Bài tập : Nhà máy điện Nhà máy điện nguyên tử
CHƯƠNG I : CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG
TRONG NHÀ MÁY ĐIỆN NGUYÊN TỬ.
1. Tìm hiểu về nhà máy điện nguyên tử.
Có thể khi mới nghe hai tiếng "nguyên tử" có thể trong đầu bạn đã lóe lên những
hình ảnh trái ngược, có thể là những nhà máy bê tông kiên cố tỏa hơi lên mây hay ghê
hơn là một thảm họa và đám mây hình nấm bốc cao lên bầu trời ? Một số người khen
ngợi kỹ thuật mới này nhằm hạ giá năng lượng, là loại ít khí thải nhằm thay thế cho các
thứ nhiên liệu hóa thạch, trong khi đó những người khác lại đang lo sợ tới những hậu
quả xấu từ những chất phóng xạ nguyên tử và cùng các tai nạn chẳng hạn như các vụ
Three Mile Island (Hoa Kỳ) và Chernobyl (Liên Xô). Có nhiều điều bàn cãi về vai trò
của điện năng nguyên tử ảnh hưởng tới đời sống con người, nhưng dù sao chúng ta cũng
nên tìm hiểu một ít về bề trong các nhà máy điện nguyên tử có những gì ?
Nhà máy điện nguyên tử hay nhà máy điện hạt nhân là một nhà máy tạo ra điện năng
ở quy mô công nghiệp, sử dụng năng lượng thu được từ phản ứng hạt nhân.
Tính tới tháng 7 năm 2008, chúng ta có tổng cộng 430 nhà máy điện nguyên tử trên
thế giới cung cấp tới 15% tổng số điện năng thế giới của năm 2007. Trong số 31 nước
có nhà máy điện nguyên tử thì có nhiều nước lệ thuộc nhiều vào lượng điện nguyên tử
cung cấp, lấy thí dụ : nước Pháp 77% lượng điện tiêu thụ do điện nguyên tử cung ứng
(NEI). Lithuania đứng hạng nhì khoảng 65%. Tại Hoa kỳ, có tới 104 nhà máy điện
nguyên tử sản xuất tới 20% lượng điện toàn quốc, trong đó có vài tiểu bang tỷ lệ dùng
lại cao hơn các tiểu bang khác.
Khi quá trình sản xuất vả xử lý chất thải được bảo đảm an toàn cao, nhà máy điện
nguyên tử sẽ có thể sản xuất năng lượng điện tương đối rẻ và sạch so với các nhà máy
sản xuất điện khác, đặc biệt nó có thể ít gây ô nhiễm môi trường hơn các nhà máy nhiệt
điện đốt than hay khí thiên nhiên.
Hình 1.1. Hình ảnh nhà máy điện nguyên tử ở Cattenom - Pháp.
1
SV:Nguyễn Mạnh Tuấn Đ3-CNTĐ
Bài tập : Nhà máy điện Nhà máy điện nguyên tử
(mà không phân hạch) như Bo, Cadimi. Khi hạ thấp các thanh này thì hệ số nhân nơtrôn
giảm, nâng lên cao thì tăng. Khi lò hoạt động thì các thanh điều chỉnh được tự động giữ
ở độ cao sao cho. Phản ứng phân hạch toả ra năng lượng dưới dạng động năng của các
mảnh hạt nhân và các hạt khác. Động năng này chuyển thành nhiệt năng của lò. Nhiệt
này được mang đi bằng chất tải nhiệt, thường là một chất lỏng chạy qua lò và sau khi
nóng lên thì cung cấp nhiệt cho lò sinh hơi D. Hơi nước làm chạy tua bin phát điện
giống như trong nhà máy nhiệt điện, nhà máy điện nguyên tử có thiết kế khác với các
nhà máy điện khác : thành bằng thép, tường bằng bê tông ( đảm bảo chỉ tiêu, chất
lượng, độ dày), để chặn các tia phóng xạ lò phản ứng khi phản ứng phân hạch trở thành
vượt hạn.
