm cho đối tác.
Bảo lãnh xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 60 như một dạng thư tín dụng
dự phòng. Khoảng những năm 70 Bảo lãnh được sử dụng trong các giao dịch quốc
tế. Vào thời gian này các quốc gia thịnh vượng nhanh chóng vì sản xuất dầu hoả ở
Trung Đông liên tục ký kết những hợp đồng kinh tế lớn để thực hiện các dự án cải
tạo cơ sở hạ tầng, dự án canh tân công nông nghiệp quốc phòng. Giá trị rất lớn của
các hợp đồng đòi hỏi phải có một sự đảm bảo chắc chắn về phía đối tác khi tham
gia vào giao dịch. Những bảo lãnh độc lập do ngân hàng phương Tây phát hành đã
rhực sự đáp ứng yêu cầu về thuận lợi và an toàn cho các quốc gia xuất khẩu.
Từ những năm 70 trở đi, phạm vi áp dụng và doanh số bảo lãnh ngày càng
tăng. Bảo lãnh không chỉ áp dụng trong giao dịch quốc tế mà còn cả với hợp đồng
ký kết trong nước, cả trong hợp đồng thương mại và giao dịch tài chính, thuê mua,
liên doanh. Bảo lãnh đã có mặt ở hầu hết các giao dịch lớn trong phạm vi nội địa và
quốc tế.
Năm 1981, tổng số cam kết bảo lãnh của các ngân hàng Mỹ là 49 tỷ.
Năm 1995, tổng số cam kết bảo lãnh của các ngân hàng Mỹ là 250 tỷ.
Số tiền cho một bảo lãnh ngày càng tăng.
16
Bộ luật dân sự nước CHXHCN Việt Nam tại điều 366 định nghĩa: “Bảo lãnh
là việc bên thứ ba ( gọi là người bảo lãnh ) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có
nghĩa vụ ( gọi là người được bảo lãnh ) nếu khi đến hạn mà người được bảo lãnh
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”
Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức tài trợ thông qua uy tín ngân hàng.
Thực chất là việc ngân hàng đưa ra cam kết dưới hình thức phát hành thư bảo lãnh.
Ngân hàng không phải xuất tiền cho bên được bảo lãnh khi phát hành thư bảo lãnh
nên nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng được coi là hình thức tín dụng gián tiếp, được
hạch toán và theo dõi ngoại bảng. Chỉ khi nào phát sinh nghiệp vụ trả nợ thay hoặc
đền bù các vi phạm phát sinh thì khoản tiền đó mới được đưa vào hạch toán nội
bảng và ghi nhận là một khoản vay mới của khách hàng.
Theo quan điểm này bảo lãnh ngân hàng là một hình thức ”Tín dụng chữ ký-
Signature Credit”, là hoạt động không dùng đến vốn của ngân hàng. Bảo lãnh ngân
hàng được coi là một hình thức tín dụng gián tiếp và được coi là tài sản ngoại bảng.
Hiểu đơn giản, bảo lãnh ngân hàng là một hợp đồng kinh tế giữa một bên là
ngân hàng bảo lãnh (Guarantor) và một bên là người thụ hưởng (Beneficiary) trong
đó, bên bảo lãnh cam kết sẽ bồi hoàn một khoản tiền nhất định cho người thụ hưởng
trong trường hợp người được bảo lãnh (account party) vi phạm nghĩa vụ đối với
người thụ hưởng và được quy định trong cam kết bảo lãnh .
Trong một nghiệp vụ bảo lãnh gồm ít nhất ba chủ thể: người bảo lãnh, người
được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh. Nghiệp vụ bảo lãnh có thể được thực hiện
bởi những tổ chức tài chính, các ngân hàng thương mại, các quỹ, tổ chức bảo hiểm.
Quy chế 283/2000/QĐ-NHNN14 quy định: ”Bảo lãnh ngân hàng là cam kết
bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo
lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh)
khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với
bên nhận bảo lãnh.Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số
tiền được trả thay”.
Quỏ trỡnh này, cỏn bộ tớn dụng cần lưu ý trong yờu cầu xin cấp bảo lónh:
thời hạn bảo lónh, số tiền và loại tiền bảo lónh, mục đích bảo lónh, người thụ hưởng
bảo lónh ( cần đối chiếu với các tài liệu kèm theo yêu cầu bảo lónh ).
Đối với từng loại bảo lónh cú cỏc loại hồ sơ như sau:
Đối với bảo lónh vay vốn: Tài liệu xỏc minh tỡnh hỡnh cụng nợ tại thời
điểm gần nhất tại các TCTD, hợp đồng thương mại được cấp có thẩm quyền phê
duyệt, hợp đồng uỷ thác nhập khẩu
Đối với bảo lónh dự thầu: Thư mời thầu (bản sao) và các tài liệu khác (nếu
có) liên quan đến việc bảo lónh.
