Đề Tài:Thực trạng đầu tư của Intel vào Việt Nam - Pdf 15

1 BÀI LUẬN
Đề Tài:
Thực trạng đầu tư của Intel
vào Việt Nam

GVHD: Phùng Nam Phương
SVTH: Nguyễn Thanh Thôi 2

MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương 1 :
Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Lời Mở Đầu :
Hiện nay,thế giới đang bước sang giai đoạn toàn cầu hóa mạnh mẽ, hội nhập sâu
và rộng. Những ảnh hưởng ngày càng lan rộng của các Công ty đa quốc gia cùng với
phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã thúc đẩy cả xã hội cùng chạy đua
trên con đường phát triển. Quá trình chuyên môn hóa, hợp tác hóa ngày càng được
chuyên sâu góp phần tăng tổng sản phẩm toàn xã hội. Để hội nhập với nền kinh tế thế
giới, chúng ta cũng phải có những sự chuyển mình để không bị gạt ra khỏi vòng quay
của sự phát triển. Trong bối cảnh đó, xu hướng mở cửa, hợp tác kinh tế với các nước
là một quan điểm nổi bật của chính phủ ta. Thể hiện điều này ngày 19/12/1987 Quốc
Hội ta đã thông qua luật đàu tư trực tiếp nước ngoài, cho phép các tổ chức, cá nhân là
người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Xét về tiêu chí phát triển năng động, Việt Nam là một trong 10 quốc gia dẫn đầu
thế giới. Vài năm trước, tăng trưởng GDP trung bình hàng năm của Việt Nam là 8%
(hiện là 6,8%). Tốc độ tăng trưởng cao là nhờ tiến trình công nghiệp hóa của đất nước
với điểm nhấn là các ngành sản xuất tiên tiến như điện tử, công nghệ sinh học…Ngoài
ra, một yếu tố không kém phần quan trọng để các nhà đầu tư chọn Việt Nam là sự ổn
định về chính trị và xã hội. Nếu thời kỳ đầu những năm 1990, tỷ lệ nghèo đói ở Việt
Nam chiếm 58% dân số, thì đến năm 2010, con số này chỉ còn 9,5%. Trong bảng xếp
hạng tín nhiệm của Viện Nghiên cứu độc lập Legatum có trụ sở ở Dubai, về mức
sống, năm 2011 Việt Nam xếp thứ 61 (tăng 16 bậc so với năm 2010).Việt Nam còn
hấp dẫn giới đầu tư bởi chính sách thuế ưu đãi và thị trường lao động dồi dào. Chuyên
viên Vladislav Belov thuộc Viện Nghiên cứu châu Âu (Viện Hàn lâm Khoa học Nga)
cho rằng Việt Nam không chỉ có lợi thế giá nhân công thấp mà còn có lao động chất
lượng cao.“Các nhà đầu tư châu Âu đều cho rằng Việt Nam có lực lượng lao động
mang tính sáng tạo cao hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực. Theo nhiều chuyên
viên Đức, khi cộng tác với người Việt Nam, họ thường nảy sinh nhiều ý tưởng kinh
doanh mới mẻ. Trong khi đó, các cấp quản lý tại Việt Nam dành cho nhà đầu tư nước
4

ngoài ngày càng nhiều cơ hội, không chỉ với những cơ sở 100% vốn nước ngoài, mà


Chương 1: Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư với
những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh thế (nhà đầu tư trực
tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục
đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh
nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.”
Hội nghị Liên Hợp Quốc về TM và Phát triển UNCTAD cũng đưa ra một khái
niệm về FDI. Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc
thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các
doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh
nghiệp FDI. FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản
vay trong nội bộ công ty.
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở hữu tại
nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác. Đó là một khoản
tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết
định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế
ấy.Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp
nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước
ngoài hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh
doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này”.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “ một doanh
nghiệp đầu tư trực tiếp là một DN có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp
nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền
biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát
công ty”. Tuy nhiên không phải tất cả các quốc gia, đều sử dụng mức 10% làm mốc
xác định FDI. Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh
nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý

