Nguồn gốc và đặc điểm cơ bản
của nghệ thuật hát bội
Nghệ thuật Sân khấu Hát bội gọi tắt là Hát bội (còn gọi là Tuồng), là một
trong “Bộ ba” của loại hình Sân khấu truyền thống tiêu biểu của Việt Nam. Nếu
nói đến Sân khấu truyền thống Bắc bộ là người ta nghĩ ngay đến nghệ thuật Sân
khấu Chèo, Nam bộ là Sân khấu Cải lương và Trung bộ là Sân khấu Hát bội vậy.
Nhưng trong “Bộ ba” này, Hát bội được xem là một loại hình nghệ thuật Sân
khấu đầy tính bác học nhất; bởi nó sớm được định hình trong Cung đình và có
những đặc điểm cơ bản ổn định.
SƠ LƯỢC NGUỒN GỐC
Trong ba loại hình nghệ thuật Sân khấu truyền thống Việt Nam: Chèo, Hát
bội (Tuồng), Cải lương thì nguồn gốc của Chèo và Hát bội khá mờ nhạt so với Cải
lương. Bởi Cải lương là loại hình sinh sau đẻ muộn (vào đầu thế kỷ XX) nên có
nhiều tài liệu cụ thể hơn, còn hai loại hình kia có nguồn gốc rất xa xưa; nên muốn
khảo sát lược sử chúng phải dựa vào chính sử dân tộc hoặc tìm những cứ liệu có
liên quan mà nhận định, và mức độ sử liệu chỉ tương đối. Vì lẽ, định kiến ngày
xưa của chế độ phong kiến cho rằng các hoạt động ca cầm là “Xướng ca vô loại”,
nên các sử gia, văn sĩ không quan tâm ghi chép lại; đó là lí do chính thiệt thòi cho
lịch sử của Chèo và Hát bội.
Theo tài liệu của NSND Đinh Bằng Phi, nguồn gốc của Hát bội được xuất
sứ hai thời kỳ: Thôn ổ và Cung đình.
Ở nông thôn khoảng hơn một ngàn năm trước, các hào phú trúng mùa, giết
trâu bò tế Thần Nông vui mừng bày trò ca múa, chọn những người ca hay múa đẹp
trong những tá điền; họ dựa theo những sự tích do người lớn kể lại, có tính cách đề
cao luân lý. Trang phục, nội cụ sơ sài nhưng cũng phân biệt từng nhân vật: vua tôi,
già trẻ, nam nữ, sang hèn…
Không bao lâu, bộ môn hát xướng từ thôn quê đến tai nhà vua, vua truyền
đưa vào cung xem thử; thấy hay, vua mới ra lệnh cho các quan văn chỉnh đốn,
định hình và định danh; từ sự kiện Lý Nguyên Cát là điều kiện kích thích cho Sân
khấu Hát bội ra đời và định hình trong Cung đình.
Xét về mặt từ ngữ, Hát bội xuất phát từ một số gốc nghĩa: về từ “Tuồng”
xuất hiện ở miền Bắc rất xa xưa, kế đó là từ “Hát bội”, nhưng sau đó theo triết lý
Cung đình thấy từ “bội” không mang ý nghĩa tích cực, đồng âm với “bội” trong
phản bội, bội bạc, bội tín… nên đổi “bội” thành “bộ” cho thích hợp với tính chất
của loại hình sân khấu, là biểu diễn qua điệu bộ (thành Hát bộ), nhưng sau đó dân
gian vẫn quen gọi là Hát bội cho đến hôm nay.
VÌ SAO MIỀN TRUNG LÀ CÁI NÔI CỦA HÁT BỘI?
Hát bội được xác định là sinh ra ở miền Bắc, ban đầu chịu nhiều ảnh hưởng của Hí
kịch Trung Quốc; nhưng càng về sau loại hình này dần dần tách khỏi những ảnh
hưởng đó, do các danh sĩ đã ý thức tinh thần dân tộc đã sáng tạo với tư duy của
riêng mình, nhất là sự kiện của Đào Duy Từ - một khai quốc công thần cho Hát
bội ngự trị rực rỡ trên dãy đất miền Trung và cả Nam bộ sau này.
Từ cuối nhà Trần, năm 1400 Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần được mấy năm thì
đất nước bị quân Minh xâm lược đến 20 năm, Lê Lợi xuất hiện và giành lấy độc
lập, rồi đến họ Mạc chuyên quyền hơn nửa thế kỷ. Đến triều Lê Trung Hưng thì
vua quá nhu nhược bị quyền thần uy hiếp, Trịnh – Nguyễn và Tây Sơn đua nhau
giữ chính quyền, thời kỳ này Hát bội bị đình trệ.