Nhiều nhà máy điện nguyên tử đã được xây dựng ở các nước công nghiệp và cung
cấp một lượng điện năng đáng kể: trên 35% tổng điện năng sản xuất hàng năm ở Pháp,
Thụy Điển, Phần Lan…, 30% ở Nhật, 12% ở Mĩ, 7% ở Liên Xô cũ…Tuy nhiên sự cố
2
SV:Nguyễn Mạnh Tuấn Đ3-CNTĐ
Bài tập : Nhà máy điện Nhà máy điện nguyên tử
xảy ra ở nhà máy điện nguyên tử Trécnobưn (ucraina) đã buộc một số nước cân nhắc lại
việc xây dựng các nhà máy điện nguyên tử.
Nước ta có một lò phản ứng hạt nhân nhỏ ở Đà Lạt, dùng để nghiên cứu khoa học và
sản xuất đồng vị phóng xạ (công suất 500 kW, có 89 thanh nhiên liệu là hợp kim chứa
urani đã làm giàu tới 3,6% U235.
Lò phản ứng hạt nhân cũng đã được đặt trên các tàu thuỷ, tàu ngầm; chỉ cần một lần
nạp nhiên liệu là các tàu này có thể hoạt động liên tục vài năm. Người ta đang nghiên
cứu giảm khối lượng của lò để có thể đặt trên máy bay.
Lò phản ứng hạt nhân là thiết bị có thể điều khiển và kiểm soát phản ứng phân hạch
để thu được năng lượng nhiệt do phản ứng phân hạch tạo ra. Lò phản ứng hạt nhân là
thiết bị có thể điều khiển và kiểm soát phản ứng phân hạch để thu được năng lượng
nhiệt do phản ứng phân hạch tạo ra.
Các yếu tố cấu thành lò phản ứng bao gồm :
- Nhiên liệu hạt nhân tạo ra sự phân hạch.
+ Than chì (Graphite) tuy hiệu suất làm chậm thấp nhưng lại ít hấp thụ nơtron và giá
tương đối rẻ.
Chất thu nhiệt sinh ra trong lò phản ứng và chuyển ra bên ngoài được gọi là chất tải
nhiệt. Lò phản ứng nước nhẹ dùng chất tải nhiệt là nước nhẹ; lò nước nặng dùng chất tải
nhiệt là nước nặng; còn lò khí thì sử dụng chất tải nhiệt là khí CO2 hoặc Heli và lò tái
sinh nhanh thì sử dụng chất tải nhiệt là Natri.
Chất điều khiển có tác dụng điều chỉnh công suất của lò phản ứng (tốc độ phản ứng
phân hạch) và có khả năng hấp thu nơtron. Chất điều khiển được sử dụng phổ biến là
Boron hoặc Cadmium.
Lò phản ứng được phân loại theo nhiên liệu hạt nhân, chất làm chậm và chất tải nhiệt.
Dưới đây là một số loại lò hiện nay đang được sử dụng trên thế giới :
- Lò khí : Lò khí là loại lò sử dụng khí làm chất tải nhiệt, loại lò này chủ yếu phát
triển ở Anh. Chất làm chậm là than chì và nhiên liệu có thể sử dụng Uranium tự nhiên.
Lúc đầu, loại lò này được dùng để sản xuất plutonium (cho mục đích quân sự) và dùng
không khí làm chất tải nhiệt. Để phát triển loại lò này thành lò phản ứng phát điện, cần
phải nâng nhiệt và áp lực của khí – chất tải nhiệt. Vì không thể sử dụng được không khí
nên khí CO2 được dùng làm chất tải nhiệt. Từ đó đã ra đời loại lò khí kiểu Anh sử dụng
trong nhà máy điện nguyên tử. Để cạnh tranh được với lò nước nhẹ đang dần trở nên
phổ biến, người ta nâng thêm nhiệt độ và áp lực của khí (chất tải nhiệt). Tuy nhiên nhiệt
độ của khí CO2 tăng cao tới mức độ nào đó sẽ không ổn định và vì thế mà không thể sử
dụng được. Người ta đã phát triển loại lò khí tiên tiến hơn sử dụng chất tải nhiệt là Heli
có thể ổn định ngay cả khi nhiệt độ cao nhưng lại gặp khó khăn về kỹ thuật và kinh tế
nên không thể cạnh tranh được với lò nước nhẹ. Tuy vậy, các kinh nghiệm về lò khí vẫn
được người ta vận dụng và việc phát triển lò khí nhiệt độ cao hiện đang được triển khai.