9 Đầu tư vốn ra nước ngoài giúp các chủ vốn đầu tư phân tán rủi ro do tình
hình kinh tế-chính trị trong nước bất ổn định.Làn sóng đầu tư mạnh mẽ của nhà doanh
nghiệp Hongkong, Macao, Đài Loan sang các nước công nghiệp phát triển nhằm đề
7

phòng những thay đổi lớn về quản lý kinh doanh sau khi có sự cố sáp nhập của các
nước này vào Trung Quốc vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21.
9 Đầu tư ra nước ngoài sẽ giúp thay đổi cơ cấu nền kinh tế trong nước heo
hướng hiệu quả hơn, thích nghi hơn với sự phân công lao động khu vực và quốc tế
mới.Trong 20 năm 1975-1995 khi đồng Yên tăng giá và việc di chuyển sản xuất của
các công ty Nhật Bản ra nước ngoài đã tạo điều kiện tốt hơn cho việc liên kết theo
chiều ngang trong khu vực.Trong đó, các công ty mẹ ở Nhật Bản chỉ tập trung sản
xuất vào các mặt hàng cao cấp, những thiết bị cần thiết để cung cấp cho các chi nhánh
của họ ở khắp châu Á, và những khâu kĩ thuật cao đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, còn
các chi nhánh và hợp doanh đang ngày càng được phát triển tại các nước trong khu
vực sẽ được hướng vào sản xuất các mặt hàng cần nhiều lao động, kỹ thuật ở trình độ
vừa và thấp, để thay thế cho hàng xuất khẩu từ Nhật Bản, phục vụ cho thị trường địa
phương, cung cấp lẫn nhau,xuất khẩu sang nước thứ ba và ngược trở lại Nhật Bản.
1.2.2.Đối với nước nhận đầu tư.
1.2.2.1.Đối với các nước phát triển
9 Giúp giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế, xã hội trong nước như:
thất nghiệp, lạm phát v.v…
9 Việc mua lại những công ty, xí nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện
tình hình thanh toán, tạo công ăn việc làm mới cho người lao động.
9 Tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội
chi ngân sách của nước sở tại.
9 Tạo ra môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương
mại của nước sở tại.
9 Giúp các nhà doanh nghiệp học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước
đầu tư.

có vốn đầu tư nước ngoài được hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện
hợp đồng hợp tác kinh doanh.
1.3.1.2.Ưu điểm
9 Hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC có thể giúp các nhà đầu tư tiết kiệm
rất nhiều thời gian, công sức cũng như tài chính trong việc thành lập pháp nhân mới
cũng như chi phí vận hành doanh nghiệp sau khi nó được thành lập, khi dự án đầu tư
kết thúc, các nhà đầu tư cũng không phải tiến hành thủ tục giải thể doanh nghiệp. Vì
vậy, hình thức này luôn là ưu tiên số một cho các dự án đầu tư các khu chung cư tại
các thành phố lớn vì khi dự án kết thúc, các bên phân chia xong lợi nhuận thì không
9

