Mục lục :
Phụ lục ( danh sách nhóm 8 – CDTN Tín dụng )
Lời nói đầu
Nền kinh tế nước ta trong những năm qua đã và đang chuyển dần từ cơ chế kế hoạch
hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của nhà nước, việc chuyển
đổi cơ chế mang tính tất yếu cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia như Việt Nam.
Trong quá trình đổi mới đó, hoạt động Ngân hàng là một trong những mắt xích quan
trọng cấu thành sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế và được coi là mũi nhọn đột
khởi. Kết quả đổi mới hoạt động Ngân hàng trong những năm qua đã đóng góp tích cực
vào thành tựu chung của Đất Nước, nét nổi bật nhất là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy
lùi và kìm chế lạm phát ở mức hợp lý, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên hoạt động Ngân hàng ở nước ta, bên cạnh sự phát triển hiện đang gặp
nhiều khó khăn và tồn tại nhất là trong lĩnh vực tín dụng. Hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng luôn luôn chứa đựng tiềm ẩn rủi ro, đó chính là rào cản mà Ngân hàng phải
đối mặt. Thực hiện tín dụng an toàn và có hiệu quả đó chính là mục tiêu mà các Ngân
hàng thương mại vươn tới. Làm thế nào để củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động tín
dụng đảm bảo kinh doanh có hiệu quả đồng thời ngăn ngừa được rui ro tín dụng là nhiệm
vụ bức thiết của toàn hệ thống Ngân hàng Việt Nam.
Thực trạng chất lượng tín dụng của các NHTM tại Việt Nam luôn là vấn đề được nhà
đầu tư cũng như nhiều người tiêu dùng quan tâm hơn cả do nhu cầu tín dụng vay vốn
cũng như nhu cầu cất trữ tiết kiệm cuẩ người dân Việt Nam. Câu hỏi được đặt ra là chất
lượng tín dụng của các NHMT hiện nay đã và đang đáp ứng nhu cầu như thế nào?
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
Nhóm 8 lớp CĐTN Tín Dụng và Hoạt Động Tín Dụng trong NHTM thực hiện tiểu
luận này phần nào phản ánh chất lượng tín dụng, thực trạng tín dụng và bài học rút ra từ
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới.
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
I – Tín dụng là gì ?
1. Khái niệm:
Tín dụng ra đời rất sớm so với sự xuất hiện của môn kinh tế học và được lưu truyền từ
tầng lớp khác đi vay là để giải quyết những thiếu hụt tạm thời với các nhu cầu cao.
d) Tín dụng nặng lãi có những đặc điểm cơ bản sau:
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
+ Lãi suất cao, do hai nguyên nhân: Thứ nhất là cầu tín dụng lớn hơn cung tín dụng; thứ
hai là nhu cầu đi vay thường cấp bách không thể trì hoãn được.
+ Mục đích vay là tiêu dùng. Đối với nông dân và thợ thủ công thì mục đích s] dụng vốn
vay là để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như: mua lương thực để ăn,
thuốc men để chữa bệnh, nộp tô, đóng thuế…Đối với các tầng lớp khác thì mục đích đi
vay là để chi tiêu cho những nhu cầu cao cấp như xây dựng lâu dài,tổ chức dạ hội, mua
sắm quý kim…
+ Hình thức vận động của vốn trong quan hệ tín dụng nặng lãi biểu hiện rất đa dạng: Cho
vay bằng tiền thu nợ bằng tiền hay thu nợ bằng hiện vật…
+ Tín dụng nặng lãi trong điều kiện ngày nay còn tồn tại khá phổ biến ở các nước đang
phát triển; do các nguyên nhân:
- Do ảnh hưởng của chế độ phong kiến
- Mức độ thu nhập của người lao động thấp
- Hệ thống tín dụng chưa phát triển.
3. Sự phát triển của quan hệ tín dụng trong nền kinh tế thị trường
Sản xuất hàng hoá là nguyên nhân ra đời của tín dụng. Vì vậy ở bất cứ xã hội nào có sản
xuất hàng hoá thì tất yếu có sự hoạt động của tín dụng.
a) Nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của tín dụng.
