Giao duc hoc- lê thị kiều phương Trang 1
BÀI KIỂM TRA ĐIỀU KIỆN
MÔN: GIÁO DỤC HỌC
Trong tập thơ “Nhật ký trong tù”, Hồ Chủ Tịch viết:
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn;Phần nhiều do giáo dục mà ra”.
Anh (chị) hãy làm sáng tỏ quan điểm về lịch sử phát triển nhân cách trong câu thơ của Bác.
BÀI LÀM
Giáo dục là quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch,
thông qua hoạt động và quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm chiếm lĩnh
kinh nghiệm xã hội của loài người. Giáo dục là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về đạo đức,
tư tưởng, hành vi nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen
ứng xử đúng đắn trong xã hội.
Khi bàn về vai trò yếu tố giáo dục trong sự phát triển nhân cách con người, Bác Hồ đã viết
trong bài thơ “Nửa đêm” (Nhật ký trong tù).
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
Theo quan niệm của Hồ Chí Minh con người ta khi mới sinh ra vốn bản chất là tốt, nhưng chỉ
sau do ảnh hưởng của giáo dục và môi trường sống cùng sự phấn đấu, rèn luyện của mỗi cá
nhân mà hình thành những con người thiện, ác khác nhau. Câu nói của người xưa trong Tam
Tự Kinh: “Nhân chi sơ, tính bản thiện” đã từng được Người nhắc lại nhiều lần trong các bài
viết, bài nói chuyện. Theo Người con người sinh ra bản chất là tốt, song trong xã hội luôn có
thiện và có ác nên trong bản thân mỗi con người cũng có thiện và ác. Cái ác có là do ảnh
hưởng của xã hội và sự biến đổi của mỗi người. Đối với mỗi chúng ta, sống trong xã hội mới
nhưng cái ác vẫn còn là do ảnh hưởng của những tàn dư của xã hội cũ. Người viết: “Bản thân
chúng ta đều chịu ảnh hưởng của xã hội cũ hoặc nhiều hoặc ít. Cho nên trong người chúng ta
hoặc nhiều hoặc ít không tránh khỏi có cái ác, như tự đại, tự kiêu, tự tư, tự lợi”. Nhưng cũng
do sự tác động của xã hội, của chế độ mới cùng sự cố gắng vươn lên của mỗi người thì cái ác
sẽ mất dần. “Với sự giúp đỡ của Đảng và Chính phủ, sự cố gắng học tập và cải tạo của mọi
người, thì cái ác trong con nguời chúng ta càng ngày càng biến đi, cái thiện càng ngày càng
tăng.
Theo Hồ Chí Minh chính sự tác động, sự giáo dục của xã hội cùng với khả năng và sự tiếp
thành con người nói chung đã được Marx chỉ ra từ lâu: “con người vừa là chủ thể vừa là sản
phẩm của lịch sử” và “con người tạo ra hoàn cảnh tới mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con
người tới mức đó”. Như vậy là con người với tư cách loài người đóng vai trò chủ động trong
quá trình hình thành nhân cách của mình.
Tuy nhiên, đối với thế hệ trẻ - thế hệ chưa trưởng thành thì vai trò chủ động đó không xuất
hiện ngay từ khi chúng chào đời. Khi trẻ mới chào đời, vai trò chủ động đó hoàn toàn lu mờ.
Nói cách khác, chúng hoàn toàn thụ động. Vai trò đó chỉ xuất hiện khi đứa trẻ khoảng 3 tuổi
bắt đầu có ý thức về “cái tôi” (nghĩa là biết phân biệt bản thân với người khác), lúc ấy nhân
cách ở trình độ cảm tính mới bắt đầu hình thành. Nhân cách đó một lần nữa được xác định về
lý tính ở lứa tuổi 16, nó sẽ được hoàn thiện dần hay bị thui chột theo năm tháng, tùy theo
môi trường sống (gia đình, nhà trường, xã hội). Như vậy, ở giai đoạn thế hệ trẻ chưa trưởng
thành, vai trò của xã hội, với tư cách là “hoàn cảnh mang tính người”, có tính chất quyết định
trong việc hình thành nhân cách cho họ.
Người cho rằng trong việc xã hội hóa thế hệ trẻ, ba loại môi trường trên đều rất quan trọng,
không thể thiếu một loại nào. Ngược lại, cũng không nên chỉ chú ý đến một hoặc hai loại môi
trường này mà bỏ qua các môi trường kia. Người viết: “Giáo dục nhà trường dù tốt cho mấy,
nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”.
Tới tuổi thành niên, nhân cách đó sẽ phụ thuộc hai chiều vào sự tương tác giữa cá nhân và xã
hội. Ở trình độ sinh viên thì cả về cảm tính lẫn lý tính, nhân cách đã và đang hình thành.
