đề tài ' xử lý nước thải nhà máy giấy ' - Pdf 15

GVHD: LÊ THỊ KIỀU NGA Xử lý nước thải nhà máy giấy
Lời mở đầu
Giấy là một sản phẩm rất cần thiết cho đời sống, nó phục vụ mọi sinh hoạt cho con
người cho mọi đối tượng như giấy tập, giấy bao bì, thùng giấy, giấy vệ sinh…
Để làm được giấy thì người ta cần phải tiêu tốn một lượng lớn bột giấy. Một khi
đã hết gỗ để sản xuất thì người ta chặt gỗ trái phép để lấy gỗ làm giấy như thế sẽ làm mất
cân bằng sinh thái, gây hạn hán, lũ lụt, và nhiều thiên tai khác kéo đến. Nên con người đã
tái chế lại những sản phẩm đã qua sử dụng để tạo thành những sản phẩm mới. Như thế đã
góp phần vào bảo vệ môi trường tạo môi trường thân thiện với con người.
Nhưng bên cạnh đó quá trình tái chế giấy đã sản sinh ra một lượng khí thải, nước
thải làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
I. Giới thiệu về công nghiệp giấy ở Việt Nam
a/Nhu cầu sử dụng các sản phẩm giấy trong nước
Ngành giấy Việt Nam đang đứng trước những cơ hội phát triển mạnh mẽ. Công
nghiệp tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện, nhu cầu giấy tiêu dùng và
giấy làm bao bì ngày tăng lên. Mức tiêu thụ giấy bình quân đầu người của Việt Nam năm
2000 là 8kg/người/năm, năm 2004 đã là 13kg/người/năm. Hiện nay các nhà máy giấy ở
Việt Nam chỉ đáp ứng được khoảng trên 50% nhu cầu trong nước, còn gần 50% phải
nhập khẩu.
b/Tình hình phát triển và vai trò của ngành giấy đối với nền kinh tế
Hiện cả nước có trên 300 nhà máy sản xuất giấy và bột giấy [Tổng công ty giấy
Việt Nam, 2006].
Sản lượng giấy toàn ngành [Niêm giám Thống kê, 2005]:
- Năm 2000: 408.500 tấn.
- Năm 2005: 901.200 tấn.
c/ Phân bố của các doanh nghiệp sản xuất giấy
Các doanh nghiệp sản xuất giấy phân bố ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. ở miền
Bắc có nhiều doanh nghiệp lớn như: Nhà máy giấy Bãi Bằng, Việt Trì, Hải Phòng và có
làng nghề truyền thống lâu đời Phong Khê (Bắc Ninh), nơi tập trung của hơn 130 doanh
nghiệp sản xuất giấy. Khu vực miền Trung có Nhà máy giấy Tân Bình. Khu vực miền
Nam có các Nhà máy giấy Tân Mai, Đồng Nai, Long An. Ngoài ra, mỗi tỉnh trong cả

mức cơ giới hóa, tự động hoá cao nhằm nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm nguyên
liệu và năng lượng, bảo vệ môi trường theo tiêu chuẩn Việt Nam và Quốc tế.
Việc đầu tư mua sắm các thiết bị cũ đã qua sử dụng chỉ thực hiện để nâng cấp, cải
tạo các cơ sở hiện có với quy mô sản xuất nhỏ, yêu cầu công nghệ không cao và phải
được xem xét kỹ đối với từng dự án cụ thể.
- Về quy mô và công suất các dự án đầu tư
Định hướng phát triển lâu dài, tập trung vào các dự án quy mô lớn để đảm bảo sản
xuất có hiệu quả.
Trong giai đoạn trước mắt, cần đầu tư các dự án quy mô vừa và nhỏ để tận dụng
những thế mạnh tại chỗ như nguyên vật liệu, thị trường, nhân lực
- Về bố trí quy hoạch:
Việc xây dựng các cơ sở sản xuất giấy phải được nghiên cứu, đánh giá kỹ về địa
điểm, đặc điểm vùng nguyên liệu, nhu cầu thị trường, điều kiện cơ sở hạ tầng và khả
năng huy động vốn đầu tư.
Quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu giấy phải phù hợp với quy hoạch chung
của ngành nông nghiệp, gắn với quy hoạch giống cây trồng, điều kiện tự nhiên (thổ
nhưỡng, khí hậu), điều kiện kinh tế xã hội của từng vùng; xác định hợp lý về mô hình tổ
chức sản xuất và quản lý các vùng nguyên liệu, chính sách giá nguyên liệu và phương
thức thu mua, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất.
Phát triển công nghiệp giấy, gồm cả vùng nguyên liệu, phải được thực hiện trong
mối liên kết chặt chẽ với bảo vệ an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi trường, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa và góp phần vào công
nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
- Về huy động các nguồn vốn đầu tư:
Tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài một cách hợp lý, đảm bảo vai trò chủ đạo của các
doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp nhà nước. Tuỳ thuộc vào đặc điểm
của từng dự án, từng địa phương, từng giai đoạn cụ thể để quyết định phương thức đầu tư
thích hợp: tự đầu tư hoặc liên doanh với nước ngoài.
Nhóm 3 Trang 2
GVHD: LÊ THỊ KIỀU NGA Xử lý nước thải nhà máy giấy