Các doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh phải có một số vốn nhất định. Do
đặc điểm vận động của vốn và do tính chất thời vụ trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
mà mỗi doanh nghiệp có lúc thì thiếu vốn có lúc thì thừa vốn. Tuy nhiên, đối với doanh
nghiệp có tính thời vụ thấp việc thừa thiếu vốn tiền tệ với thời gian ngắn hơn và qui mô
nhỏ hơn so với xí nghiệp có tính thời vụ cao. Đứng trên giác độ toàn bộ nền kinh tế quốc
dân, thì tại một thời điểm nhất định sẽ có hiện tượng một nhóm các xí nghiệp có vốn tạm
thời chưa s] dụng trong khi một nhóm những xí nghiệp khác lại có nhu cầu vốn cần bổ
sung tạm thời.
Sở dĩ có hiện tượng như vậy là do chu kỳ sản xuất và tính chất thời vụ ở mỗi doanh
nhu cầu s] dụng. Hết thời hạn của hợp đồng, người thuê có thể gia hạn thuê tiếp hoặc có
thể mua lại theo giá thoả thuận với ngân hàng.
• Tín dụng đầu tư: thực chất đây là những khoản vay trung và dài hạn, ngân hàng tài trợ
cho các doanh nghiệp, các dự án xây dựng cơ bản mới, cải tạo và mở rộng qui mô sản
xuất kinh doanh,…
- Nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng: đây là hình thức cho vay để mua hàng tiêu dùng.
- Nghiệp vụ đầu tư: trong nghiệp vụ này, ngân hàng thực hiện kinh doanh kiếm lãi như
các doanh nghiệp như:
+ Đầu tư chứng khoán
+ Hùn vốn liên doanh.
Theo qui định, NHTM chỉ được phép s] dụng nguồn vốn tự có để thực hiện nghiệp vụ
đầu tư.
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
II- Khủng hoảng kinh tế Mỹ cuối năm 2007 đầu năm 2008
Khủng hoảng tài chính của thế giới 2007-2010 là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự
đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng
khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, có nguồn gốc từ khủng
hoảng tài chính ở Hoa Kỳ . Vì Hoa Kỳ là quốc gia có nền tài chính lớn nhất thế giới (dẫn
chứng là Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới, với tổng sản phẩm nội
địa (GDP) được ước tính cho năm 2008 là trên 14,3 ngàn tỉ đô la (khoảng 23% tổng sản
lượng thế giới dựa trên GDP danh định và gần 21% sức mua tương đương ) nên những gì
xảy ra trong thị trường tài chính Hoa Kỳ đều ảnh hưởng đến thị trường tài chính thế giới.
1)Nguyên nhân xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ có 2 nguyên nhân
chủ yếu là do chứng khoán hóa và bong bóng thị trường nhà ở
a) Chứng khoán hóa :
Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp khác
nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để
phát hành các trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản). Tiền từ người
mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tài chính cho vay thế chấp để
các tổ chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền. Chứng khoán hóa chính là quá
tài chính khổng lồ như Lehman Brothers sụp đổ.
b) Bong bóng thị trường nhà ở
Từ lâu nay đa số người Mỹ vay tiền từ các ngân hàng để mua nhà, với thời hạn
hợp đồng từ 10 năm đến 30 năm . Nhưng trong 10 năm trở lại đây thị trường nhà đất phát
triển mạnh, các ngân hàng và các tổ chức cho vay ào ạt tiếp thị tạo ra những hợp đồng
cho vay không đạt tiêu chuẩn và khuyến khích cả những người không đủ khả năng tài
chính cũng đi vay tiền để mua nhà .
Ngoài ra các tổ chức cho vay còn “sáng chế” ra những hợp đồng bắt đầu với lãi
suất rất thấp trong những năm đầu và sau đó điều chỉnh lại theo lãi suất thị trường. Hậu
quả là một số lớn hợp đồng cho vay không đòi được nợ. Nguy hại hơn nữa là các tổ chức
tài chính phố Wall đã gom góp các hợp đồng cho vay bất động sản này lại làm tài sản bảo
đảm, để phát hành trái phiếu ra thị trường tài chính quốc tế
Trong vài năm trở lại đây thị trường bất động sản liên tiếp hạ nhiệt, người đi vay đã
không có khả năng trả được nợ lại cũng rất khó bán bất động sản để trả nợ, và kể cả bán
được thì giá trị của bất động sản cũng đã giảm thấp tới mức không đủ để thanh toán các
khoản còn vay nợ.
