BÀI TẬP Môn: Tài chính – tiền tệ - Pdf 15

BÀI TẬP
Môn: Tài chính – tiền tệ
1. Nếu lãi suất là 8%/năm, người ta sẽ chấp nhận 100.000 đồng hiện tại hay
160.000 đồng sau 5 năm ?
2. Một người đi vay 100.000 đồng, sau đó đúng 2 năm phải trả 120.000 đồng. Lãi
suất của khoản vay đó là bao nhiêu trong trường hợp lãi suất tính đơn và lãi suất
tính kép?
3. Nếu lãi suất 12 %/năm thì phải có bao nhiêu thời gian để:
- Gấp 2 số tiền ban đầu?
- Gấp 3 số tiền ban đầu?
- Gấp 5 số tiền ban đầu?
4. Với số tiền gốc ban đầu là 4 triệu đồng và lãi suất 12%/năm, để nhận được 7,9
triệu đồng thì cần bao nhiêu thời gian?
5. Hãy xác định giá trị hiện tại của một dãy tiền tệ bằng nhau có giá trị 100.000
đồng trong 3 năm liên tiếp tính sau thời điểm hiện tại 1 năm nếu lãi suất i =
8%/năm, số lần tính lãi là 1 lần trong năm.
6. Sau khi tổng kết năm thứ nhất, tổ chức quốc tế có tên là REI căn cứ vào điểm
của sinh viên để thưởng cho một sinh viên xuất sắc nhất. REI cho sinh viên trên
được hưởng số tiền liên tiếp trong 3 năm bằng cách gửi đều đặn 6 tháng 1 lần với
số tiền mỗi lần là 500000 đồng. Lần lĩnh đầu tiên được quy định sau đó 6 tháng.
Vậy món tiền thưởng đó tương đương với giá trị hiện tại là bao nhiêu nếu:
- Lãi suất i = 10%/năm, số lần tính lãi 1 lần trong năm
- Lãi suất i = 12%/năm, số lần tính lãi 1 lần trong năm
- Lãi suất i = 15%/năm, số lần tính lãi 2 lần trong năm
7. Do không có chế độ hưu trí nên một nông dân cần phải tiết kiệm một khoản tiền
để lo khi tuổi già. Hiện nay ông ta đúng 50 tuổi. Nếu khi ông ta đúng 60 tuổi,
ông ta muốn có số tiền là 40 triệu thì hàng năm ông ta phải gửi tiết kiệm vào
ngân hàng đều đặn một số tiền là bao nhiêu nếu:
- Lãi suất tiết kiệm là 8%/năm, tiền gửi có kỳ hạn 1 năm?
- Lãi suất tiết kiệm là 7,5%/năm, tiền gửi có kỳ hạn 6 tháng?
(Ghi chú: tiền gửi tiết kiệm được bổ sung đều đặn tại cuối kỳ hạn tính lãi)

- Thời hạn vay là 9 tháng?
- Thời hạn vay là 6 tháng?
- Thời hạn vay là 3 tháng?
15. Một trái phiếu coupon có mệnh giá 500.000 đ, thời gian là 6 năm, lãi suất trái
phiếu là 10%/năm, thời hạn tính lãi một lần trong năm.
Nếu giá trị trái phiếu hiện đang được bán là 476.190,48 đồng thì tỷ suất đầu tư
mua trái phiếu trên là bao nhiêu?
Tính tiếp cho trường hợp tính lãi 6 tháng một lần.
2
16. Ông A gửi 40 triệu đồng tiền tiết kiệm ở ngân hàng NN và PTNT. Nếu lãi suất
năm đầu tiên là 10%/năm,hai năm tiếp theo là 11%/năm và năm cuối cùng là
10,5%/năm thì số tiền ông A nhận được là bao nhiêu sau đúng 4 năm trong
trường hợp:
a. Ngân hàng ghép lãi hàng năm.
b. Ngân hàng ghép lãi 6 tháng 1 lần.
17. Bảng lãi suất huy động cá nhân VND tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương
Tín, áp dụng từ 07h30 ngày 18/09/2012
Kỳ hạn Lãi cuối kỳ
(%/năm)
Lãi trả sau
Lãi hàng quý
(%/năm)
lãi hàng tháng
(%/năm)
Lãi trả trước
(%/kỳ hạn)
A (1) (2) (3) (4)
1 tháng 9,00 9,00 0,74
6 tháng 9,00 8,90 8,84 4,31
9 tháng 9,00 8,80 8,74 6,32