Đối với bảo lónh thực hiện hợp đồng: Hợp đồng A-B, văn bản phê duyệt
trúng thầu của cấp có thẩm quyền, kế hoạch đấu thầu và phân chia đấu thầu.
Đối với bảo lónh hoàn thanh toỏn: Hợp đồng A-B, văn bản cam kết của các
bên về số tiền ứng trước, thời gian tiến độ hoàn trả, phương thức hoàn trả.
Đối với bảo lónh đảm bảo chất lượng sản phẩm theo hợp đồng: Hợp đồng,
biên bản bàn giao đưa công trỡnh vào sử dụng và cỏc tài liệu thoả thuận về việc
thoả thuận trỏch nhiệm bảo đảm chất lượng sản phẩm của nhà thầu.
Đối với bảo lónh bằng 100% Vốn tự cú của Khỏch hàng thỡ hồ sơ gồm
chứng từ chứng minh tiền đó được chuyển vào TK tiền gửi ký quĩ tại NH , cam kết
dựng tiền ký quĩ đảm bảo cho 100% nghĩa vụ bảo lónh.
CBTD kiểm tra tính đầy đủ về số lượng và tính pháp lý của hệ số Bảo lónh
Bước 2: Quyết định bảo lónh.
Thẩm định hồ sơ bảo lónh: tớnh đầy đủ, hợp pháp và hợp lệ, năng lực pháp
lý, việc chuyển tiền ký quĩ, tỡnh hỡnh SXKD và năng lực khách hàng, đánh giá các
rủi ro tiềm ẩn,
19
Ra quyết định bảo lónh: CBTD trỡnh trưởng phũng Tớn dụng duyệt và ban
lónh đạo ký phát hành thư bảo lónh.
Bước 3: Phát hành bảo lónh
CBTD sau khi kiểm tra tớnh phỏp lý của hồ sơ bảo lónh, căn cứ hạn mức bảo
Cấp hạn mức bảo lónh:
CBTD kiểm tra tớnh phỏp lý của hồ sơ. Trên cơ sở phân tính tỡnh hỡnh sản
xuất kinh doanh, tỡnh hỡnh tài chớnh, khả năng thanh toán, kiểm tra tài sản đảm
bảo, CBTD xác định hạn mức bảo lónh cho khỏch hàng.
CBTD lập tờ trỡnh trỡnh Trưởng phũng Tớn dụng và ban lónh đạo ký duyệt
hạn mức và ký hợp đồng bảo lónh.
Xem xột bảo lónh từng lần: CBTD tiếp nhận hồ sơ bảo lónh của khỏch hàng
khi phỏt sinh nhu cầu gồm:
Giấy đề nghị bảo lónh từng lần (03 bản)
Các hồ sơ liên quan của từng loại bảo lónh:
+ Đối với bảo lónh dự thầu: Thư mời thầu (bản sao) và các tài liệu khác (nếu
có) liên quan đến việc bảo lónh.
+ Đối với bảo lónh thực hiện hợp đồng: Hợp đồng A-B, Văn bản phê duyệt
trúng thầu của cấp có thẩm quyền, kế hoạch đấu thầu và phân chia đấu thầu.
+ Đối với bảo lónh hoàn thanh toỏn: Hợp đồng A-B, Văn bản cam kết của
các bên về số tiền ứng trước, thời gian tiến độ hoàn trả, phương thức hoàn trả.
+ Đối với bảo lónh đảm bảo chất lượng sản phẩm theo hợp đồng: Hợp đồng,
biên bản bàn giao đưa công trỡnh vào sử dụng và cỏc tài liệu thoả thuận về việc
thoả thuận trỏch nhiệm bảo đảm chất lượng sản phẩm của nhà thầu.
Thư bảo lónh: Theo mẫu do NHĐT & PT VN quy định. Nếu mẫu thư do chủ
đầu tư yêu cầu khác với mẫu của Ngân hàng đang thực hiện, CBTD kiểm tra tính
pháp lý của thư bảo lónh, đối chiếu với mẫu thư của Ngân hàng ban hành, điều
chỉnh nội dung thư bảo lónh sao cho vừa đáp ứng yêu cầu của khách hàng vừa đảm
bảo tính an toàn cho Ngân hàng khi phát hành thư bảo lónh.
Bước 3: Phát hành bảo lãnh
21
CBTD sau khi kiểm tra tớnh phỏp lý của hồ sơ bảo lónh, căn cứ hạn mức bảo
lónh trong hợp đồng bảo lónh và đề nghị bảo lónh từng lần, soạn thư bảo lónh và
nạp thông tin vào chương trỡnh TF.