Hậu quả là một số lớn hợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm cho các trái
phiếu MBS là nợ khó đòi, các trái phiếu MBS mất giá trên thị trường thứ cấp, thậm chí
không còn mua bán được trên thị trường, khiến cho các ngân hàng, các nhà đầu tư nắm
giữ những trái phiếu này không những bị lỗ nặng và mất cả khả năng thanh toán.các hợp
đồng cho vay bất động sản này lại làm tài sản bảo đảm, để phát hành trái phiếu ra thị
trường tài chính quốc tế.
Theo ước tính của nhiều chuyên gia trong 22.000 tỷ USD giá trị bất động sản
tại Mỹ thì có tới hơn 12.000 tỷ USD là tiền đi vay, trong đó khoảng 4.000 tỷ USD là nợ
xấu. Các nước khác cũng bắt chước Hoa Kỳ và bán ra loại trái phiếu phái sinh MBS này
trong thị trường tài chính của họ.
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
Vì vậy trên toàn thế giới tổng số nợ bất động sản khó đòi và tổng số MBS bị “nhiễm
độc” chưa thể tính hết được. Bear Stern, Indy Mac, Fannie Mae, Freddie Mac, Lehman
Brothers, Meryll Lynch, Washington Mutual, Vachovia, Morgan Stanley, Goldman
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
đè nặng và thị trường chứng khoán cũng như ngoại hối biến động mạnh", Bộ trưởng Kinh
tế Nhật Kaoru Yosano nói.
Biểu đồ tăng trưởng kinh tế Nhật từ năm 2006 đến
nay. Nguồn: AFP
Kinh tế toàn cầu suy thoái, làm suy giảm nhu cầu về hàng hóa từ Nhật Bản cũng như
nhiều nước xuất khẩu khác. Tốc độ tăng trưởng của Nhật vì thế phải chịu ảnh hưởng ít
nhiều.
Châu Âu vốn có quan hệ kinh tế mật thiết với Hoa Kỳ chịu tác động nghiêm trọng cả
về tài chính lẫn kinh tế. Nhiều tổ chức tài chính ở đây bị phá sản đến mức trở thành
khủng hoảng tài chính ở một số nước như Iceland, Nga. Các nền kinh tế lớn nhất khu vực
là Đức và Ý rơi vào suy thoái, và Anh, Pháp, Tây Ban Nha cùng đều giảm tăng trưởng.
Khu vực đồng Euro chính thức rơi vào cuộc suy thoái kinh tế đầu tiên kể từ ngày thành
lập.
Đoàn người xếp hàng rút tiền g]i khỏi Northern RockỞ Iceland đã
xảy ra một cuộc khủng hoảng ngân hàng trên diện rộng. Ngay quý I năm 2008, GDP của
Iceland giảm 1,5%, mức giảm lớn nhất kể từ năm 1983 tới thời điểm này. Glitnir,
Straumur Investment Bank, Reykjavík Savings Bank phải chịu quốc hữu hóa. Kaupthing,
Landsbanki của nước này phải chịu đặt dưới sự quản lý của cơ quan giám sát tài chính
quốc gia . Đầu năm 2008, xếp hạng tín dụng của Ngân hàng Ireland bị giảm, khiến cho
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
giá cổ phiếu của ngân hàng này sụt ghê gớm, giá cổ phiếu tại thời điểm đầu tháng 3 Năm
2008 giảm tới 99% so với giá đỉnh cao vào năm 2007. Đầu năm 2009, Anglo Irish Bank
bị quốc hữu hóa. Allied Irish Banks cũng phải chịu tình trạng cổ phiếu mất giá ghê gớm
và phải chấp nhận cải cách để nhận được khoản vay tái cơ cấu của Chính phủ.
Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Hoa Kỳ, nên cũng bị
ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực và khi giá dầu giảm
mạnh. Ecuador tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ
b) Mỹ :
- Tập đoàn tài chính và bảo hiểm hàng đầu thế giới AIG - một công ty bảo hiểm lớn
Mặc dù số nợ này không lớn, chỉ khoảng hai tỷ USD, nhưng người ta buộc phải tái cấu
trúc kỳ hạn và lãi suất, và như thế có thể ảnh hưởng tình hình tài chính của một số ngân
hàng và doanh nghiệp.