8 9,00% 8,77% 5,66%
9 9,00% 8,80% 8,74% 6,32%
10 9,00% 8,71% 6,98%
11 9,00% 8,68% 7,62%
12 12,50% 11,96% 11,84% 11,11%
13 13,00% 12,22% 12,34%
15 12,00% 11,34% 11,23% 13,04%
18 12,00% 11,19% 11,09% 15,25%
24 12,00% 10,90% 10,80% 19,35%
36 12,00% 10,38% 10,29% 26,47%
II. Biểu lãi suất huy động các loại ngoại tệ khác
Kỳ hạn
(tháng)
USD
(%/năm)
EUR
(%/năm)
AUD, CAD,
CHF, GBP,
JPY, SGD
Không kỳ
hạn
0,10% 0,00% 0,00%
4
Để đạt thành tích khoa học vượt trội tại châu Á
Alice S. Huang và Chris Y. H. Tan
Trung tâm CNSH Biopolis (Singapore)
LTS: Liệu Châu Á có thể trở thành đối tác mạnh về khoa học trong thế kỷ XXI? Trên
tạp chí Science, Alice Huang và Chris Tan phân tích những nỗ lực trong phát triển
tiềm lực khoa học của các quốc gia Châu Á và đưa ra một số khuyến nghị để các

hóa quốc gia – để xây dựng các chính sách khoa học quốc gia
7. Thiết lập cơ chế tài trợ nghiên cứu cạnh tranh và minh bạch dựa vào thành tích
khoa học
8. Hình thành văn hóa khoa học đề cao nhân cách và sự trung thực
Đầu tư của châu Á vào khoa học cơ bản hiện đại chỉ mới bắt đầu 25 năm nay. Sau khi
đã đầu tư đáng kể và xây dựng và trang thiết bị, các quốc gia châu Á đang tiến tới
giai đoạn nhận ra rằng rất cần phải xây dựng văn hóa nghiên cứu để có thể cạnh tranh
được với thế giới.
Trong quá khứ, giữa các cơ sở nghiên cứu của châu Á vẫn thiếu sự hợp tác, tương
tác, đặc biệt thông qua các kênh quốc gia. Nhưng từ những năm 1990, qua những mối
quan hệ mới được thiết lập trong nghiên cứu, chúng tôi quan sát thấy tinh thần bằng
hữu giữa các nhà khoa học tại nhiều viện nghiên cứu của châu Á. Các nhà khoa học
của 14 quốc gia cùng chia sẻ những giá trị và tầm nhìn đã cùng nhau thành lập mạng
lưới sinh học phân tử khu vực châu Á Thái Bình Dương năm 1997. Mạng lưới này có
thể là giai đoạn bắt đầu cho việc thiết lập mối quan hệ đối tác giữa các nhà khoa học
châu Á cũng giống như tổ chức Sinh học phân tử của châu Âu. Sự phát triển chưa
từng có này đã cho thấy sự hợp tác quốc tế - một trong những yếu tố quan trọng cho
phát triển khoa học châu Á đang được hình thành.
Một giải pháp để các quốc gia có thể phát triển tư duy sáng tạo trong khoa học là thu
hút những nhà khoa học của họ được đào tạo ở nước ngoài trở về. Từ năm 1982 tới
năm 1989, 422 sinh viên từ Trung Quốc đã sang Mỹ học tiến sĩ thông qua Chương
trình hợp tác đào tạo ngành hóa sinh của Trung Quốc và Mỹ (China – United States
Biochemistry Examination and Application – CUSBEA). Hiện nay, cả Trung Quốc
và Singapore đều tập trung vào nhóm này và hy vọng có thể thu hút họ trở về châu Á.
Khoảng 30 người trong số CUSBEA và một số nhà khoa học khác của Trung Quốc
tại Mỹ gần đây đã trở về Trung Quốc. IMCB (Viện sinh học phân tử và sinh học tế
bào) của Singapore cũng tuyển một vài nhà khoa học của chương trình CUSBEA.
Tuy vẫn sớm để đánh giá nhưng sự trở về của các nhà khoa học này đã phần nào cho
thấy có thể chỉ mất một thế hệ để xây dựng nền nghiên cứu khoa học cạnh tranh với
điều kiện những nhà khoa học trẻ được đào tạo bài bản được trao cho cơ hội tiến