Song nhân cách đó đạt tới mức nào, trung bình hay tốt; còn khiếm khuyết hay biến dạng, thì
còn tùy thuộc vào từng em và môi trường xã hội.
Bước vào thế kỷ 21, với xu thế “toàn cầu hóa” trên tinh thần chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, chúng ta với sự nỗ lực vươn lên, phải chăng mẫu nhân cách của sinh viên phải là: Sống có
lý tưởng XHCN, có trách nhiệm với công việc, với xã hội, với mọi người và với chính mình;
sống trong “lẽ phải và tình thương”, dám đấu tranh cho lẽ phải, cho chân lý, cho sự tiến bộ
và công bằng xã hội; dám tự khẳng định mình và nuôi chí lớn để rửa “nỗi nhục đói nghèo và
lạc hậu” cho đất nước. Ngoài những yếu tố vừa nêu, điều cần thiết cần có là sức khỏe, học
thức, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực làm việc sáng tạo tức là phát triển lành mạnh về thể
chất, trí tuệ, đạo đức và tâm hồn. Để đạt được yêu cầu của những tiêu chí trên, bên cạnh sự
nỗ lực tự thân của sinh viên là chính, không thể không có vai trò của tập thể sư phạm, trong
Đây cũng là một quan niệm sai lầm mà hậu quả của nó là dẫn đến lối sống tự do, tùy tiện, tha hóa và thực
dụng.
Tiêu biểu cho quan niệm này là nhà Phân tâm học Phrơt (1856 – 1939), người Áo.
Thực tế con người có bản năng hay không? Bản năng của con người có khác gì bản năng của động vật?
- Với sự phát triển của khoa học – công nghệ, khái niệm “con người kỹ thuật”, người máy ngày càng tinh vi “biết suy
nghĩ” “biết biểu cảm”,…
- Quan niệm của K. Marx về con người
“…Bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng, vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó
bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”
Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của xã hội. Con người là chủ thể của lịch sử, của
mọi giá trị, của mọi nền văn minh. Con người sáng tạo ra bản thân mình thông qua việc sáng tạo ra các sản phẩm XH.
2.1.2. Nhân cách
- “Tổ hợp những thuộc tính tâm lý của một con người, hợp thành hai mặt thống nhất là phẩm chất (đức) và năng lực
(tài)” (Từ điển GDH)
- “Nhân cách là tổ hợp những thái độ, những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan hệ hành động của
từng người đối với tự nhiên, XH và bản thân” (Phạm Minh Hạc)
- “Nhân cách là một con người cụ thể đã phát triển và định hình về mặt XH, đã trở thành một chủ thể xã hội” (Thái
Duy Tuyên)
Như vậy, nói đến nhân cách là nói đến giá trị về mặt XH của một con người cụ thể đang sống, và hoạt động
như là một chủ thể tích cực.
2.1.3. Sự phát triển nhân cách
- Phát triển là một quá trình biến đổi tổng thể các đặc điểm về lượng và chất của một sự vật hiện tượng.
- Phát triển nhân cách là quá trình biến đổi tổng thể các đặc điểm về thể chất, tâm lý và xã hội: Về thể chất là sự tăng
trưởng về chiều cao, cân nặng, các chức năng của hệ thần kinh và các giác quan; về tâm lý đó là những biến đổi trong
các quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí, nhu cầu, xu hướng, lý tưởng,…; về mặt XH đó là sự tích cực tham gia vào
các hoạt động và cách cư xử với những người xung quanh.
Vậy, con người khi sinh ra đã là một nhân cách chưa? Nhân cách người này có giống người kia không? Tại
sao?
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
2.2.1. Di truyền
“Dân tộc ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch và chính Người lại làm rạng rỡ dân tộc ta, rạng rỡ non sông
đất nước ta” (Lê Duẩn)
- Thực tế còn có sự nhận thức sai lầm về vai trò của môi trường đối với sự phát triển nhân cách:
+ Tuyệt đối hóa nhân tố môi trường (thuyết môi trường định mệnh). Quan niệm này đã làm thui chột ý chí, sức mạnh
của con người, bị động trước hoàn cảnh, ỷ lại hoàn cảnh. “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “gần mực thì đen, gần đèn thì
sáng”.
+ Quá xem nhẹ tác động của môi trường “di truyền định mệnh” dẫn đến không quan tâm đến cải tạo môi trường sống
hoặc thuyết “giáo dục vạn năng”
- KLSP: Có cách nhìn đúng đắn về vai trò của nhân tố môi trường đối với sự phát triển nhân cách.