Lò này sử dụng chất tải nhiệt là Heli nhằm nâng nhiệt độ của khí đầu ra của lò lên hơn
C và nâng cao hiệu suất nhiệt. Loại lò này cũng đang có kế hoạch sử dụng đa mục đích
như sử dụng trong công nghiệp hoá học.
- Lò nước nặng : Lò nước nặng là lò phản ứng sử dụng nước nặng làm chất làm
chậm. Loại lò này chủ yếu do Canada phát triển. So với nước nhẹ, nước nặng hấp thu
rất ít nơtron nên có thể sử dụng Uranium tự nhiên làm nhiên liệu.
vụ mục đích chiến tranh, quân sự). U-235 thoái hóa tự nhiên cũng giống U-238 nhưng
U-235 chỉ hợp với phản ứng phân hạch : một nơtrôn tự do sẽ bắn vào nhân của U-235
và bị thu hút ngay tạo nên tình trạng bất ổn định và bị chẻ đôi ra tức thời. Xác suất
nguyên tử U-235 bắt giữ nơtrôn tự do đang bắn vụt qua rất cao. Sự thật, trong điều kiện
các lò phản ứng một nơtrôn khi bị tách ra do phản ứng phân hạch này sẽ tiếp tục gây ra
phản ứng dây chuyền ngay tức khắc bằng cách gây ra cả loạt phân hạch liên tục nhau.
Ngay vừa khi các hạt nhân của nguyên tố tóm được nơtrôn tự do này hạt nhân này sẽ bị
chẻ đôi ra thành hai nguyên tố nhẹ hơn và lại bắn ra hai hay ba nơtrôn tự do khác (tùy
thuộc vào cách mà nguyên tố U-235 bị tách ra). Tiến trình thu giữ và bị chẻ đôi này rất
nhanh ngoài trí tưởng tượng của chúng ta thời gian chỉ vài picoseconds. (1 picosecond=
1/ 10^12[1 giây chia ra 10^12( lũy thừa 12) lần].
NĐNT sản xuất điện năng từ nhiệt năng do phản ứng hạt nhân tạo ra. Nhiên liệu hạt
nhân có khả năng tạo nhiệt rất cao. Sự phân rã của một nguyên tử U-235 phóng thích
khoảng 200 MeV (triệu elctron volts). Coi bộ không bao nhiêu nhưng với vô số nguyên
tử (Atom) Uranium trong 1 pound uranium thì con số này thực sự rất lớn khi so sánh 1
pound uranium đã tinh luyện (làm giàu) nó cung cấp một năng lượng đồ sộ tương
đương với 1 triệu gallons dầu khí, phân hủy 1kg U-235 tạo nhiệt năng tương đương
2900 tấn than đá. Sự tách đôi của một nhân nguyên tử phóng thích một nhiệt năng
khổng lồ cùng tia phóng xạ gamma tia phóng xạ tạo ra từ quang tử (photons) năng
lượng cao. Hai nguyên tử mới do sự bắn phá kể trên lại phóng thích ra tia beta (âm điện
tử siêu nhanh) cùng tia gamma của chính nó như vừa nói trên.
5
SV:Nguyễn Mạnh Tuấn Đ3-CNTĐ
Bài tập : Nhà máy điện Nhà máy điện nguyên tử
Hình 1.3.1. Sơ đồ nguyên lý lò phản ứng hạt nhân.
1 - Phần tác dụng (có nhiên liệu hạt nhân); 2 – Thân lò; 3 – Màn chắn;
4 – Cơ cấu điều chỉnh; 5,6 – Bảo vệ sinh học; 7 – Vòng chu trình tản nhiệt.
Năng lượng phóng thích từ phản ứng phân hạch tạo ra hai nguyên tố nhẹ hơn và một
số trung hòa tử (nơtrôn) phân ly khối lượng so với nguyên tử U-235 nguyên thủy sẽ ít
trong các thanh nhiên liệu cùng với kỹ thuật người ta có thể gia tăng hay giảm hiệu
năng hấp thụ của các thanh điều phối này. Việc tăng giảm hiệu năng hấp thụ từ các
thanh điều phối này cho phép các điều khiển viên kiểm soát được tỷ lệ phản ứng nguyên
tử. Khi muốn các thanh nhiên liệu cung ứng tối đa nhiệt năng thì các thanh điều phối
này được rút ra khỏi các thanh nhiên liệu. Trái lại muốn bớt nhiệt năng thì các thanh
điều phối này được thả sâu vào trong các thanh nhiên liệu uranium nói trên. Cho đến
khi các thanh điều phối ấn sâu hoàn toàn vào các thanh nhiên liệu Uranium thì xem như
phản ứng bị đóng lại hoàn toàn dành cho trường hợp tai nạn nhà máy hay khi thay thế
nhiên liệu nguyên tử.
