----------
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài : Thực trạng lưu thông tiền mặt ở
Việt Nam và những biện pháp nhằm giảm
lưu thông tiền mặt
TiÓu luËn m«n Ng©n hµng Trung ¬ng
2
PHẦN I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN TỆ
I. Khái niệm, chức năng và quá trình phát triển của tiền tệ.
1. Khái nịêm.
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin thì tiền tệ là hàng hoá đặc biệt,
dùng làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá, là sự thể hiện chung của
giá trị và thể hiện lao động xã hội ; đồng thời tiền tệ biểu hiện quan hệ sản xuất
giữa những người sản xuất hàng hoá, do quá trình phát triển lâu dài của trao đổi
hàng hoá tạo ra.
Tiền với cách hiểu chung nhất là bất cứ cái gì được chấp nhận trong thanh toán
để lấy hàng hoá hoặc trong việc hoàn trả các khoản nợ. Hiện nay có hai loại tiền
tệ chính, đó là tiền tệ có giá trị thực và tiền tệ quy ước. Tiền quy ước gồm có:
Tín tệ, tiền pháp định và tiền của hệ thống ngân hàng. Trong tất cả các loại tiền
đó thì tiền mặt pháp định là một trong các loại tiền mạnh, đó là loại tiền giấy do
ngân hàng trung ương(NHTW) phát hành. Loại tiền này có giá trị thực rất thấp,
có thể xem như không đáng kể, đây là loại tiền được hình thành dựa trên yếu tố
chủ quan của chính phủ. Chính phủ căn cứ vào các quy luật kinh tế, điều kiện
kinh tế xã hội của đất nước cũng như của thế giới để từ đó phát hành tiền một
cách hợp lý. Do đồng tiền pháp định có giá trị không đáng kể nên nó có thể bị
lạm phát hoặc giảm phát.Tuy nhiên, tiền mặt pháp định là loại tiền được tín
nhiệm nhất bởi vì đây là đồng tiền của chính phủ và nó có hiệu lực trao đổi trên
toàn lãnh thổ. Hiện nay, tiền có giá trị thực chủ yếu là tiền vàng, vì tiền vàng có
gía trị thực nên nó có nhiều ưu điểm hơn so với tiền giấy như mức ổn định của
đồng tiền, giá trị trao đổi, phạm vi trao đổi. Bây giờ, tiền vàng ít được sử dụng
hơn. Vàng hiện nay được sử dụng chủ yếu nhằm mục đích thực hiện chính sách
tiền tệ của NHTW hoặc sử dụng như những hàng hoá trang sức, nó ít sử dụng
trong các quan hệ xã hội. Nhờ chức năng này mà tính chất tiền tệ hoá ngày càng
phổ biến trong đo lường sự phát triển của xã hội, đo lường mức sống của con
người...Nó đã tạo ra một nền kinh tế mang tính chất tiền tệ.
TiÓu luËn m«n Ng©n hµng Trung ¬ng
4
- Chức năng phương tiện tích luỹ: Tích luỹ là cơ sở để tái sản xuất và mở
rộng sản xuất cho nên nó cũng là cơ sở phát triển kinh tế. Tiền có được chức
năng này là vì nó là phương tiện trao đổi, là tài sản có tính lỏng cao nhất.
3, Quá trình phát triển tiền tệ
Khi nền kinh tế sơ khai, lúc bấy giờ chưa có ngân hàng, tiền sử dụng
trong trao đổi là hiện vật (tiền hàng hoá) là những loại tiền được làm ra từ các
dạng vật chất mà bản thân nó đã có giá trị sử dụng sẵn, nó không do một tổ chức
nào phát hành. Khi nền sản xuất và trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển, loài
người đã tìm kiếm và khai thác được kim loại cùng với sự bộc lộ nhiều nhược
điểm của tiền hàng hoá khi kim loại được chọn làm vật ngang giá chung với ưu
điểm như: Có độ bền, gọn, giá trị phổ biến. Để thuận tiện cho lưu thông tiền kim
loại, ngân hàng đã quy định thống nhất việc đúc tiền như về kích thước, hình
dáng, trọng lượng cho mỗi đơn vị tiền tệ, đặt tên cho đồng tiền, quy ước các bộ
phận chia nhỏ của đồng tiền. Tiền kim loại do nhà nước và cá nhân đúc nhưng
đều phải được nhà nước quản lý, điều này đánh dấu sự ra đời của nghiệp vụ phát
hành tiền. Chính nhờ đồng tiền này mà nền kinh tế đi vao ổn định hơn, cũng dựa
trên cơ sở đó, nhà nước lúc bấy giờ không chỉ phát hành bằng tiền kim loại mà
còn phát hành ra tiền giấy. Như vậy, trong giai đoạn này đã xuất hiện tiền kim
loại và tiền giấy, tuy nhiên chưa xuất hiện ngân hàng.
