Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Vốn là điều kiện hàng đầu của tăng trưởng của mọi quốc gia. Đối với Việt
Nam để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định cần phải có một khối lượng
vốn rất lớn. Vì thế trong bối cảnh nền kinh tế còn kém phát triển, khả năng tích
luỹ thấp thì việc tăng cường huy động các nguồn vốn nước ngoài để bổ xung
cho tổng vốn đầu tư phát triển có ý nghĩa rất quan trọng, trong đó phải kể đến
vốn đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng, nó
là nguồn bổ xung vốn cho đầu tư, là một cách để chuyển giao công nghệ, là một
giải pháp tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo nguồn thu cho ngân
sách và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nhận thức đúng vị trí và vai trò to lớn của vốn đầu tư nước ngoài, chính
phủ Việt Nam đã ban hành chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam, đồng thời tạo mọi diều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam. Chúng ta thực hiện đa dạng hoá và đa phương hoá hợp tác đầu tư với
nước ngoài hai bên cùng có lợi. Việt Nam coi vấn đề huy động và sử dụng có
hiệu quả của vốn đầu tư nước ngoài trong tổng thể chiến lược tăng trưởng và
phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay là một trong những nhiệm vụ chiến lược
trọng yếu nhất. Nó góp phần thực hiện có hiệu quả kế hoạch 5 năm (2001-2005),
là bước mở đầu quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã
hội 10 năm 2001-2010 –chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhận thấy vai trò quan trọng của việc đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt
Nam em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Tác động của vốn đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam trong thời kỳ CNH – HĐH và một số phương hướng và biện pháp để
thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam hiện nay”.
Trong bài viết này em xin được trình bày những vấn đề sau:
Chương I: Tổng quan về đầu tư nước ngoài
Chương II: Tác động của vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong
thời kỳ CNH - HĐH
1
đầu tư trực tiếp người có vốn có thể bỏ vốn vào để làm tăng thêm năng lực sản
xuất mới song cũng có thể mua lại một số cổ phần để hy vọng
Trong đầu tư trực tiếp người có vốn bỏ ra có thể là người trong nước mà
cũng có thể là người nước ngoài. Trong trường hợp vốn và người có vốn là
người nước ngoài thì hoạt động đầu tư trực tiếp đó là đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư trực tiếp do nguồn vốn từ
nước ngoài mà chủ thể của nó là tư nhân hay nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế
được nước chủ nhà cho phép đầu tư vào những ngành hoặc những lĩnh vực nào
đó của một nước nhằm thực hiện mục tiêu nhất định.
Ở Việt Nam, văn bản pháp luật đầu tiên về đầu tư trực tiếp nước ngoài là
điều lệ về đầu tư nước ngoài kèm theo nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977.
Điều lệ này không nêu định nghĩa cụ thể về đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng
trong tư tưởng của các quy phạm thì khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng
giống như khái niệm được ghi nhận sau này trong luật đầu tư nước ngoài năm
1987: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, nhân nước ngoàI trực tiếp
đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bằng bất kỳ tài sản được
Chính Phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vn nước ngoài”.
1.1. Đặc điểm của vốn đầu tư nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số đặc điểm sau:
- Hoạt động vốn đầu tư nước ngoài không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận
đầu tư mà còn có cả công nghệ kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, trình độ
quản lý …
- Chủ đầu tư nước ngoài phải đóng một lượng vốn tối thiểu vào vốn pháp
định tuỳ theo quy định của luật đầu tư nước ngoài ở từng nước, để họ có quyền
trực tiếp tham gia điều hành, quản lý. Ví dụ luật đầu tư của Việt Nam quy định:
“Số vốn góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30%vốn pháp định của dự
án .
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Giúp tăng cường khai thác vốn của từng chủ đầu tư nước ngoài. Nhiều
nước thiếu vốn trầm trọng nên đối với hình thức đầu tư trực tiếp không quy định
mức đóng góp tối đa của mỗi chủ đầu tư, thậm chí đóng góp càng nhiều càng
được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế của nước chủ nhà .
- Giúp tiếp thu được công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh
doanh của các chủ đầu tư nước ngoài.
- Nhờ có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép nước chủ nhà có điều
kiện khai thác tốt nhất những lợi thế của mình về taì nguyên, vị trí, mặt nước…
1.3. Một số hạn chế của đầu tư nước ngoài .
Bên cạnh những ưu điểm thì hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng
có những hạn chế nhất định:
- Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn định về kinh tế và chính trị thì chủ
đầu tư dễ bị mất vốn.
- Nếu nước chủ nhà không có một quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học
dẫn tới sự đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá
mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vì hiện nay ở các nước tư bản
phát triển thực hiện sự kiểm soát gắt gao những dự án gây ô nhiễm môi trường,
nên xu thế nhiều nhà tư bản nước ngoài đã và đang chuyển giao những công
nghệ độc hại sang các nuức kém phát triển.