Khủng hoảng ở Mỹ có thể làm cho người dân dự đoán USD sẽ xuống giá và họ có thể rút
USD khỏi ngân hàng, hoặc bán USD mua tiền Việt g]i vào. Nó có thể làm cấu trúc tài
sản của các ngân hàng rơi vào thế bất lợi.
Trong lĩnh vực thương mại, một khi mà người tiêu dùng Mỹ thắt chặt hầu bao thì nhiều
nền kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi từ xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Với Việt Nam cũng vậy, hiện nay 60% GDP của chúng ta là để phục vụ cho xuất khẩu,
mà Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng các mặt hàng dệt may, da giày, thuỷ sản của
Việt Nam.
Khủng hoảng tài chính của Mỹ có thể làm cho xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ giảm
mạnh vì hai lý do (1) Là hàng xuất khẩu của Việt Nam một phần lớn vẫn là các loại hàng
thô, trong khi giá các nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm, kể cả khi không
có khủng hoảng ở Mỹ, và (2) là sự eo hẹp của thị trường tài chính dẫn đến eo hẹp thị
trường nhập khẩu hàng hóa, nhu cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm đi.
Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có thể chững lại, thậm chí vốn đã cam kết sẽ thực
hiện trễ hơn bởi khoảng 80% vốn đầu tư vào Việt Nam là đi vay. Khi không đi vay được
thì nhà đầu tư sẽ khó giải ngân vào Việt Nam. Vốn cam kết thì lớn, nhưng vốn thực hiện
có thể thấp, tình hình giải ngân những tháng cuối năm sẽ gặp khó khăn.
Thị trường chứng khoán Việt Nam chưa gia nhập vào hệ thống thị trường chứng khoán
thế giới nên ảnh hưởng tương đối nhỏ. Lo ngại là phần lớn nhà đầu tư nước ngoài sẽ rút
vốn về khi nguồn vốn của họ bị co lại. Khi đó, một lượng không nhỏ USD sẽ ra khỏi Việt
Nam.
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
Dù vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam không
nhiều, chỉ khoảng 20% tổng vốn, nhưng nếu họ rút ồ ạt thì sẽ ảnh hưởng ngay đến thị
trường chứng khoán Việt Nam.
Khu vực ngân hàng của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn , lợi nhuận của nhiều ngân hàng
có thể giảm, thậm chí một số có thể lỗ.
Nhiều ngân hàng vì mất khả năng thanh khoản đã co lại, rút lại tín dụng, điều này đã
khiến các doanh nghiệp khó tiếp cận thị trường vốn và bị ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động xuất kinh doanh.
2.Về phía Việt Nam
Ảnh hưởng trực tiếp thì cũng có giới hạn vì Việt Nam chưa tham gia nhiều vào thị
trường tài chính thế giới và không tham gia mua bán chứng khoán phái sinh này
Sự suy giảm của nền kinh tế Mỹ có tác động nhất định tới các nước châu Á, tuy
nhiên mức độ ảnh hưởng đến Việt Nam như vậy là không đáng kể vì Việt Nam chưa có
định chế tài chính nào vào các hợp đồng cho vay như Mỹ. Khu vực ngân hàng sẽ gặp
khó khăn nhưng không phải là quá lớn. Những ngân hàng nhỏ với vốn điều lệ dưới mức
tối thiểu quy định 1000 tỷ đồng sẽ phải sáp nhập với ngân hàng lớn, nhưng sự đổ bể của
hệ thống tài chính Việt Nam khó có khả năng xảy ra .
IV - Thực trạng và nguyên nhân chất lượng tín dụng của các NHTM tại Việt Nam
Nền kinh tế nước ta trong những năm qua đã và đang chuyển dần từ cơ chế kế hoạch
hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của nhà nước, việc chuyển
đổi cơ chế mang tính tất yếu cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia như Việt Nam.
Trong quá trình đổi mới đó, hoạt động Ngân hàng là một trong những mắt xích quan
trọng cấu thành sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế và được coi là mũi nhọn đột
khởi. Kết quả đổi mới hoạt động Ngân hàng trong những năm qua đã đóng góp tích cực
vào thành tựu chung của Đất Nước, nét nổi bật nhất là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy
lùi và kìm chế lạm phát ở mức hợp lý, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên hoạt động Ngân hàng ở nước ta, bên cạnh sự phát triển hiện đang gặp
nhiều khó khăn và tồn tại nhất là trong lĩnh vực tín dụng. Hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng luôn luôn chứa đựng tiềm ẩn rủi ro, đó chính là rào cản mà Ngân hàng phải
đối mặt. Thực hiện tín dụng an toàn và có hiệu quả đó chính là mục tiêu mà các Ngân
hàng thương mại vươn tới. Làm thế nào để củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động tín
dụng đảm bảo kinh doanh có hiệu quả đồng thời ngăn ngừa được rui ro tín dụng là nhiệm
vụ bức thiết của toàn hệ thống Ngân hàng Việt Nam.