mỏng v.v… đều không có hay chưa có hệ thống xử lý phế thải rắn, lỏng và khí hoàn
chỉnh. Điều này tạo ra những vấn nạn ô nhiễm môi trường lên những vùng xây dựng nhà
máy cũng như những vùng phụ cận cùng những phụ lưu của các sông ngòi qua dòng chảy
có chứa ô nhiễm vì công nghệ giấy tạo ra nhiều phế thải lỏng nhất so với các công nghệ
sản xuất khác.
b/ Chất thải nguy hại:
Trong quá trình sản xuất giấy, việc xử dụng một lượng lớn hoá chất và chất phế
thải cũng là một mối lo lớn cho nhân loại. Như clo dùng để tẩy trắng bột giấy sẽ tạo ra
một số hoá chất độc hại như furans và dioxins.
Một phế thải khác cũng không kém phần quan trọng là dung dịch đen. Đây là một dung
dịch hình thành trong quá trình phá vỡ những mãng cây mỏng thành bột giấy. Dung dịch
này được xử lý bằng cách bốc hơi để có được một hổn hợp màu trắng sau khi tác dụng
với vôi sống. Chất sau này sẽ được tái dụng trong việc làm bột giấy.
Nhóm 3 Trang 3
GVHD: LÊ THỊ KIỀU NGA Xử lý nước thải nhà máy giấy
VI/ Đặc tính nguyên liệu:
1/ Nguyên liệu làm giấy:
Nguyên liệu làm giấy có thể được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như: khai thác
nguyên liệu thô từ rừng (tre, gỗ, nứa, ) hoặc chúng ta có thể tận dụng nguồn rác thải có
thể sử dụng như: trong từng hộ gia đình chúng ta có thể thu những sách, báo tập cũ,
những giấy gói khi mua hàng bằng giấy ; các người đi nhặt rác thải thì cũng phân loại
riêng những vật liệu bằng giấy bán cho vựa ve chai, ở đây người ta bán lại cho công ty
sản xuất giấy tái chế
Và một nguồn tái chế nữa là bột thu hồi trong quá trình xử lý khí, xử lý nước qua
song chắn rác
2. Sơ đồ sản xuất giấy:
Nhóm 3 Trang 4
Gia công nguyên
liệu thô
Nguyên liệu thô