- Mục đích của nhà đầu tư là lợi nhuận nên họ chỉ đầu tư vào nơi có lợi
nhất. Vì thế nhiều khi lượng vốn nước ngoài đã làm gia tăng thêm sự mất cân
đối giữa các vùng nông thôn và thành thị. Sự mất cân đối này sẽ gây nên sự bất
ổn định về chính trị.
- Nước chủ nhà có nguy cơ trở thành nơI tiếp nhận những công nghệ cũ,
lạc hậu của nước ngoài.
2. Vị trí và tác động kinh tế của vốn đầu tư nước ngoài.
* Đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong
quan hệ kinh tế quốc tế.
5
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cho phép và rủi ro trong kinh doanh. Điều này cho phép các chủ thể đầu tư có
thể điều hành hoạt động kinh doanh của họ ở khắp mọi nơi trên thế giới một
cách nhanh chóng và chính xác. Sự phát triển cho phép các chủ đầu tư cung cấp
hàng hoá, dịch vụ đúng hạn, đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường.
- Thể chế chính trị, kinh tế, xã hội của nhiều quốc gia trong những thập kỷ
qua đã có những thay đổi phù hợp với nền kinh tế thị trường mở cửa, với các
thông lệ quốc tế bảo đảm được các lợi ích của chủ đầu tư nước ngoài.
- Tình hình an ninh quốc tế ngày càng có xu hướng ổn định hơn nhất là
sau chiến tranh lạnh. Thế giới đã chuyển từ trạng thái đối đầu sang đối thoại hoà
bình hợp tác, xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá ngày càng phát triển
* Tác động kinh tế của vốn đầu tư nước ngoài:
- Tạo nguồn vốn bổ xung quan trọng
- Chuyển giao công nghệ
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
II. LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CHO PHÁT
TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1. Vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng cho phát triển kinh
tế ở Việt Nam.
Việt Nam cũng như hầu hết các nước đang phát triển, trong giai đoạn đầu
của sự phát triển kinh tế, do mức thu nhập thấp nên khả năng tiêu dùng và tích
luỹ vốn đều rất hạn chế dẫn tới việc thu hút đầu tư trong nước không đáng kể.
Trong khi đó nhu cầu của nền kinh tế lại cần những khoản vốn lớn để đầu tư cho
cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế. để
bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn vốn đầu tư phát triển đất nước thì cần phải thu hút
vốn đầu tư nước ngoài nói chung và FDI nói riêng nhằm tăng dần khả năng đáp
ứng vốn cho quá trình phát triển kinh tế. Do đó việc huy động vốn đầu tư trực
tiếp tạo ra những lợi ích quan trọng trong giai đoạn hiện nay:
khăn về việc làm cho người lao động. Tính đến năm 1997,các xí nghiệp có vốn
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm trực tiếp cho hơn 13 vạn lao động và hơn 10
vạn lao động gián tiếp phục vụ cho hợp tác đầu tư. Đồng thời đã thu hút hơn
4000 cán bộ Việt Nam làm việc trong các xí nghiệp này. Nhiều cán bộ đã phát
huy được năng lực, vươn lên đảm nhiệm được những công việc quan trong, có
uy tín đối với các đối tác bên ngoài. Sự đóng góp này tuy còn nhỏ bé song lại
đáng quý trong điều kiện đang thiếu nhiều việc làm ở nước ta.
Bốn là: Tăng thêm nguồn thu từ xuất khẩu, dịch vụ thu ngoại tệ và đóng
góp vào thu ngân sách nhà nước. Trong suốt thời kỳ 1988-1996 đã tạo ra hơn 2
tỷ USD giá tri sản lượng hàng hoá và dịch vụ đóng góp hơn 2tỷ đồng cho ngân
sách. Tuy nhiên con số trên còn nhỏ bởi vì trong giai đoạn này khoảng 30% các
dự án đầu tư đang trong thời gian được miễn thuế
2. Vai trò và ý nghĩa của vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Thực hiện hoạt động đầu tư trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã cho
thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò hết sức to lớn đối với nước tiếp nhận
đầu tư đặc biệt là ở những nước đang phát triển.
Ngày nay do vai trò quan trọng của FDI nên các nước đang phát triển và
cả những nước phát triển đều ra sưc cạnh tranh để thu hút FDI.
Trước hết FDI đóng vai trò là nguồn cung cấp vốn lớn, góp phần giải
quyết tình trạng thiếu vốn đầu tư- một căn bệnh kinh niên và phổ biến của bất kỳ
một quốc gia chậm phát triển nào, ở Indonesia sau khi ban hành luật đầu tư nước
ngoài đã cung cấp một lượng vốn bình quân trong 27 năm (1967-1994) là 1.15
tỷ USD/năm.