Thực trạng chất lượng tín dụng của các NHTM tại Việt Nam luôn là vấn đề được nhà
giảm lãi suất xuống thấp hơn mức lãi suất cơ bản đến hơn 2% nhưng tình hình cho vay
của các NH vẫn chưa thể khả quan.
a) Vướng về cơ chế, các cơ chế chính sách chưa thực sự hiệu quả, còn nhiều vướng
mắc gây tâm lí lo ngại, bối rối đối với các NH.
Một số vần đề liên quan đến hoạt động tín dụng, trong đó có lãi suất, đã được Quốc
hội, Chính phủ chỉ đạo nhưng lại chưa có những văn bản quy phạm pháp luật cần thiết để
thi hành, hoặc có thì lại bất lợi cho các tổ chức tín dụng và cả NHTM, hoặc không có
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
nhiều ý nghĩa đối với tình hình hoạt động hiện tại của các NH. Nghị quyết số
23/2008/QH12 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2009 có nêu:”
Các tổ chức tín dụng điều hành lãi suất cho vay trên cơ s] lãi suất cơ bản của NHNN theo
qui định của pháp luật và được phép cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với một số dự án
kinh doanh có hiệu quả cao…” nhưng thế nào là dự án có hiệu quả cao thì lại không có
tiêu chí xác định, mặt khác lãi suất thỏa thuận mà NH mong muốn là không bị ràng buộc
bởi trần 150%, còn đã là dự án có hiệu quả cao thì NH nào cũng sẵn sàng cho vay với lãi
suất thấp hơn trần khá nhiều…
Chính phủ chỉ đạo NHTM dãn nợ, gia hạn nợ để giúp các doanh nghiệp có vốn phục
vụ sản xuất kinh doanh, nhằm ổn định nền kinh tế. Điều này cũng phù hợp với ý kiến của
các doanh nghiệp và một số NHTM, nhưng theo QD 493/2005/QD-NHNN của NHNN về
phân loại nợ, trích lập và s] dụng dự phòng để x] lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của
NHTM thì các
khoản vay khi đến hạn mà doanh nghiệp không trả được nợ thì phải chuyển nợ quá
hạn, trích dự phòng rủi ro, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, xếp loại, đánh giá tổ chức
tín dụng
Nếu không có những hướng dẫn để tháo gỡ khó khăn thì tổ chức tín dụng khó có thể
chủ động dãn nợ, gia hạn nợ cho DN được Ngay cả về vấn đề cơ chế điều hành LS hiện
cũng còn nhiều ý kiến. Trong khi đại diện một số NHTM nhà nước thì cho rằng LSCB
nên hạ (về 7%/năm) để giảm tiếp trần LS cho vay, đỡ khó khăn cho khách hàng và kích
thích nhu cầu vay vốn thì một số NHTMCP lại cho rằng LS huy động bình quân của các
NH đang cao nếu giảm LSCB thì NHTM sẽ lỗ
nhiều rủi ro từ khả năng trả nợ của người vay (doanh nghiệp) thì ngoài tài sản thế chấp,
bây giờ các NH thẩm định kỹ hơn hơn quan hệ vay / mượn của doanh nghiệp, lịch s]
thanh toán các khoản nợ, yếu tố thu nhập tương lai
Trước đây, trong điều kiện kinh tế bình thường, doanh nghiệp vay, trả nợ đúng kỳ hạn
thì những điều kiện này không bị xem xét chặt chẽ lắm.
Vì vậy, một lãnh đạo NHTM nói: " Trong quan hệ tín dụng giữa NH và doanh nghiệp
hiện có hai thách thức khó vượt qua được: Một là NH có dám chấp nhận rủi ro không?
Hai là doanh nghiệp có khả năng trả được nợ không?"
