NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: “Lịch sử phát triển địa chất
trong giai đoạn Eocen-Oligocen Đông
Bắc bồn trũng Cửu Long”
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Thăm dò, Khai thác
Lịch sử phát triển địa chất trong giai đoạn Eocen-Oligocen
Đông Bắc bồn trũng Cửu Long
Lịch sử phát triển địa chất ở phần Đông Bắc bồn trũng Cửu Long trong Eocen-
Oligocen được tác giả chia thành 2 phụ giai đoạn. Phụ giai đoạn đầu là quá trình
tách giãn kiểu rift trong suốt Eocen-Oligocen sớm tạo nên các bán địa hào và địa
lũy với trầm tích phun trào tập E và F? được lấp đầy.
thước lớn. Kéo theo chúng là các hoạt động đứt gãy lâu dài có biên độ rất lớn và
tạo nên các nếp uốn đồng trầm tích cấp 1 có bề dày trầm tích thay đổi ở vòm và
cánh khá lớn. Ngoài ra, tướng trầm tích cũng bị biến đổi, hạt thô ở cánh và mịn ở
vòm nếp lõm.
Hai pha nén ép xảy ra vào cuối Oligocen sớm và cuối Oligocen muộn có đặc
trưng xảy ra nhanh, phá hủy kiến tạo mạnh tạo nên các nếp uốn sau trầm tích, vì
thế bề dày trầm tích của các cánh và vòm tương đối như nhau, thay đổi ít. Ngòai
ra còn có các di chỉ là nhũng đứt gãy kinh tuyến trượt bằng trái và đứt gãy vĩ
tuyến trượt bằng phải. Bên cạnh đó còn có các đứt gãy nghịch phương Đông
Bắc-Tây Nam. Loại đứt gãy này rất ít thấy ở vùng Đông Bắc bồn trũng, nhưng
chúng được quan sát khá nhiều ở khu vực mỏ Bạch Hổ, và đóng vai trò phá vỡ
các thành tạo đá móng cho khả năng chứa rất cao.
1. Phụ giai đoạn phát triển địa chất trong Eocen-Oligocen sớm
Đây là phụ giai đoạn phát triển địa chất từ Eocen? đến cuối Oligocen sớm. Đặc
trưng của phụ gia đoạn này là khu vực bị tách giãn kiểu Rift liên quan đến quá
trình tách giãn tạo biển Đông trẻ. Tại khu vực nghiên cứu xảy ra quá trình đồng
trầm tích tập địa chấn E và F? Kết thúc phụ giai đoạn này, khu vực nghiên cứu
xảy ra quá trình nghịch đảo kiến tạo, các trầm tích được lắng đọng trước đây bị
uốn nếp, vò nhàu, nhiều cấu trúc nghịch đảo kiến tạo được sinh thành, khu vực
nhiều nơi được nâng lên, ngừng nghỉ lắng đọng trầm tích, bị phong hóa bào mòn
tạo nên bất chỉnh hợp.
Vào Eocen, khu vực bồn trũng Cửu Long chịu tác dụng của pha biến dạng tách
giãn D2.1. Pha biến dạng này đã tạo nên các đứt gãy thuận listric chủ yếu có
phương Đông Bắc-Tây Nam. Nhờ đó, trong khu vực này hình thành các bán địa
hào và bán địa lũy có phương trùng với phương Đông Bắc-Tây Nam. Lúc này
quá trình lắng đọng trầm tích cho các thành tạo của hệ tầng Cà Cối và Trà Cú
(tập F? và E) tại các bán địa hào được diễn ra. Nguồn cung cấp vật liệu trầm tích
của các thành tạo chủ yếu là các khối móng nâng địa lũy với khoảng cách vận
chuyển vật liệu khá gần, năng lượng tích tụ của chúng khá cao. Vì vậy thành
phần trầm tích của chúng chủ yếu là cát kết, sỏi, cuội kết hạt thô, xen kẽ với bột
được hình thành như đứt gãy nghịch phương Đông Bắc-Tây Nam, trược bằng
phải phương vĩ tuyến, trượt bằng trái phương kinh tuyến và một số đứt gãy lớn
listric phương Tây Bắc-Đông Nam bị tái hoạt động trở lại, các thành tạo E và cổ
hơn bị bào mòn mạnh mẽ tạo nên bề mặt bất chỉnh hợp giữa tập E và tập D
(Hình 4).
Hình 3: Cấu trúc nếp uốn lồi nghịch đảo trong E phương Đông Bắc - Tây Nam
tạo cấu tạo Sư tử Nâu do tác động của lực nép ép pha biến dạng D2.2
Hình 4. Mô hình lịch sử phát triển địa chất của giai đoạn S1 trong khu vực
nghiên cứu.