cần phải tính đến chuyện làm thủ tục giải thể doanh nghiệp nếu như các nhà đầu tư lựa
chọn hình thức đầu tư khác. Ngoài ra, trong các dự án đầu tư trên, khi các nhà đầu tư
đã lựa chọn hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC thì ngay khi các khu chung cư hoàn
thành, các bên có thể ngay lập tức bán phần của mình như thỏa thuận phân chia mà
không phụ thuộc vào các đối tác còn lại.
9 Với hình thức đầu tư này, các bên có thể hỗ trợ lẫn nhau những thiếu sót,
yếu điểm của nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ví dụ như đối với những thị
trường đầu tư còn mới mẻ, nhà đầu tư nước ngoài sẽ dễ dàng tiếp cận thông qua
những đối tác trong nước am hiểu thị trường. Còn các nhà đầu tư trong nước thì có thể
được các đối tác nước ngoài hỗ trợ về vốn, nhân lực, công nghệ hiện đại. Như vậy, đối
với các nhà đầu tư có thể nói là “đôi bên cùng có lợi”
9 Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhà đầu tư nhân danh tư cách pháp lý
độc lập của mình để chủ động thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Do đó, nhà đầu
tư sẽ rất linh hoạt, độc lập, ít lệ thuộc vào đối tác khi quyết định các vấn đề của dự án
đầu tư. Nếu như đối với các hình thức đầu tư phải thành lập một pháp nhân mới, các
nhà đầu tư căn cứ trên phần vốn mà mỗi bên bỏ ra để lựa chọn một hoặc một nhóm
người đứng đầu, lãnh đạo công ty. Như vậy, những nhà đầu tư có nguồn vốn ít sẽ có ít
cơ hội được nắm quản lý, không chủ động trong việc cũng như với số vốn mà họ đã
bỏ ra, họ giống như một “chủ nợ” hơn là một nhà đầu tư. Nhưng đối với hình thức đầu

đều cho tất cả các nhà đầu tư, như vậy sẽ có lợi cho các nhà đầu tư bỏ ra ít vốn hơn
nhưng lại không công bằng với các nhà đầu tư bỏ nhiều vốn hơn.
9 Pháp luật chưa có các quy định cụ thể về trách nhiệm của các bên và bên
thứ ba khi một bên giao kết hợp đồng với bên thứ ba trong quá trình thực hiện hợp
đồng BCC. Đây cũng là một hạn chế cần phải chú ý tới nếu các bên lựa chọn hình
thức đầu tư này.
1.3.2.Doanh nghiệp liên doanh
1.3.2.1.Khái niệm:
Là hình thức đầu tư mà một doanh nghiệp mới được thành lập trên cơ sở góp vốn
của 2 hoặc nhiều hơn 2 bên Việt Nam và nước ngoài.
1.3.2.2.Ưu điểm
Doanh nghiệp liên doanh là hình thức doanh nghiệp thực sự đem lại nhiều lợi thế
cho cả nhà đầu tư Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài. Đối với các nhà đầu tư Việt
Nam, khi tham gia doanh nghiệp liên doanh, ngoài việc tượng phân chia lợi nhuận
theo tỷ lệ vốn góp, nhà đầu tư việt nam còn có điều kiện tiếp cận với công nghệ hiện
11

đại, phong cách và trình độ quản lý kinh tế tiên tiến. đối với bên nước ngoài, lợi thế
được hưởng là được đảm bảo khả năng thành công cao hơn do môi trường kinh doanh,
pháp lý hoàn toàn xa lạ nêu không có bên việt nam thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
1.3.2.3.Nhược điểm
Hình thức doanh nghiệp liên doanh cũng có sự bất lợi là có sự ràng buộc chặt chẽ
trong một pháp nhân chung giữa các bên hoàn toàn khác nhau không chỉ về ngôn ngữ
mà còn về truyền thống, phong tục, tập quán, phong cách kinh doanh, do vậy có thể
phát sinh những mâu thuẫn không dễ gì giải quyết.
1.3.3.Hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao( BOT,BTO,BT)
1.3.3.1. Hợp đồng BOT
Là hình thức đâu tư liên kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư
để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết
thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt

1.3.4.1.Khái niệm
Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài,do nhà đầu tư nước
ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh.Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam được
hợp tác với nhau hoặc với nhà đầu tư nước ngoài để thành lập doanh nghiệp 100% vốn
đầu tư nước ngoài mới tại Việt Nam.
1.3.4.2.Ưu điểm
a) Đối với nước chủ đầu tư : Chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp thực
hiện được chiến lược toàn cầu của tập đoàn; triển khai nhanh dự án đầu tư; được
quyền chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển
chung của tập đoàn
b) Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư : Nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền
thuế mặc dù DN bị lỗ; giải quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư;
tập trung thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài vào những lĩnh vực khuyến khích
xuất khẩu; tiếp cận được thị trường nước ngoài.
1.3.4.3.Nhược điểm:
c) Đối với nước chủ đầu tư: Chủ đầu tư phải chịu toàn bộ rủi ro trong đầu tư; phải
chi phí nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận thị trường mới; không xâm nhập được vào
những lĩnh vực có nhiều lợi nhuận thị trường trong nước lớn, khó quan hệ với các cơ
quan quản lý Nhà nước nước sở tại.
13

d) Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư: Khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công
nghệ nước ngoài đê nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật ở các doanh
nghiệp trong nước.
1.3.5.Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đây là một hình thức đầu tư thường gặp trong thực tiễn hiện nay, nhất là khi các
nhà đầu tư nước ngoài không muốn vướn nhiều vào các quy trình, thủ tục thành lập
phứt tạp, và bên cạnh đó cũng hạn chế được những bỡ ngỡ khi tiếp cận một thị
trường.Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, với đa phần thuộc thành phần doanh

doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, chẳng hạn giữa một công ty với khách hàng hoặc
nhà cung cấp của họ; sáp nhập mở rộng thị trường diễn ra với hai công ty có cùng loại
sản phẩm, nhưng phân phối ở những thị trường khác nhau; sáp nhập mở rộng sản
phẩm diễn ra với hai công ty bán những sản phẩm khác nhau nhưng liên quan trong
cùng một thị trường; sáp nhập kiểu tập đoàn là hai công ty không có cùng lĩnh vực
kinh doanh, nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh đa ngành
nghề
1.4.Ưu nhược điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài:
1.4.1.Ưu điểm
1.4.1.1.Đối với nước chủ đầu tư:
9 Người chủ đầu tư có thể chủ động điều hành quản lý vốn đầu tư, vì thế đảm
bảo hiệu quả của vốn đầu tư cao.
9 Giữ vững và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, công nghệ và thị trường
cung cấp nguyên vật liệu.
9 Khai thác được lợi thế của nước tiếp nhận vốn đầu tư, tận dụng được công
nghệ cũ, kéo dài được vòng đời sản phẩm, học hỏi được công nghệ nước ngoài.
9 Tránh được các bất lợi khi hoạt động ở trong nước: như chi phí cao và gây ô
nhiễm môi trường.
9 Chủ động điều hành quản lý vốn, điều này giúp đảm bảo hiệu quả của vốn
đầu tư.
9 Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch ngày càng tinh vi và xây dựng được
cơ sở kinh doanh tại các nước thực thi chính sách bảo hộ.
9 Thông qua các hoạt động đầu tư trực tiếp và nước sở tại sẽ giúp chủ đầu tư
tạo ảnh hưởng về mặt kinh tế, chính trị và các mặt khác ở nước sở tại.
1.4.1.2.Đối với nước tiếp nhận đầu tư.
15

9 Không hạn chế khả năng thu hút vốn từ các chủ đầu tư nước ngoài.Nhiều
nước thiếu vốn trầm trọng, nên đối với hình thức đầu tư trực tiếp không quy định mức
đóng góp tối đa của mỗi chủ đầu tư, thậm chí đóng góp vốn càng nhiều thì càng được