Những thanh nhiên liệu uranium có tác nhân như là nguồn nhiệt rất lớn cho lò phản
ứng. Nó đun nóng nguồn nước tạo thành hơi. Các luồng hơi chạy thẳng vào các tua-bin
làm quay động cơ thế là tạo ra điện năng.
Tại vài nhà máy điện nguyên tử khác, luồng hơi nước từ lò phản ứng đầu tiên sẽ đi
qua bộ phận trung gian hay còn gọi là thứ cấp, luồng năng lượng này lại làm bốc hơi lò
nước thứ cấp luồng hơi thứ cấp này mới đi tới chuyện vận tuabin. Lợi điểm phương
pháp này là chúng ta tránh được nước hay hơi có nhiễm phóng xạ giai đoạn 1 không bao
giờ tiếp xúc với tuabin. Cũng thế, có vài nhà máy khác chất lỏng làm nguội (coolant
fluid)trực tiếp tiếp xúc với các thanh nguyên tử được thay bằng khí (carbon dioxide)
hay kim loại lỏng (sodium potassium ). Những nhà máy như vậy cho phép các thanh
nhiên liệu hoạt động ở nhiệt độ cao hơn nhiều.
Lò phản ứng hạt nhân nơtron thường dùng là loại lò - nước, mà sơ đồ nguyên lý của
nó được biểu diễn trên hình 1.3.2a. Quá trình sản xuất điện năng của nó: nước thuộc chu
trình thứ nhất lưu chuyển vào bơm tuần hoàn 7. Tại bộ trao đổi nhiệt 2 xảy ra sự truyền
nhiệt của nước chu trình thứ nhất cho nước ở chu trình thứ hai. Đối với chu trình nhiệt
thứ hai tương tự như chu trình nhiết của nhà máy điện ngưng hơi.
7
SV:Nguyễn Mạnh Tuấn Đ3-CNTĐ
Bài tập : Nhà máy điện Nhà máy điện nguyên tử
Lò phản ứng hạt nhân nước – nước có nhược điểm là không có khả năng tạo ra hơi
với thông số cao, nên hiệu suất của nhà máy không cao. Hình 1.3.2b giới thiệu sơ đồ
NĐNT hiện nay đang được chú ý phát triển vì năng lượng tích trữ trong nguyên tử rất
lớn và các nguyên liệu khác để sản xuất điện năng đang ngày cạn kiệt. Người ta thống
kê được rằng năng lượng của Uran và Thôri trên thế giới hiện nay gấp khoảng 23 lần
năng lượng của tất cả cộng lại.
9
SV:Nguyễn Mạnh Tuấn Đ3-CNTĐ
Bài tập : Nhà máy điện Nhà máy điện nguyên tử
Hình 1.3.4. Mô hình chu trình sản xuất điện năng trong nhà máy điện nguyên tử.
CHƯƠNG II : CHỨC NĂNG CỦA HỆ DCS.
Hệ DCS có hai chức năng chính là :
- Chức năng điều khiển.
- Chức năng vận hành & giám sát.
1. Chức năng điều khiển.
10
SV:Nguyễn Mạnh Tuấn Đ3-CNTĐ
Bài tập : Nhà máy điện Nhà máy điện nguyên tử
Chức năng chính và cũng là chức năng qua trọng nhất của hệ DCS là điều khiển toàn
bộ các quá trình trong nhà máy.
Chức năng điều khiển do các bộ điều khiển đảm nhiệm, các bộ điều khiển được đặt
tại phòng điều khiển trung tâm hoặc các trạm điều khiển.
a) Chức năng điều khiển cơ bản : DCS thực hiện tất cả các chức năng diều khiển cơ bản
của một nhà máy. Các thành phần thực hiện các chức năng cơ bản trong DCS gọi là các
khối hàm “ Function block”. Mỗi khối hàm đại diện cho một bộ phận nhỏ nhất trong bài
toán điêù khiển.
b) Chức năng truyền thông, trao đổi thông tin với các hệ thống phụ - Subsytem.