2. Phụ giai đoạn phát triển địa chất trong Oligocen muộn (S2).
Phụ giai đoạn S2 là giai đoạn phát triển địa chất từ cuối Oligocen sớm đến cuối
Oligocen muộn, dưới tác động của 2 pha biến dạng: tách giãn (D2.3) xảy ra
trước, nén ép (D2.4) xảy ra sau (Hình 2). Đây là giai đoạn được bắt đầu bởi quá
trình tách dãn đồng trầm tích tập D. Di chỉ của pha này là các bán địa hào, bán
địa lũy kiểu listric kéo dài theo phương Đông-Tây và phương Đông Bắc-Tây
Nam (đã được kế thừa từ trước). Kết thúc giai đoạn S2 này xảy ra quá trình nén
ép thuộc pha D2.4 và sụt lún do nhiệt cuối Oligocene muộn để hình thành nên bề
mặt bất chỉnh hợp giữa tập D và C và các phức hệ nếp uốn, các hệ thống đứt
gãy.
Vào cuối Oligocen sớm, khu vực nghiên cứu trải qua một quá trình nén ép, uốn
nếp vò nhàu, đứt gãy, nâng lên bào mòn. Kết quả của quá trình này là tạo nên
bề mặt bất chỉnh hợp trên nóc tập E hoặc cổ hơn. Tiếp theo là quá trình tách
giãn của phụ giai đoạn S2 tiếp diễn. Lúc này toàn khu vực nghiên cứu chịu tác
động của lực tách giãn của pha biến dạng D2.3. Pha này có phương tách giãn
Bắc-Nam. Dưới tác động đó, khu vực hình thành nhiều đứt gãy thuận listric có
phương Đông Tây tạo nên hàng loạt địa hào có cùng phương Đông Tây. Qúa
trình lắng đọng trầm tích của tập D xảy ra rộng rãi trong toàn vùng. Ngoài sự lún
chìm do tác động của tách giãn, khu vực còn chịu ảnh hưởng lún chìm vì nhiệt
nước hồ và trải qua quá trình ngừng nghỉ lắng đọng trầm tích và bị bào mòn để
tạo nên bề mặt bất chỉnh hợp nóc của tập D. Trong khi đó ở khu vực khác bề
mặt trầm tích vẫn dưới bề mặt hồ, quá trình lắng đọng trầm tích tập C vẫn tiếp
tục xảy ra, vì thế nhiều nơi trong khu vực nghiên cứu trầm tích tập C được kề áp
vào nóc của tập D. Khu vực Gío Đông và Hải Sư Nâu là một ví dụ (Hình 6).
Qúa trình thành tạo tập C vẫn được diễn ra song song với quá trình nén ép của
pha biến dạng D2.4, vì thế diện tích trầm tích của tập C bị thu hẹp dần. Thành
phần hạt thô trong thành tạo trầm tích C vì thế mà thô dần theo thời gian và theo
trình tự từ dưới lên trên, nói chung theo quy luật trầm tích của biển thoái. Và cuối
cùng là kết thúc quá trình thành tạo tập C, hình thành bề mặt bất chỉnh hợp giữa
tập C và các thành tạo trẻ hơn được lắng đọng, trầm tích trong giai đoạn tiếp
theo.
Hình 6: Mô hình lịch sử phát triển địa chất đến kết thúc phụ giai đoạn S2, kết
thúc hoàn chỉnh các thành tạo Eocen-Oligocen trong khu vực nghiên cứu
Tóm lai, lịch sử phát triển địa chất kiến tạo trong giai đoạn Eocen-Oligocen của
phần Đông Bắc bồn trũng Cửu Long là quá trình thành tạo bồn trũng rift với các
trầm tích được lấp đầy các bán địa hào và phủ lên các địa lũy gồm có các tập
F?, E, D và C. Các thời kỳ tách giãn trong Oligocen sớm và Oligocen muộn kết
hợp với quá trình lún chìm vì nhiệt trong Oligocen muộn đã thành tạo nên các
thành hệ trầm tích môi trường lục địa. Các thành tạo này đặc trưng chủ yếu là
hạt thô ở tập E và hạt mịn ở tập D. Chúng đóng vai trò tầng sinh và tầng chắn rất
tốt. Mặt khác, chúng lại được phủ bởi trầm tích hạt thô dần của tập C được hình
thành trong quá trình nén ép xảy ra vào cuối Oligocen muộn. Các thời kỳ nén ép
xảy ra cuối Oligocen sớm và cuối Oligocen muộn đã tác động lên các thành tạo
trầm tích tập E, F, D và C để hình thành nên các cấu trúc nếp uốn, đứt gãy, bất
chỉnh hợp mang vai trò vô cùng quan trọng cho hệ thống dầu khí của khu vực
nghiên cứu.