Chương 2 : Tổng Quan Về Tập đoàn Intel
2.1.Tập đoàn Intel.
Tập đoàn Intel (Integrated Electronics) thành lập vào ngày 18/7/1968, lúc đó là tập
đoàn hợp nhất về thiết bị điện tử, sản xuất ờ Santa Clara, (California, USA) bởi nhà
hoá học kiêm vật lí học Gordon E.Moore và Robert Noyce, sau khi họ đã rời khỏi
công ty Fairchild Semiconductor.Khi đó Moore đã tuyên bố ‘Chúng ta là những nhà
cách mạng thực thụ’ nhưng phải mất đến 30 năm sau những lời nói của ông mới trở
thành sự thật. Intel Corporation là công ty sản xuất thiết bị chất bán dẫn lớn nhất thế
giới, và là nhà phát minh ra chuỗi vi mạch xử lý thế hệ x86 mà bộ xử lý tìm thấy ở các
máy tính cá nhân. Intel làm ra các sản phẩm motherboard chipsets (con chip mạch
chủ), network cards (Card mạng lưới) and ICs (mạch tổ hợp), flash memory (bộ nhớ
Flash), graphic chips (con chip đồ họa), embedded processors (bộ ghi xử lý), và các
thiết bị khác có liên quan đến tin học và sự truyền thông.
Lúc đầu Gordon Moore and Robert Noyce muốn đặt tên cho công ty là "Moore
Noyce". Tuy nhiên việc phát âm lại giống “more noise” và điều này không thích hợp
cho một công ty điện tử. Họ cho rằng tiếng ồn là đặc trưng cho sự giao thoa xấu. Và
họ đã sử dụng cái tên NM Electronics cho công ty đúng một năm trước khi quyết định
gọi tên công ty là INTegrated ELectronics or "Intel" là từ gọi tắt. Tuy nhiên tên “Intel”
đã là một tên thương mại của một chuỗi hệ thống khách sạn và họ đã mua lại trước khi
hoạt động.
Moore và Noyce bắt đầu tạo nên những bộ nhớ máy tính hiệu quả hơn dựa trên
công nghệ bán dẫn. Thiết bị bán dẫn 1103 được tung ra thị trường năm 1970 trở thành
thiết bị bán dẫn bán chạy nhất trên thế giới.
Tuy nhiên, cơ hội cho bước đột phá quan trọng nhất của họ là khi một công ty
Nhật có tên là Busicom đặt hàng thiết kế 12 con chíp dùng trong máy tính. Vào thời
đó, mỗi sản phẩm điện tử đòi hỏi phải có một con chíp riêng cho nó, nhưng vị kỹ sư
của Intel Ted Hoff nhận thấy rằng ông có thể tạo được một con chíp có khả năng thực
hiện những chức năng rất khác nhau – đó là bộ nhớ của những chiếc máy tính sau này.
Và phát minh của ông đã thành công. Intel nhận ra họ đã tạo ra một sản phẩm với
những ứng dụng có thể gọi là vô hạn. Tuy nhiên vấn đề là ở chỗ, theo như nguyên gốc

công ty lớn nhất thế giới.Đến đầu thế kỷ 21,bộ vi xử lý của Intel đã được tìm thấy
trong hơn 80% máy tính trên toàn thế giới. Intel vẫn còn cạnh tranh thông qua một sự
kết hợp của tiếp thị thông minh, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, trình độ sản xuất cao,
18

một nền văn hóa quan trọng của công ty, trình độ pháp lý, và liên minh đang diễn ra
với Tổng công ty phần mềm khổng lồ Microsoft thường được gọi là 'Wintel.
Intel có khả năng sẽ vẫn là một trong những công ty điện tử hàng đầu cho một thời
gian khi họ tiếp tục phát triển bộ vi xử lý hiệu quả hơn và tiến một cách nhanh chóng
vào các lĩnh vực công nghệ khác.
2.2.Intel Việt Nam
Intel thành lập Văn Phòng đại diện tại Thành Phố Hồ Chí Minh vào năm 1997 và
Hà Nội vào năm 2008. Trong hơn 10 năm qua, Intel đã phối hợp với Chính phủ Việt
Nam (VN) tại trung ương và địa phương, cũng như các đối tác trong và ngoài nước
triển khai thành công nhiều dự án nhằm tăng cường ứng dụng Công nghệ Thông tin
(CNTT) trong mọi tầng lớp xã hội, góp phần xây dựng ngành CNTT trong nước vững
mạnh với các kế hoạch đầu tư vào hạ tầng cơ sở CNTT, và cải cách giáo dục.
Về vấn đề chuẩn bị nguồn nhân lực, Intel đang làm việc với Bộ Giáo Dục và Đào
Tạo cũng như nhiều trường đại học lớn để cải tiến chất lượng chương trình giảng dạy
tại các trường đại học kỹ thuật. Các chương trình hợp tác của Intel bao gồm hỗ trợ
giảng viên, chương trình học bổng cho sinh viên, hỗ trợ trang thiết bị. Hiện đang có 54
sinh viên theo học tại ĐH Kỹ thuật Portland, Hoa Kỳ theo học bổng Intel và rất nhiều
học bổng cho SV trong nước hoàn tất bậc Cử nhân và Thạc sỹ.
29/10/2010, Intel chính thức khai trương nhà máy kiểm tra và đóng gói chip tại
Việt Nam. Địa điểm đặt nhà máy tại Lô I.2, đường D1, khu công nghệ cao Q.9,
TP.HCM. Đây là nhà máy lắp ráp và kiểm định chip mới nhất và lớn nhất trong mạng
lưới sản xuất của Intel trên toàn thế giới. Theo thông tin được biết, sự kiện sẽ chỉ diễn
ra trong khán phòng có sức chứa khoảng 600 người và không được phép tham quan
nhà máy…
Dự án được khởi công vào tháng 1 năm 2006 với mức đầu tư khởi điểm 300 triệu