nguyên tái sinh trong quá trình tạo bột xeo giấy, bao gồm 70% chất rắn hữu cơ có thể thu
Nhóm 3 Trang 5
GVHD: LÊ THỊ KIỀU NGA Xử lý nước thải nhà máy giấy
hồi để tái sử dụng và 30% chất rắn vô cơ. Cũng vì thế, mức độ ô nhiễm từ nước thải công
nghiệp xeo giấy tỷ lệ nghịch với khả năng thu hồi dịch đen.
Ngoài ra, trong quá trình tạo bột xeo giấy, để tạo nên một sản phẩm đặc thù hoặc
những tính năng đặc thù cho sản phẩm, người ta còn sử dụng nhiều hóa chất và chất xúc
tác. Những chất này nếu không được thu hồi hoặc xử lý mà xả thẳng ra sông ngòi thì sẽ
làm ô nhiễm nặng nguồn nước.
Những chất ô nhiễm chủ yếu của ngành tạo bột xeo giấy đối với các nguồn nước
bao gồm:
Vật huyền phù: là những hạt chất rắn không chìm trong nước, bao gồm chất vô cơ,
cát, bụi, quặng…hoặc những chất hữu cơ như dầu, cặn hữu cơ. Nhiều vật huyền phù xả
xuống nguồn nước dần dần sẽ hình thành các “bãi sợi” và tạo ra quá trình lên men, từ đó
tiêu hao oxy hòa tan trong nước, tác động tới sự sống còn của các sinh vật trong nước,
phủ lấp không gian sinh tồn, gây cản trở các hoạt động bình thường…
Vật hóa hợp dễ sinh hóa phân giải: là những thành phần nguyên liệu với số lượng
tương đương đã tan trong quá trình tạo bột xeo giấy dễ sinh hóa phân giải, bao gồm các
vật có lượng phân tử thấp (chất bán sợi, metanol, axit, loại đường…) Những chất này sẽ
bị oxy hóa, do đó cũng tiêu hao oxy hòa tan trong nước, gây tác hại đối với các sinh vật.
Vật hóa hợp khó sinh hóa phân giải: bắt nguồn chủ yếu từ chất đường phân tử lớn
và lignin trong nguyên liệu sợi. Những chất này thường có màu, do đó ảnh hưởng đến sự
chiếu rọi của ánh sáng vào nguồn nước. Những vật chất này cũng có thể gây biến dị trong
cơ thể sinh vật nếu bị hấp thu.
Các vật chất có độc: rất nhiều vật chất có độc đối với sinh vật hiện diện trong nước
thải của công nghiệp giấy như colophan và axit béo không bão hòa trong dịch đen, dịch
thải của đoạn tẩy trắng, dịch thải đoạn rút xút.
Bên cạnh các vật chất độc hại trên, nước thải của ngành công nghiệp giấy có thể
làm ảnh hưởng trầm trọng đến trị số pH của nguồn nước, hoặc làm ngăn cản ánh sáng, tác
động đến quá trình quang hợp, từ đó làm mất sự cân bằng sinh thái trong môi trường

Bể điều hòa
Bể tuyển nổi
Bể AerotankBể lọc sinh học
Rác, bao
Chôn lắp
Thu bột giấy
Tái chế
Cát, bụi
Bột giấy
Quy trình xử lý nước thải công nghiệp
GVHD: LÊ THỊ KIỀU NGA Xử lý nước thải nhà máy giấy
chính là bột giấy thu hồi ta đem đi làm bột giấy tái chế. Nước thải tiếp tục đi qua bể lắng
ngang.
- Bể lắng ngang được làm bằng vật liệu bê tông, bê tông cốt thép, gạch tùy thuộc
vào kích thước yêu cầu của quá trình lắng, điều kiện kinh tế. Bể lắng ngang dòng nước
thải theo phương ngang chia làm 4 vùng:
Vùng nước thải: có chức năng phân phối dòng nước thải vào bể lắng theo toàn bộ
tiết diện cắt ngang dòng chảy, sao cho không có hiện tượng xoáy ở vùng lắng.
Vùng lắng: chiếm hầu hết thể tích bể lắng.
Vùng xả nước: có chức năng tháo nước trong ra một cách ổn định
Vùng bùn cặn: cần được trang bị các phương tiện tháo bùn bằng phương pháp
thủy lực hay cơ khí.
- Dòng chảy nước thải sau khi ra khỏi bể lắng cho qua bể điều hòa để ổn định
dòng nước thải. Rồi tiếp tục cho qua bể tuyển nổi.
- Tuyển nổi được sử dụng để khử các chất lơ lửng và làm đặc bùn sinh học. Nó có
thể khử được hoàn toàn các hạt nhỏ và nhẹ, lắng chậm trong một thời gian ngắn. Khi các
hạt đã nổi trên bề mặt, chúng có thể thu gom bằng bộ phận vớt bột. Ta có thể thực hiện
bằng cách sục các bột khí nhỏ vào trong pha lỏng. Các khí đó kết dính với các hạt và khi
lực nổi của tổng hợp các bóng khí và hạt đủ lớn để kéo theo hạt cùng nổi lên bề mặt, sau
đó chúng tập hợp lại với nhau thành các lớp bột chứa hàm lượng các hạt cao hơn trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status