Theo ý kiến chung của nhiều doanh nghiệp và NH thì vấn đề mấu chốt hiện nay là
Chính phủ nên có các giải pháp cụ thể, quyết liệt kích cầu đầu tư và tiêu dùng, khơi thông
đầu ra cho sản xuất-kinh doanh.
Chỉ khi có thị trường tiêu thụ thì doanh nghiệp mới tăng nhu cầu vay vốn, đẩy mạnh
sản xuất – kinh doanh , mới có lợi nhuận để trả nợ và mở rộng sản xuất. Nếu chỉ nhấn
mạnh đến chính sách tín dụng, đặc biệt là LS thì đây không phải là "nút thắt" hiện nay
trong tháo gỡ khó khăn để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và XK.
3. Tình hình thu nợ của các NHTM
a)Thời kỳ trước khủng hoảng
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
Kết quả thực hiện phân loại nợ của các ngân hàng thương mại cho thấy tình hình nợ
xấu của hầu hết các ngân hàng thương mại đến thời điểm 31/12/2005 khá thấp. Tỷ lệ nợ
xấu trên tổng dư nợ của khối ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu dưới 2% trong khi
tỷ lệ này đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh bình quân là 5,4%, song hoạt
động tín dụng của các ngân hàng thương mại giai đoạn nàycòn tiềm ẩn nhiều rủi ro và
tình hình chất lượng tài sản có của các ngân hàng có thể xấu hơn số đã báo cáo.
Mặc dù các mức này tương đương với tỷ lệ nợ xấu của những ngân hàng có uy tín cao
trong khu vực và quốc tế nhưng kết quả phân loại nợ và trích lập dự phòng của các ngân
hàng thương mại nói trên mới chỉ xác định theo tiêu chí định lượng thời gian quá hạn của
khoản vay mà chưa xác định theo các tiêu chí định tính căn cứ trên Hệ thống xếp hạng tín
dụng nội bộ và chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mô hình giám sát, phương pháp xác
định và đo lường rủi ro tín dụng (thực hiện theo quy định tại Điều 7 Quyết định 493).
19,5%. Trong tổng dư nợ toàn ngành hiện nay, dư nợ tín dụng khu vực phi sản xuất hiện
nay là 385.000 tỷ đồng, tăng 18,2% - thấp hơn mức dư nợ chung của toàn hệ thống.
Để có thể thu hồi các khoản nợ xấu,cần phải xác định rõ các tiêu chí phân loại nợ, qua
đó xác định đúng thực tế số liệu nợ xấu với các nguyên nhân phát sinh; đề ra các giải
pháp, cơ chế mua bán x] lý nợ hợp lý nhưng trong quá trình thực hiện, các đơn vị hữu
quan cũng gặp phải không ít khó khăn, vướng mắc cần được khẩn trương nghiên cứu
tháo gỡ.
Ngoài việc thu thập thông tin về nợ tồn đọng, còn phải thiết lập được một môi trường
pháp lý thuận lợi, tạo dựng một thị trường nợ và tháo gỡ các khó khăn, nâng cao năng lực
của DATC trong việc x] lý nợ có hiệu quả. Ngoài các biện pháp truyền thống, cần phải
có các biện pháp x] lý, tái cơ cấu các khoản nợ, tái cơ cấu các công ty để họ có thể hoạt
động hiệu quả hơn, từ đó ngân hàng có điều kiện thu hồi nợ xấu
4.Xử lí nợ quá hạn
Nợ quá hạn hiện nay ở các ngân hàng thương mại đang là một vấn đề đáng quan tâm.
Làm thế nào để giải quyết dứt điểm nợ quá hạn, nhằm góp phần lành mạnh hóa tình hình
tài chính của các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng và tạo điều kiện cho các ngân hàng
thương mại thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh của mình
Để thực hiện được yêu cầu đó chúng tôi xin đề cập đến một số vấn đề liên quan đến
lĩnh vực x] lý nợ quá hạn gắn liền với việc ra đời công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng
của doanh nghiệp hiện nay.
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
a).Nguyên nhân phát sinh
Trên thực tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài nguồn vốn tự có của
mình, các doanh nghiệp phải s] dụng một nguồn vốn bên ngoài, đó là vốn vay của các
ngân hàng thương mại. Đây là nhu cầu vay vốn rất cần thiết nhằm đảm bảo cho các
doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ hoạt động sản xuất kinh doanh một cách bình thường.