đi đào tạo tại Mỹ.
Đến tháng 7/2010, khi nhà máy chính
thức đi vào hoạt động sẽ cần thêm 150 nhân
viên kỹ thuật và kỹ sư nữa. Đại diện của
Intel cho hay, con số nhân lực này hoàn toàn
nằm trong khả năng đạt được của Intel. Đặc
biệt, nhà máy của Intel tại Việt Nam sẽ nhận
vào 70% là các sinh viên vừa tốt nghiệp Đại
học, chỉ có 30% các vị trí cần người đã có
Rất có thể không lâu nữa nhà máy
của Intel ở Việt Nam cũng sẽ sản xuất
được bộ vi xử lý Intel Core i7 và Ibex
Peak chipset - một trong những thành
tựu được Phó Chủ tịch cấp cao của Intel
giới thiệu.
20

kinh nghiệm làm việc thực tế.
Công suất dự kiến của nhà máy Intel Việt Nam là 820 triệu sản phẩm/năm. Để
hoạt động hết công suất, nhà máy của Intel tại Việt Nam sẽ phải mất tới 3-5 năm. Khi
đó, doanh thu đem về cho Intel từ các sản phẩm của nhà máy sẽ lên tới 5 đến 15 tỷ
USD.
Một năm nhìn lại, có thể nói, 2009 là năm Intel toàn cầu đã đạt được những thành
tựu đáng kể. Với lĩnh vực di động, Intel đã ra mắt bộ vi xử lý di động Intel Core i7 và
Intel Core i7 Extreme Edition mang tính cách mạng của mình, đưa vi kiến trúc
Nehalem siêu nhanh và nổi tiếng của mình tới thị trường di động. Những bộ vi xử lý
này đã chứng minh hiệu quả tốt nhất khi chơi game, nội dung đa phương tiện kỹ thuật
số, hình ảnh, âm nhạc, các ứng dụng doanh nghiệp cùng các phần mềm đa luồng
khác…
Cũng trong lĩnh vực di động, Intel đã giới thiệu 4 bộ vi xử lý mới, trong đó có một