Tuy nhiên, thời kỳ này vẫn thấy bóng dáng Hát bội qua nhân vật Đào Duy
Từ. Ông vốn là con của một quan đội giáp (hát xướng) trong triều, vì là con hát
không được phép thi cử nên ông bất mãn vua Lê, bỏ Thăng Long vào Nam và
được chúa Nguyễn trong dụng (chúa Nguyễn Phúc Nguyên 1613 – 1635). Ông đã
bày nhiều kế sách cho chúa: Trả lại sắc phong cho vua Lê, Không nộp cống cho họ
Trịnh, đắp luỹ phòng ngự chống lại Trịnh, xây dựng tiềm lực kinh tế vững mạnh,
tiến cử tướng tài Nguyễn Hữu Tiến, chỉ 8 năm giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã
xây dựng cơ nghiệp đàng Trong khá vững vàng. Đặc biệt, Đào Duy Từ có nhiều
công lao gầy dựng lại Hát bội trong phủ chúa Nguyễn, rồi sau đó lan tỏa sâu rộng
ngoài dân gian miền Trung. Đào Duy Từ mất năm 63 tuổi (1571 – 1634), ông
được xếp đứng đầu trong các Công thần khai quốc của nhà Nguyễn với lí do ông
Ban nhạc Lễ Cung đình. Đến vua Khải Định củng cố nhân sự ban hát hùng hậu
hơn, vua ban cho xiêm giáp rực rỡ hơn và tập dượt có chương trình hẳn hoi mang
tính chuyên nghiệp cao… Tóm lại đây là thời kỳ rực rỡ nhất của Hát bội trong
vương cung, cũng như trong lịch sử của nó…; và từ thời kỳ này, Sân khấu Hát bội
được mệnh danh là cái nôi của miền Trung.
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HÁT BỘI
Nghệ thuật Sân khấu Hát bội thuộc thể tài bi hùng, tư tưởng luôn đề cao
tính trung quân tiết nghĩa, nội dung hầu hết dựa theo tích xưa, chính sử Trung
Quốc nhưng do các tác giả người Việt biên soạn. Đặc điểm này rất nổi trội trong
Hát bội, khi Hát bội mở màn, sân khấu là những cung điện nguy nga lộng lẫy hay
lâu đài hoành tráng; các nhân vật là những ông hoàng bà chúa, thánh thần, tiên ông,
công hầu, khanh tướng… với những xiêm y rực rỡ; oai phong lẫm liệt những áo
mão cân đai… Số phận của những nhân vật trung quân tiết nghĩa luôn được đề cao,
dù kết cuộc có bi thảm nhưng rất hào hùng, bi tráng như cái chết của Quan Công
(Quan Vân Trường); là bậc trượng phu quân tử thà chết chứ không chịu đầu hàng
giặc “đi đại lộ về đại lộ”, dù biết giặc phục quân nguy hiểm…; cái chết thế đứng
của người anh hùng “Hữu dũng vô mưu” – Từ Hải…; Đơn Hùng Tín thà chết để
giữ chữ “tiết nghĩa”… Vì thế mà Hát bội không có những hình tượng người công
nhân, nông dân, sinh viên, giáo viên, bác sĩ, kỹ sư…; cũng không có cảnh trí thiên
nhiên như đồng ruộng, núi đồi, trường học, trạm xá…
Thủ pháp nghệ thuật, Hát bội có tính ước lệ và tượng trưng rất cao. Chỉ những
bước chân của diễn viên trên sân khấu là bằng cả vạn dậm ngoài đời, cây roi có lúc
tượng trưng là con ngựa, có lúc là binh khí để đánh giặc, cái nhúng nhảy là ước lệ
cho sự bay lên trời hay về núi… Ngôn ngữ Hát bội đa phần là từ ngữ Hán Việt
hoặc những từ ngữ triết lý Nho giáo như “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung;
phụ từ tử hiếu, tử bất hiếu bất tử; vũ vô thuyết tả năng lưu khách, sắc vị ba đào
chốn nịch nhân…”. Hát bội còn là loại hình sân khấu gián cách, mang những đặc
thù của Sân khấu phương Đông.
Trình thức của Hát bội là Cung đình, là những nghi thức tấu trình, thưa
bẫm, nghi lễ được quy ước theo khung khổ trong Cung đình rất quy củ… Tính