Trong các nhà máy lớn bên cạnh hệ DCS luôn có các hệ PLC đảm nhận các công
việc điều khiển cho từng công đoạn nhỏ như: trạm bơm cấp nước, nước thải… và tất cả
các tham số này cũng cần đưa vào hệ thống DCS chung của toàn nhà máy để tập trung
cơ sở dữ liệu phục vụ giám sát và quản lý.
2. Chức năng vận hành và giám sát.
chính của lớp vật lý.
Hình 3.1. Phạm vi định nghĩa của CAN trong mô hình OSI.
- Lớp vật lý đề cập tới việc truyền tín hiệu, vì thế định nghĩa cụ thể phương thức định
thời, tạo nhịp bit (bit timing), phương pháp mã hóa bit và đồng bộ hóa. Tuy nhiên chuẩn
CAN không quy định các đặc tính của các bộ thu phát, với mục đính cho phép lựa chọn
môi trường truyền cũng như mức tín hiệu thích hợp cho từng lĩnh vực ứng dụng.
- Lớp điều khiển truy nhập môi trường (MAC) là phần cốt lõi trong kiến trúc giao thức
CAN. Lớp MAC có trách nhiệm tạo khung thông báo, điều khiển tuy nhập môi trường,
xác nhận thông báo và kiểm soát lỗi.
- Lớp điều khiển liên kết logic (LLC) đề cập tới các dịch vụ gửi dữ liệu và yêu cầu dữ
liệu từ xa, thanh lọc thông báo, báo cáo tình trạng quá tải và hồi phục trạng thái.
2. Cấu trúc mạng và kỹ thuật truyền dẫn.
CAN thực chất chỉ là chuẩn giao thức từ phần trên của lớp vật lý cho tới hết lớp liên
kết dữ liệu, vì vậy không quy định cụ thể về chuẩn truyền dẫn cũng như môi trường
truyền thông. Trong truy cập bus CSMA/CA, tốc độ truyền tối đa là 1Mbit/s ở khoảng
cách 40m và 50kbit/s ở khoảng cách 1000m, chiều dài đường nhánh hạn chế dưới 0.3m.
Số trạm phụ thuộc nhiều vào cấu trúc mạng , cáp truyền và đặc tính điện học của các bộ
12
SV:Nguyễn Mạnh Tuấn Đ3-CNTĐ
Bài tập : Nhà máy điện Nhà máy điện nguyên tử
thu phát, thông thường hạn chế ở con số 64 đối với cấu trúc đường thẳng sử dụng đôi
dây xoắn.
CAN phân biệt hai trạng thái logic của tín hiệu là mức trội (dominant) và mức lặn
(recessive), tuy nhiên không quy định rõ giá trị bit nào ứng với tín hiệu nào. Trạng thái
vật lý (ánh sáng, điện áp) thể hiện mức logic không được định nghĩa trong chuẩn.
3. Cơ chế giao tiếp.
Đặc trưng của CAN là phương pháp định địa chỉ và giao tiếp hướng đối tượng. Mỗi
thông tin trao đổi trong mạng được coi như một đối tượng, được gán một mã số căn
cước. Thông tin được gửi trên bus theo kiểu truyền thông báo với đọ dài có thể khác
nhau.
thời gian bổ sung giữa hai khung dữ liệu hoặc yêu cầu dữ liệu trong trường hợp một
trạm bị quá tải.
Hình 3.2. Cấu trúc khung dữ liệu ở CAN.
Hình 3.3. Cấu trúc khung quá tải ở CAN.
14
SV:Nguyễn Mạnh Tuấn Đ3-CNTĐ
Bài tập : Nhà máy điện Nhà máy điện nguyên tử
Hình 3.4. Cấu trúc khung lỗi ở CAN.
5. Truy cập bus.
CAN sử dụng phương pháp truy nhập môi trường CSMA/C, tức điều khiển phân
kênh theo từng bit. Phương pháp phân mức ưu tiên truy nhập bus dựa theo tính cấp thiết
của nội dung thông báo. Mức ưu tiên này phải được đặt cố định trước khi hệ thống đi
vào hoạt động.