thuật viên sản xuất (thuộc các ngành Điện - Điện tử, Cơ khí, Cơ điện tử) với số lượng
lớn nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nhà máy. Hai vị trí hiện nay đang được Intel
ưu tiên tuyển dụng là “Giám sát sản xuất” (dành cho các ứng viên có kinh nghiệm) và
“Kỹ thuật viên sản xuất” (dành cho sinh viên mới tốt nghiệp). Để tìm hiểu chi tiết về
hai vị trí này cũng như các vị trí tuyển dụng khác tại Intel, các ứng viên quan tâm có
thể truy cập vào website chính thức của công ty www.intel.com/jobs/vietnam, chọn
“View all jobs in Vietnam”. Ứng viên cũng có thể nộp hồ sơ trực tuyến ngay tại
website trên bằng cách chọn “Apply online” ngay tại vị trí công việc mình quan tâm.
2.3.Quá trình phát triển
2.3.1.Giai đoạn 1968-1979: Từ DRAM đến 8086
Intel có hai người đồng sáng lập, Robert Noyce và Gordon Moore, một trong tám
nhà sáng lập của tập đoàn Fairchild Semiconductor, được thành lập vào năm
1957. Trong khi tại Fairchild, Noyce và Moore đã phát minh ra mạch tích hợp, năm
1968, họ đã quyết định thành lập công ty riêng của họ. Để bắt đầu tăng vốn, Noyce và
Moore đã mời Arthur Rock cùng tham gia, một nhà đầu tư mạo hiểm, với một kế
hoạch kinh doanh cụ thể và nêu rõ ý định phát triển mạch tích hợp quy mô lớn. Rock
đã cung cấp 3 triệu USD vốn. Công ty được thành lập vào ngày 18 tháng 7 năm 1968,
NM Electronics (các chữ cái đứng cho Moore Noyce), nhưng nhanh chóng thay đổi
thành Intel, được hình thành từ các âm tiết đầu tiên của "điện tử tích hợp." Intel thu
thập thêm hai triệu USD vốn trước khi đi phát hành cổ phiếu vào năm 1971.
22

Vào thời điểm đó, bộ nhớ làm bằng chất bán dẫn đắt hơn mười lần so với những
bộ nhớ làm theo tiêu chuẩn cốt lõi. Các chi phí được giảm xuống, tuy nhiên, người
sáng lập của Intel cảm thấy rằng với tốc độ lớn hơn và hiệu quả của công nghệ LSI,
chất bán dẫn sẽ sớm thay thế các lõi từ.Trong vòng một vài tháng khởi động chương
trình, Intel đã sản xuất bộ nhớ 3101 Schottky lưỡng cực, một con chip tốc độ cao
với bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (RAM). 3101 đã chứng minh phổ biến,một chip bán
dẫn oxit kim loại(MOS), đã được hoàn thiện và giới thiệu vào năm 1969. Năm sau,
Intel giới thiệu loại 1103, một Kilobyte (K) RAM, hoặc DRAM, là chip đầu tiên đủ

chip 386 cung cấp tốc độ và sức mạnh lớn hơn cùng với khả năng chạy nhiều chương
trình tại một thời điểm.Chip 386 đặc trưng kiến trúc 32-bit và 275.000 bóng bán dẫn -
nhiều hơn gấp đôi số 286.
Năm 1989 Intel giới thiệu chip 80.486.Chip 80486 bao gồm 1,2 triệu bóng bán dẫn
và coprocessor, và nhanh hơn 50 lần so với chip 4004, bộ vi xử lý đầu tiên.Trong thiết
kế của i486, Intel phản đối một xu hướng ngành công nghiệp hướng tới RISC (giảm
hướng dẫn thiết lập máy tính), một thiết kế chip loại bỏ các hướng dẫn ít được sử
dụng để đạt được tốc độ. Intel lập luận rằng những gì có RISC chip tăng tốc độ, họ bị
mất trong tính linh hoạt và, hơn nữa, chip RISC là không tương thích với phần mềm
đã có trên thị trường, Intel cảm thấy sẽ đảm bảo vị trí của chip 486. Một chip mới,
i860 64-bit được công bố vào đầu năm 1989, tuy nhiên, đã làm cho việc sử dụng công
nghệ RISC để cung cấp những gì Intel tuyên bố sẽ là một "siêu máy tính trên một con
chip.
2.3.3.Giai đoạn Những năm 1990: Thập kỷ Pentium
Năm 1993, Intel phát hành bộ xử lý Pentium thế hệ thứ năm của nó, một con chip
có khả năng thực hiện hơn 100 triệu lệnh trong một giây (MIPS) và hỗ trợ đăng ký
nhãn hiệu.Ví dụ, video thời gian thực thông tin liên lạc. Bộ xử lý Pentium, với 3,1
triệu bóng bán dẫn của nó, là đến năm lần mạnh hơn so với bộ vi xử lý 33-MHz Intel
486 DX (1.500 lần tốc độ là 4004), nhưng công ty đề nghị rằng ' tất cả mọi người nên
sử dụng các máy tính được hỗ trợ bởi chip trước đó. Danh tiếng của Pentium bước đầu
đã bị giảm bởi một lỗ hổng toán học nhúng, nhưng Intel đã nhanh chóng khắc phục
vấn đề.
Các công ty được hưởng một sự gia tăng doanh thu ấn tượng 50% vào năm 1993,
đạt 8,78 tỷ USD từ 5,84 tỷ USD vào năm 1992. Hơn nữa, thu nhập ròng của Intel tăng
vọt 115% lên $ 2,3 tỷ USD, khước từ những lo lắng của Wall Street rằng sự cạnh
tranh đã vắt lợi nhuận. Trong khi Intel phải đối mặt với cạnh tranh mạnh mẽ từ các
24