Tùy đặc điểm và tính chất hoạt động của từng loại hình doanh nghiệp, việc s] dụng vốn
vay ngân hàng thương mại cũng có sự khác nhau. Thông thường các doanh nghiệp thuộc
lĩnh vực thương mại – dịch vụ s] dụng vốn vay ngân hàng nhiều hơn các doanh nghiệp
thuộc khu vực sản xuất.
tài sản để thu nợ, do vậy, nợ quá hạn này tuy chưa thu được nhưng ngân hàng thương mại
vẫn có khả năng thu hồi.
- Nợ quá hạn không có tài sản đảm bảo: Là khoản nợ khi cho vay, ngân hàng không
yêu cầu người vay phải thế chấp tài sản. Loại nợ này, con nợ là doanh nghiệp vay vốn
vẫn tồn tại, vẫn hoạt động kinh doanh nếu tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt thì
cũng có khả năng thu hồi nợ.
- Nợ quá hạn là nợ khó đòi (hay còn gọi là nợ xấu): Loại nợ này xảy ra và tồn đọng ở
những doanh nghiệp vay vốn có tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài
chính yếu kém, biểu hiện là sản xuất kinh doanh bị lỗ, nợ phải trả tăng, doanh nghiệp mất
khả năng thanh toán hoàn toàn. Thời hạn nợ tồn đọng khá lâu, có thể kéo dài trên một
năm, 2 – 3 năm hoặc lâu hơn nữa và rất khó giải quyết.
Chúng ta có thể xem tình hình doanh nghiệp nợ và phần trăm nợ quá hạn của hệ
thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian gần đây 1999 – 2003.
Năm
Chỉ tiêu
2000 2001 2002 2003
Tổng dư nợ (tỉ VND)toàn bộ
nền kinh tế
184.936 225.704 286.614 365.300
Tỉ lệ nợ quá hạn/Tổng DN 10,75% 8,7% 8,15% 8,02%
Từ số liệu của bảng trên ta có nhận xét tổng quát sau:
- Tổng dư nợ năm sau cao hơn năm trước, biểu hiện sự tăng trưởng về tín dụng của
nền kinh tế.
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
- Tỉ lệ phần trăm nợ quá hạn ổn định và có xu hướng giảm là biểu hiện tốt, tuy phần
trăm nợ quá hạn có xu hướng giảm, song tính số tuyệt đối thì đây là khoản nợ quá hạn rất
lớn của nền kinh tế. Nếu số nợ này trở thành nợ khó đòi, nợ xấu thì sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp vay vốn trong nền kinh tế. Thực tế hiện nay một số ngân hàng thương mại
nhìn cục bộ, có phần trăm nợ quá hạn cao, được biết là số nợ tồn đọng kéo dài chưa hoặc
tìm mọi biện pháp để x] lý và thu hồi nợ quá hạn. Hiện nay các ngân hàng thương mại đã
thành lập công ty quản lý và khai thác tài sản mang tính cục bộ. Trên tầm vĩ mô, Nhà
nước cần phải có công ty mua-bán nợ để giải quyết tình hình nợ quá hạn hiện nay.
b) Công ty mua bán nợ
Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX đã xác
định : “Chính phủ quy định biện pháp giải quyết dứt điểm các khoản nợ không có khả
năng thanh toán của doanh nghiệp đối với ngân sách nhà nước và ngân hàng đồng thời có
giải pháp để ngăn ngừa sự tái phát. Thành lập công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của
doanh nghiệp nhà nước để x] lý nợ và tài sản không cần dùng, tạo điều kiện để lành
mạnh hóa tình hình tài chính doanh nghiệp”.
Như vậy, công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp đã được thành lập
theo Quyết định số: 109/2003/QĐ/TTG ngày 5.6.2003 của Thủ tướng Chính phủ, giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh số : 0106000093 ngày 12.12.2003 do Sở kế hoạch và
đầu tư TP. Hà Nội cấp, có trụ sở tại : Số 4 Ngõ 1, Phố Hàng Chuối, Q.Hai Bà Trưng, TP.
Hà Nội.