Bất cứ một trạm nào trong mạng cũng có thể bắt đầu gửi thông báo mỗi khi đường
truyền rỗi. Mỗi bức điện đều bắt đầu bằng một bit khởi điểm và mã căn cước. Trong
trường hợp thực hiện bit giá trị 0 ứng với mức trội và bit giá trị 1 ứng với mức lặn, bit 0
sẽ lấn át. Vì vậy, mội thông báo có mã căn cước nhỏ nhất sẽ được tiếp tục phát. Trong
trường hợp xảy ra va chạm giữa một thông báo mang dữ liệu (DATA FRAME) và một
thông báo yêu cầu gửi dữ liệu (REMOTE FRAME) với cùng mã căn cước, thông báo
mang dữ liệu sẽ được ưu tiên.
6. Bảo toàn dữ liệu.
Nhằm đảm bảo an toàn tối đa trong truyền dẫn dữ liệu, mỗi mạng CAN đều sử dụng
kết hợp nhiều biện pháp để tự kiểm tra, phát hiện và báo hiệu lỗi.
Tất cả các trạm nhận thông báo phải kiểm tra sự nguyên vẹn của thông tin và xác
nhận thông báo. Khi phát hiện ra sự sai lệch trong thông báo, các trạm đều có trách
nhiệm truyền khung lỗi. Các thông báo bị lỗi đó sẽ bị dừng và được tự động phát lại.
Thời gian hồi phục từ khi phát hiện lỗi đến khi gửi thông báo tiếp theo tối đa la 31 thời
gian bit, nếu như không có lỗi xảy ra tiếp theo.
Các trạm CAN có khả năng phân biệt giữa nhiễu tức thời với lỗi kéo dài, ví dụ như
lỗi một trạm có sự cố. Các trạm hỏng sự bị tự động tách a khỏi mạng (về mặt logic).
trình cháy của nhiên liệu : tức là đảm bảo sự chuyển đổi nhiên liệu thành nhiệt năng
theo yêu cầu công nghệ. Đại lượng điều khiển là dòng gió lưu thông và khói cháy. Đối
tượng điều khiển là quạt gió và van cánh hướng, thông tin được sử dụng điều khiển là
lượng nhiên liệu, áp suất chân không và lưu lượng của khói.
Ta đi tìm hiểu một đối tượng điều khiển trong cấu trúc của hệ thống cân bằng gió lò
là: hệ thống điều khiển độ mở van cánh hướng để biết được sự cân bằng gió trong lò
thông qua điều khiển độ mở của van cánh hướng như thế nào.
17
SV:Nguyễn Mạnh Tuấn Đ3-CNTĐ
Bài tập : Nhà máy điện Nhà máy điện nguyên tử
Hình 4.2. Điều khiển độ mở van cánh hướng.
Van cánh hướng là thiết bị sử dụng phổ biến nhất trong hệ thống điều khiển khói và
gió lò. Với mỗi một độ mở nhất định của van thì tương ứng với một lưu lượng khói và
gió đi qua. Cánh hướng gồm hai nửa liên kết với nhau bởi một bản lề phía giữa và có
thể quay được gần . Khi góc mở của cánh hướng giảm thì lưu lượng gió tương ứng đi
qua nó cũng giảm và ngược lại. Để điều khiển độ mở van cánh hướng ta sử dụng sơ đồ
điều khiển như sau :
Hình 4.3. Sơ đồ điều khiển độ mở van cánh hướng.
Cơ cấu điều khiển độ mở van cánh hướng thường được sử dụng hệ thống khí nén
hoặc hệ thống điện. Vị trí hay độ mở của van cánh hướng được đo và phản hồi về, sau
đó được đưa qua bộ so sánh với tín hiệu đặt (lưu lượng hoặc góc mở). Đầu ra của bộ so
sánh là tín hiệu sai lệch được đưa vào bộ điều khiển động cơ và đầu ra của bộ điều
khiển động cơ là tín hiệu đặt của động cơ và cơ cấu chuyển đổi để điều khiển góc mở
của van. Mục đích của hệ thống điều khiển này nhằm đảm bảo cho lưu lượng gió và
khói được ổn định. Đây cũng chính là mục đích ổn định quá trình cháy, nâng cao hiệu
suất cháy của nhiên liệu.
Tài liệu tham khảo !!!
18
SV:Nguyễn Mạnh Tuấn Đ3-CNTĐ
Bài tập : Nhà máy điện Nhà máy điện nguyên tử