Tại Singapore còn có cuộc tranh luận là liệu nên phụ thuộc vào các nhà khoa học
phương Tây đã thành danh lãnh đạo hay xây dựng năng lực lãnh đạo với những nhà
khoa học trẻ trở về. Sự cân bằng là cần thiết mặc dù chúng tôi tin rằng phải giao
quyền cho những nhà khoa học trẻ trở về. Các nhà khoa học đã thành danh với kinh
nghiệm phong phú có thể đưa ra những lời khuyên cần thiết liên quan tới các chính
sách phát triển quốc gia và đào tạo nhà khoa học trẻ. Nhưng các nghiên cứu trẻ lại là
một sự đặt cược đảm bảo hơn cho những đột phá. Họ thường có những kiến thức
nghiên cứu mới nhất cũng như tham vọng và nguồn năng lượng để thành công.
7
Châu Á có thể đi theo xu hướng khuyến
khích các nghiên cứu mới bằng cách tài
trợ cho số lượng lớn các nhà nghiên cứu
trẻ trở về nước, làm cho họ có thể tiếp cận
được với quỹ tài trợ không dựa vào mối
quan hệ mà dựa trên thành tích nghiên cứu
và hiệu quả làm việc. Nếu không có những
con đường tiến thân rõ ràng cho các nhà
khoa học tại châu Á, những người giỏi, tài
năng sẽ không lựa chọn sự nghiệp khoa
học.
Thật không may, tại châu Á, sự ngưỡng
vọng tri thức được dịch đơn giản là sự tôn
thờ các giải Nobel và các cơ hội học tập
tại các trường đại học hàng đầu. Các nhà
khoa học đoạt giải Nobel và những giáo
sư nổi tiếng của các trường đại học phương Tây được xem có thẩm quyền cao nhất về
tri thức. Những khoản tiền lớn đã và đang được chi với hy vọng sẽ nhanh chóng kết
nối các viện khoa học châu Á với các trường đại học nổi tiếng thế giới.
Làm thế nào châu Á có thể nuôi dưỡng năng lực khoa học với sự thiếu tin tưởng vào
tài năng của mình đến vậy? Nếu không thay đổi thì chủ nghĩa thực dân về trí tuệ

học (CNSH). Ông là người đã thiết lập trung tâm CNSH quốc gia Singapore và hiện
là cố vấn của nhiều chương trình Biotech ở châu Á. Ông đã qua Việt Nam dự hội
nghị lần thứ 8 của Hội Mạng lưới Sinh học Á châu (A-IMBN) tai TP HCM cách đây
5 năm. Chúng tôi thiết nghĩ tác giả và cộng sự đã cho chúng ta nhiều nhận định hữu
ích để suy xét và áp dụng trong nỗ lực triển khai khoa học phục vụ Việt Nam. Tuy
nhiên, chúng ta cần thực tế và linh động khi ứng dụng các đề nghị trên bởi mỗi quốc
gia có những ưu và khuyết điểm riêng. Dưới đây tôi thử phân tích 8 đề nghị nêu trên
trong bối cảnh những ưu và khuyết điểm của khoa học Việt Nam hiện nay.
1. Dạy phương pháp học tích cực cho học sinh ngay từ giai đoạn đầu: Ở Việt
Nam, điều này sẽ cần thời gian và tổ chức và gồm hai giai đoạn. Giai đoạn một, bỏ lối
dạy từ chương và giai đoạn hai là tổ chức lối dạy tích cực dùng suy luận.để giải quyết
vấn đề (problem solving). Trên thực tế, lối dạy tích cực ở bậc đại học cần có cơ sở hạ
tầng tốt, các đại học Việt Nam sẽ cần hỗ trợ của những nước phát triển vì họ đã khai
triên phương pháp này từ nhiều năm qua.
2. Khuyến khích trí sáng tạo: Rất cần thiết ở Việt Nam để khai triển tiềm năng lớn
lao của CNSH. Tuy nhiên việc sáng tạo cần được đặt trên nền tảng của sự hiểu biết
tường tận. Nhưng ý kiến sáng tạo mà thiếu hiểu biết và kinh nghiệm sẽ mang lại
nhiều rủi ro trong nghiên cứu, tốn kém về kinh phí và khó đạt thành công.
3. Ủng hộ những tư duy và nghiên cứu độc lập: Chúng ta nên đặt ưu tiên cho
những cơ sở có truyền thống vững vàng và có các định hướng mới để giới trẻ có thể
tham gia hiệu quả. Ở các nước tiến bộ, họ có cơ sở hạ tầng nghiên cứu vững chắc và
giới trẻ được huấn luyện theo tiêu chuẩn nên khả năng làm việc rất cao và hữu hiệu.
Chúng ta chưa có các cơ sở hạ tầng này, nên giới trẻ chưa thể tự phát và tự khai triển
được.
Tư duy độc lập và tự chủ trong khoa học rất quan trọng để mang lại kết quả thiết thực
cho Việt Nam. Hiện có nhiều nghiên cứu và ứng dụng ở trong nước dựa theo kết quả
9
từ nghiên cứu nước ngoài nên thiếu tính độc lập để triển khai các đối tượng nghiên
cứu phong phú ở Việt Nam. Như vậy sẽ khó mang lại những ứng dụng hữu ích cho
các vấn đề sinh học ở môi trường và chủng tộc Việt Nam. Quan trọng hơn nữa cần


10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status