Bước 5: Tất toán bảo lãnh
Nếu thư bảo lónh cú quy định ngày hết hiệu lực cụ thể, CBTD làm thủ tục tất
toán bảo lónh khi hết thời hạn.
Nếu thư bảo lónh khụng ghi rừ ngày cụ thể hết hiệu lực hoặc khi cú yờu cầu
của chủ đầu tư về tất toán bảo lónh trước thời hạn căn cứ vào thông báo hoặc xác
nhận của bên yêu cầu bảo lónh về việc hoàn thành nghĩa vụ liờn quan đến bảo lónh
của bờn được bảo lónh thỡ CBTD lập tờ trỡnh trỡnh Trưởng phũng và Lónh đạo tất
toán bảo lónh.
Sau khi Lónh đạo ký duyệt tờ trỡnh chấp thuận tất toỏn bảo lónh, CBTD
chuyển kế toỏn theo dừi tất toỏn bảo lónh.
1.2.2.3. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng
So với L/C thì bảo lãnh ra đời khá muộn nhưng từ khi ra đời bảo lãnh ngày
càng khẳng định vai trò của nó không chỉ đối với ngân hàng, người được bảo lãnh,
người thụ hưởng bảo lãnh mà còn cả đối với nền kinh tế. Bảo lãnh không chỉ bó hẹp
trong các giao dịch trong nước mà còn được sử dụng rộng rãi trong giao dịch quốc
tế, các hợp đồng lớn có yếu tố nước ngoài khi các bên chưa thực sự tin tưởng nhau
thì không thể thiếu hình thức bảo lãnh của ngân hàng.
Đối với Ngân hàng:
Bảo lãnh ngân hàng giúp ngân hàng đa dạng hoá danh mục sản phẩm của
ngân hàng, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro. Giảm tỷ trọng nghiệp vụ tín dụng và
tăng tỷ trọng hoạt động dịch vụ là một xu hướng tất yếu của NHTM hiện nay. Nhờ
đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ ngân hàng có thể thoả mãn tốt hơn nhu cầu đa dạng
của khách hàng, thu hút được nhiều hơn khách hàng mới.
Hiện nay khách hàng luôn mong muốn nhận được các dịch vụ trọn gói.
Khách hàng không chỉ vay vốn tại ngân hàng mà còn thực hiện thanh toán qua ngân
hàng, nhờ ngân hàng bảo lãnh để ký hợp đồng thương mại với đối tác liên quan.
23
Điều này có tác dụng thúc đẩy các nghiệp vụ khác đồng thời làm tăng uy tín của
ngân hàng.
ngân hàng. Người thụ hưởng có thể đưa ra quyêt định nhanh chóng, không bỏ lỡ cơ
hội kinh doanh, đồng thời yên tâm được bù đắp thiệt hại nhanh nhất và đầy đủ nhất
khi có rủi ro xảy ra.
Đối với nền kinh tế:
Bảo lãnh ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế để phát triển và mở
rộng sản xuất kinh doanh. Các hoạt động bảo lãnh vay vốn nước ngoài, mua máy
móc vật tư thiết bị sản xuất theo phương thức trả chậm có bảo lãnh của ngân hàng
tạo điều kiện thu hút vốn, đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt nam,
giúp các nước này có điều kiện ứng dụng công nghệ tiên tiến, tăng năng suất lao
động.
Việc sử dụng đòn bẩy bảo lãnh, phí bảo lãnh phục vụ cho một số lĩnh vực
kinh tế nhất định góp phần tích cực vào thực hiện chương trình quốc gia, thúc đẩy
sự phát triển của một số ngành kinh tế mũi nhọn hay hạn chế một số lĩnh vực kém
hiệu quả.
Doanh nghiệp muốn được ngân hàng bảo lãnh phải chứng tỏ năng lực, uy
tín của mình bằng kinh doanh hiệu quả. Được ngân hàng bảo lãnh lại là điều kiện để
doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.
Như vậy hoạt động bảo lãnh ngân hàng góp phần làm nên tính hiệu quả và
sự lành mạnh trong môi trường kinh doanh.
1.2.2.4. Phân loại bảo lãnh ngân hàng
Phân loại theo phương thức phát hành bảo lãnh
Bảo lãnh trực tiếp
Bảo lónh trực tiếp là loại bảo lónh trong đó ngân hàng chịu trách nhiệm bảo
lónh sẽ tiến hành phỏt hành bảo lónh trực tiếp theo yờu cầu của bờn được bảo lónh
mà khụng thụng qua trung gian nào. Ngõn hàng cú thể trực tiếp truy đũi bờn được
bảo lónh số tiền đó bồi thường cho bên thụ hưởng trong trường hợp người được bảo
lónh khụng hoàn thành nghĩa vụ của mỡnh.
25
Đây là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng chịu trách nhiệm phát hành bảo lãnh