Ngân hàng xuất hiện là một tất yếu khách quan do yêu cầu của nền kinh
tế. Ngân hàng thương mại (NHTM) là ngân hàng xuất hiện đầu tiên, trong giai
đoạn đầu này hoạt động của ngân hàng còn rất sơ khai, ngân hàng sẽ phát hành
ra các chứng thư hay các kỳ phiếu đúng bằng giá trị của vàng mà khách hàng
gửi vào ngân hàng, chính mà khả năng chuyển đổi các giấy tờ đó ra vàng luôn
1. Nguyên tắc phát hành tiền dựa trên cơ sở trữ kim làm đảm bảo.
Nguyên tắc này quy định khối lượng giấy bạc ngân hàng phát hành vào
lưu thông phải được đảm bảo bằng dự trữ kim loại quý hiện có trong kho dự trữ
của ngân hàng. Việc đảm bảo này phải được duy trì theo một trong các hình
thức sau:
- Nhà nước quy định một hạn mức phát hành giấy bạc ngân hàng, khối
lượng giấy bạc ngân hàng phát hành nằm trong hạn mức thì không cần phải có
TiÓu luËn m«n Ng©n hµng Trung ¬ng
6
kim loại quý (vàng) làm đảm bảo, nhưng nếu vượt quá hạn mức đó thì khối
lượng vượt quá hạn mức đòi hỏi phải có 100% vàng làm đảm bảo.
- Nhà nước sẽ quy định mức tối đa lượng giấy bạc trong lưu thông mà
không quy định mức dự trữ vàng đảm bảo cho lượng giấy bạc đó. Nhưng nếu
phát hành giấy bạc vượt quá mức quy định đó thì phải có vàng làm đảm bảo.
- Nhà nước quy định mức dự trữ vang tối thiểu cho khối lượng giấy bạc
phát hành, phần còn lại phải được đảm bảo bằng các chứng từ có giá như thương
phiếu, chứng khoán chính phủ và các tài sản có kháccủa NHTW.
2. Nguyên tắc phát hành tiền có đảm bảo bằng hàng hoá.
Cùng với sự phát triển sản xuất hàng hoá, khối lượng hàng hoá lưu thông
ngày càng tăng, đòi hỏi phải có nhiều tiền để đáp ứng cho nhu cầu trao đổi hàng
hoá và dịch vụ. Mặt khác do yêu cầu đáp ứng chi tiêu của chính phủ. Sau chiến
tranh thế giới II, nguyên tắc 1. gần như được chấm dứt. Thay vào đó là sự đảm
bảo bằng hàng hoá cho việc phát hành tiền. Mặt khác quá trình lưu thông xuất
hiện mới nhận thức về tiền, thế giới đã phi tiền tệ hoá vai trò của vàng, các loại
tiền dấu hiệu ra đời và thay thế cho tiền kim loại vàng trong lưu thông. Để lưu
thông tiền tệ ổn định, NHTW đặt ra nguyên tắc phát hành tiền được đảm bảo
bằng giá trị hàng hoá.
Theo nguyên tắc này, đảm bảo duy nhất cho khối lượng tiền trong lưu
thông giờ đây là hàng hoá, thông qua các chứng khoán của chính phủ hoặc các
quả làm tăng tiền trung ương (MB). Nư vậy, qua việc NHTW cho các NHTM
vay, NHTW đã phát hành một lượng tiền vào lưu thông còn NHTM nhận được
một khoản tín dụng từ NHTW là một nguồn vốn giúp NHTM mơ rộng hoạt
động kinh doanh.
2. Kênh thị trường mở.
Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, NHTW mua các giấy tờ có giá trên
thị trường, nghĩa là đã đưa một khối lượng tiền vào lưu thông, hàng hoá mà
NHTW mua là các tín phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá ngắn hạn. Khi
NHTW mua các chứng từ có giá trên thị trường thì tiền từ NHTW ra lưu thông,
kết quả là tiền cung ứng sẽ tăng lên bằng đúng giá trị của chứng từ có giá đó.