Những năm gần đây, Philipin đang trên đà tăng trưởng kinh tế ở mức cao
và họ cho rằng nếu sử dụng nguồn vốn nước ngoài hợp lý thì có thể khuyến
khích được tính hiệu quả của nền kinh tế. Ở Trung Quốc, đầu tư trực tiếp
nước ngoài đã cung cấp cho đất nước rộng lớn này 87 tỷ USD/năm trong 15 năm
(1979-1994).
những công nghệ tiên tiến hơn cả nước mình. Ví dụ ở Nhật Bản, do đồng yên
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tăng giá nên ngày càng nhiều các công ty Nhật Bản mang nhiều công
nghệ tiên tiến ra nước ngoài để sản xuất hàng hoá rồi nhập khẩu trở lại Nhật Bản
nhằm thu lợi nhuận cao.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có vai trò là một hình thức đào tạo giúp
các nước tiếp nhận đầu tư kiến thức sử dụng công nghệ hiện đại và học tập kinh
nghiệm quản lý của nước ngoài trong sản xuất kinh doanh, nâng cao trình độ sản
xuất kinh doanh của đất nước, hoà nhập vào sự phân công lao động quốc tế.
Hơn thế nữa, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần đào tạo một đội
ngũ công nhân có trình độ kỹ thuật cao. Bên cạnh đó đầu tư trực tiếp nước ngoài
có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm, hạn chế tình trạng
thất nghiệp, nâng cao mức thu nhập cho người lao động.
Ở Việt Nam, số lao động người Việt Nam làm việc trong các xí nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng từ 65000 năm 1994 lên 90000 vào cuối
năm 1995. Ngoài ra đầu tư trực tiếp nước ngoài còn gián tiếp tạo việc làm và thu
nhập cho hàng chục vạn lao động làm các công ty dịch vụ có liên quan. Về cơ
bản, tiền lương được giải quyết phù hợp với quy định, cao hơn mức lương của
các doanh nghiệp cùng loại thuộc các thành phần kinh tế khác.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối
với sự phát triển kịnh tế của các nước tiếp nhận đầu tư. Người Malayxia nhận
xét rằng: Trong một chừng mực nhất định đầu tư trực tiếp nước ngoài từ chỗ là
“nhân tố bên ngoài”chuyển thành “ nhân tố bên trong”quyết định phần lớn thị
trường kinh tế, cơ cấu kinh tế. Theo tạp chí kinh tế Viễn Đông thì sau khi có
chính sách mở cửa và luật đầu tư nước ngoài, nền kinh tế của Inđonesia được coi
như “người khổng lồ” của Đông nam á đang ngủ đã tỉnh dậy trở thành một quốc
gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh.
Ở Việt Nam hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vừa qua đã góp phần
làm chuyển biến nền kinh tế Việt Nam theo hướng của một nền kinh tế công
TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1. Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng cường xuất khẩu tăng
thu cho ngân sách.
Kể từ khi Việt Nam bắt đầu thu hút vốn, cán cân thanh toán có những cải
thiện đáng kể. Điều này phần nào được thể hiện ở lợi ích tài chính đem lại về
doanh thu của các xí nghiệp có vốn FDI, kể từ ngày 26/3/97 là 4838 tr USD
trong đó kim ngạch xuất khẩu chiếm 1/3. Còn nếu cộng cả dầu khí, tỷ trọng xuất
khẩu của FDI khoảng 60-65% điều này có ý nghĩa rất to lớn đến sự phát
triển kinh tế của Việt Nam. FDI còn có tác động tích cực tới đẩy mạnh sản
xuất, tạo ra những năng lực sản xuất mới, đã làm nâng cao chất lượng hàng xuất
khẩu như hàng may mặc, thực phẩm…
2. Tăng thêm việc làm và thu nhập cho người lao động
Thất nghiệp là hiện tượng KT-XH được coi như một tệ nạn đáng lo ngại,
là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Từ khi thực hiện luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chúng ta đã khắc
phục phần nào tỷ lệ thất nghiệp, bước đầu đã tạo thêm việc làm cho người lao
động. Làm việc trong khu vực có vốn FDI người lao động Việt Nam có mức thu
nhập khá cao, tuy thu nhập đó chưa thật đáng kể so với thu nhập của các nước
trong khu vực nhưng đó là kết quả bước đầu cho chúng ta thấy được tầm quan
trọng của FDI đối với việc giải quyết việc làm trong thời gian qua. Tuy vậy vấn
đề giải quyết là vốn trí được giữa đầu tư xây dựng mới và đầu tư chiều sâu, giữa
các ngành có trình độ kỹ thuật cao và vừa phải kết hợp hài hoà giữa hai lợi ích.
GiảI quyết việc làm cho người lao động và nâng cao trình độ kỹ thuật trong
nước, đem lại hiệu quả KT-XH cao.
13