nhà sản xuất chip khổng lồ Motorola, Inc. PowerPC và cựu đối tác IBM, vị trí của nó
ở hàng đầu của ngành công nghệ là không thể tranh cãi. Với sự ra đời của Pentium,

Intel là một trong những người dẫn đầu trong cuộc cách mạng làm thay đổi xã hội
của chúng ta. Nhưng ở đây lại có một nghịch lý thú vị: công ty là nhà sản xuất chíp
máy tính hàng đầu nhưng cũng là một trong những thương hiệu tiêu thụ chíp máy tính
nổi tiếng thế giới.
Ngày nay, chip có thể được tìm thấy ở mọi nơi, trong mọi sản phẩm như xe hơi, đồ
chơi, điện thoại di động và thậm chí trong những chiếc đồng hồ báo thức. Thật vậy,
công nghệ điện toán đang được chúng ta ứng dụng vào những hoạt động cơ bản hàng
ngày nhiều hơn là NASA sử dụng khi lần đầu tiên đưa con người lên mặt trăng.
Do kiến thức về khoa học kỹ thuật của con người ngày càng được nâng cao cộng
vói hiệu quả của chiến lược tiếp thị, khách hàng ngày nay luôn đòi hỏi họ phải được
biết bộ xử lý trong máy tính họ định mua mang thương hiệu nào. Chiến dịch ‘Intel
Inside®’ đã bắt đầu theo xu hướng này. Theo cuộc nghiên cứu có tên Mercury, Intel
chiếm thị phần 82,2% trong phân khúc bộ xử lý máy tính cá nhân.
Nhưng Intel không chỉ là một nhà chế tạo linh kiện, nó đang cung cấp những
phương tiện để tạo ra những công cụ giao tiếp mạnh hơn, đó là màn hình PC và những
thiết bị không dây. Mục tiêu của nó là trở thành nhà cung cấp hàng đầu cho công nghệ
mạng.
Để đạt được điều đó, Intel vẫn luôn giữ vị trí hàng đầu trên thị trường cung cấp
thiết bị công nghệ. Cuộc cách mạng mới nhất làm chấn động thế giới online là sự gia
tăng của mạng di động. ‘Wi-Fi’ mở ra, tạo sức mạnh cho việc kết nối mạng, truyền
thanh và công nghệ này đang trên đà phát triển. ‘Wi-Fi’ phát huy tác dụng trên laptop
và cả trên những công cụ hỗ trợ kỹ thuật số cá nhân. Intel là nhà tiên phong trong việc
phát triển này với công nghệ di động Intel® Centrino™, được thiết kế chuyên biệt cho
người sử dụng mạng internet không dây. Để phục vụ cho cơ hội mới nhiều hứa hẹn
này, những điểm truy cập Internet không dây được mở trên khắp cả nước. Công nghệ
không dây cũng không bỏ qua cơ hội mở rộng ra cả thế giới và hiện nay đã có tới trên
56,3triệu thuê bao mạng Wi-Fi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status