+ Trong công tác giáo dục cần chủ động tạo ra môi trường lành mạnh.
+ Giáo dục cho HS ý thức khắc phục khó khăn để vươn lên.
2.2.3.Giáo dục và sự phát triển nhân cách
- GD là một quá trình tác động có mục đích, có nội dung, PP của nhà GD & đối tượng GD nhằm hình thành ở đối
tượng GD những phẩm chất, năng lực cần thiết.
- Khi nhận định về GD, ngay từ thời cổ xưa, Khổng Tử đã quan niệm rằng “Hữu giáo vô loại”; “Ngọc bất trác bất
thành khí, nhân bất học bất tri đạo”.
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên” (Hồ Chủ tịch)
- GD có vai trò chủ đạo cho sự phát triển nhân cách, thể hiện:
+ GD không chỉ vạch ra chiều hướng cho sự phát triển nhân cách mà còn tổ chức dẫn dắt hình thành và và phát triển
nhân cách, đặc biệt ở trẻ nhỏ.
+ GD có thể mang lại những tiến bộ cho cá nhân mà các nhân tố khác khó có được, có thể làm tăng nhanh sự phát
triển.
Ex; một đứa trẻ bình thường 3 tuổi có thể nói được nhưng nếu không học thì không thể đọc và viết được.
+ GD cũng có thể bù đắp những khiếm khuyết của trẻ do bệnh tật gây ra.
Ex: Với những PP đặc biệt, trẻ mù có đọc chữ nổi, trẻ điếc có thể hòa nhập được,…
+ GD có thể uốn nắn những sai lầm, những phẩm chất nhân cách xấu được hình thành bởi những nhân tố khác (GD
lại)
+ GD có thể đón trước sự phát triển, định hướng cho sự phát triển của trẻ, tạo đ/k cho trẻ phát triển nhanh hơn (Lớp
năng khiếu)
- Những quan niệm sai lầm:
phát huy những giấ trị nhân cách truyền thống của con người VN trong thời đại ngày nay? (Tham khảo tài liệu
“những vấn đề chung của GDH” tác giả Thái Duy Tuyên)
Ngoài những đặc điểm trên, nói đến con người VN truyền thống chúng ta còn nhắc đến những đặc điểm gì
nữa?
(Cần cù, chịu khó; tiết kiệm, giản dị; sáng tạo, linh hoạt; tự lập, tự cường; dũng cảm, bất khuất; mềm dẻo, lạc quan,
yêu đời,..)
Bên cạnh những đặc điểm tốt ở trên, nhân cách con người VN truyền thống còn bộc lộ những gì không còn
phù hợp với thời kỳ CNH – HĐH đất nước hiện nay?
Đó là: thói quen làm ăn nhỏ, manh mún, thiếu tầm nhìn xa “ăn xổi” (Phá lúa trồng cam, rồi lại phá cam trồng
lúa,…); tâm lý bình quân chủ nghĩa theo kiểu cào bằng; tác phong nông nghiệp, mạnh ai người đó làm, ý thức phục
tùng kỷ luật (luật pháp) kém; khả năng hạch toán kinh tế kém.
2.3.2. Con người VN hiện đại
Trước hết cần xác định con người VN hiện đại (thời đại ngày nay) được đánh dấu khi cả nước thống nhất
bước vào thời kỳ quá độ đi lên CNXH, đặc biệt là từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới (1986).
Trong thời đại ngày nay, nhân cách con người VN có những đặc điểm gì? Những giá trị truyền thống của con
người VN được phát huy và phát triển thế nào? Trước những yêu cầu của thời kỳ mới, nhân cách con người VN còn
bộc lộ những hạn chế gì? Tại sao? Cách khắc phục thế nào?
- Lòng yêu nước,
Nếu trước đây, lòng yêu nước được tập trung thể hiện qua tinh thần anh dũng trong các cuộc chiến đấu chống
giặc ngoại xâm, thì ngày nay tinh thần yêu nước được thể hiện trước hết ở việc nỗ lực thực hiện lý tưởng “dân giàu,
nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh”.
- Tinh thần đoàn kết
Nếu trước đây, tinh thần đoàn kết thường được thể hiện trong việc chống thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm
thì tinh thần đó ngày nay phải được phát huy trong việc chung tay xây dựng đất nước, thực hiện lý tưởng “dân giàu,
nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh”.
- Về lòng nhân ái trong con người VN vẫn được phát huy trong thời kỳ đổi mới. Biểu hiện qua việc thực hiện các
phong trào “tương thân, tương ái” “Là lành đùm lá rách” (giúp nhau trong hoạn nạn, rủi ro vì các nguyên nhân khác
nhau)