Việc ra đời công ty này nhằm tạo ra công cụ mới thích hợp với nền kinh tế thị trường
để giúp các doanh nghiệp x] lý nợ và tài sản tồn đọng, để nhằm lành mạnh hóa tài chính
doanh nghiệp, đặc biệt là góp phần giải quyết những tồn tại về tài chính nhằm thúc đẩy
nhanh hơn quá trình sắp xếp, cổ phần hóa, giao, khoán, bán và cho thuê doanh nghiệp:
X] lý các khoản nợ và tài sản tồn đọng trước và sau khi chuyển đổi doanh nghiệp, các
khoản nợ và tài sản được loại trừ khi xác định giá trị doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy
tiến trình hình thành, phát triển của thị trường chứng khoán, thị trường tài sản, cũng như
sự phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường trong nền kinh tế đi đôi với việc tạo lập khung
pháp luật bảo đảm sự quản lý và giám sát của Nhà nước. Vốn điều lệ của công ty là 2.000
tỉ VND do ngân sách nhà nước cấp, công ty được quyền huy động các nguồn vốn khác
như : Vốn bổ sung từ lợi nhuận, vay tín dụng ngân hàng, phát hành trái phiếu, huy động
Nhóm 8 – CDTN Tín Dụng
từ các nguồn vốn hợp pháp khác theo nhu cầu hoạt động kinh doanh, công ty được lập
các chi nhánh, văn phòng đại diện tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước.
Nhiệm vụ chính của công ty là mua các khoản nợ và tài sản tồn đọng của các doanh
Hệ thống NHTM ở Việt Nam đang trong quá trình hình thành và phát triển gặp
không ít khó khăn về nhiều mặt, qua đánh giá chất lượng tín dụng của các NHTM của các
tổ chức tín dụng uy tín trên thế giới ta cũng có thể thấy rõ thực trạng và tình hình phát
triển chất lượng tín dụng ở Việt Nam, cụ thể trong báo cáo vừa công bố về các ngân hàng
Việt Nam n]a đầu 2010, Fitch Ratings, tập đoàn tài chính của Mỹ bao gồm các giải pháp,
tư vấn cung cấp dịch vụ cho ngành công nghiệp tài chính, tỏ ra quan ngại về tính bền
vững của khu vực ngân hàng nội địa, đặc biệt chất lượng tài sản còn thấp, hạn chế về vốn
và tính thanh khoản yếu.
Sáu ngân hàng được Fitch đánh giá là Agribank, BIDV, Vietcombank, Vietinbank,
ACB và Sacombank.
Lợi nhuận
Theo chuẩn quốc tế, lợi nhuận ngân hàng trong n]a đầu 2010 chỉ đạt mức vừa đủ,
trong đó các ngân hàng quốc doanh có kết quả kém nhất. Fitch cho biết, ROAA từ hoạt
động kinh doanh chỉ đạt 2,02%/năm, thấp hơn mức 2,06% năm 2009 và mức 3,02% như
dự báo. Điều này chủ yếu là do các ngân hàng trả lãi suất cao nhằm thu hút vốn. ROAA
trung bình của sáu ngân hàng được khảo sát đạt 1,26% n]a đầu 2010 và theo đánh giá
con số này sẽ khó được giữ vững.
Thời gian tới, Fitch cho rằng lợi nhuận sẽ bị ảnh hưởng bởi lãi suất huy động giảm
còn chậm, và chi phí dự phòng có thể tăng cao.
Tăng trưởng cho vay, tính đến hết 2010, tăng trưởng tín dụng tụt xuống khoảng
10.5%, chỉ đạt 42% chỉ tiêu hàng năm (25%) mà chính phủ đặt ra (năm 2009 là 37.7%).
Tuy nhiên, theo Fitch nếu so với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam (với tỉ lệ tăng GDP
hàng năm 6.1%, mục tiêu cho năm 2010 là 6.5%) thì tăng trưởng tín dụng hiện tại là
đang quá nóng.
Fitch lưu ý rằng sự tăng trưởng tín dụng đồng USD trong hai quý đầu năm đã làm
giảm khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng cũng như đe dọa chất lượng các
khoản vay. Tỉ lệ tăng trưởng cho vay ngoại tệ đạt 27% (cuối 2009 là 16%), chủ yếu là
vay USD. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng cùng kỳ đối với đồng VNĐ chỉ đạt mức 5%.
Fitch cho rằng, trong trung hạn, hoạt động cho vay sẽ suy yếu, do yêu cầu mới về
vốn, ảnh hưởng từ lạm phát và niềm tin vào VND.