Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh - Pdf 15

Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh
LỜI NÓI ĐẦU

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng
tạo và phát triển chủ nghĩa Macr-Lenin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam,
đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh
đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng Cộng Sản Việt Nam và
của dân tộc Việt Nam. TT HCM trung thành với những nguyên lý phổ biến
của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời khi nghiên cứu, vận dụng những
nguyên lý đó, Hồ Chí Minh đã mạnh dạn loại bỏ những gì không thích hợp
với điều kiện cụ thể của nước ta, dám đề xuất những vấn đề mới do thực tiễn
đặt ra và giải quyết một cách linh hoạt, khoa học, hiệu quả. TT HCM soi
đường cho Đảng ta và nhân dân ta trên con đường thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Lịch sử đã chỉ rõ những cuộc chiến tranh yêu nước thắng lợi đều là
những cuộc chiến tranh nhân dân, phát huy được sức mạnh tinh thần và vật
chất tiềm tàng của toàn dân. Kháng chiến chống Tống, chống Mông - Nguyên
thời Lý - Trần là những minh chứng hùng hồn. Từ những hoàn cảnh, đặc
điểm và thực tế của lịch sử dân tộc, một số nhân vật tiến bộ trong giai cấp
phong kiến như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo... đã nhận thức khá sâu sắc
vai trò quyết định của nhân dân trong chiến tranh chống ngoại xâm cũng như
trong các biến cố lớn của lịch sử. Trần Hưng Đạo cho rằng "vua tôi đồng
lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức" là nguyên nhân thắng lợi của
kháng chiến thời Trần. Theo ông, "chúng chí thành thành", chí dân là bức
thành giữ nước. Chính vì nhận thức về vai trò đoàn kết toàn dân là rất quan
trọng, Trần Quốc Tuấn đã đề ra "thượng sách giữ nước" là "khoan thư sức dân
làm kế rễ bén gốc". Đó là điều kiện tiên quyết để chiến thắng kẻ thù. Ông đã
1

2
Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh

II. Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh
1. Vì sao phải thân dân
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nước lấy dân làm gốc; Gốc có
vững, cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân. Người rất tâm đắc
với câu nói dân gian: “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân
liệu cũng xong”. Dân là gốc của nước. Dân là người đã không tiếc máu xương
để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nước không có dân thì không thành nước.
Nước do dân xây dựng nên, do dân đem xương máu ra bảo vệ, do vậy dân là
chủ của nước. Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất.
Lực lượng của Đảng có lớn mạnh được hay không là do dân. Nhân dân là
người xây dựng, đồng thời cũng là người bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của
Đảng. Dân như nước, cán bộ như cá. Cá không thể sinh tồn và phát triển được
nếu như không có nước. Nhân dân là lực lượng biến chủ trương, đường lối
của Đảng thành hiện thực. Do vậy, nếu không có dân, sự tồn tại của Đảng
cũng chẳng có ý nghĩa gì. Đối với Chính phủ và các tổ chức quần chúng cũng
vậy.

2. Thân dân thì phải làm thế nào?
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu hiện trước hết của dân là gốc là phải
tin ở dân, gần gũi dân, và biết dựa vào dân; Phải có ý thức rõ “dân chúng rất
khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng”. Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn
biến đường lối chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng, thành sức
mạnh cách mạng thì Đảng phải có đường lối đúng đắn; cán bộ đảng viên
“phải liên lạc mật thiết với dân chúng, xa rời dân chúng là cô độc. Cô độc thì
nhất định thất bại”. Cán bộ đảng viên còn phải học hỏi dân, “nếu không học
hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”, mà “muốn hiểu biết, học hỏi dân thì ắt
phải có nhiệt thành, có quyết tâm”.

“Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng
hái, hạng vừa vừa và hạng kém… Người lãnh đạo phải dùng hạng hăng hái
4
Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh
làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do hạng hăng hái đó mà nâng cao hạng vừa
vừa và kéo hạng kém lên. Phải học hỏi dân chúng, nhưng “không phải dân
chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”; phải “tìm ra mâu thuẫn trong những
ý kiến khác nhau, xem cái nào đúng, cái nào sai” để vận dụng
Một sự kiện được nhiều người nhắc tới là tháng 10/1949 khi cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh
viết bài báo Dân vận. Người diễn đạt rất khái quát: “Bao nhiêu lợi ích đều vì
dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ
Trung ương do dân cử ra. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của
dân. Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân. Đoàn thể từ
Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng
đều ở nơi dân. Quan điểm của Người thật rõ ràng: Nhà nước ta là Nhà nước
của dân, do dân, vì dân.Tháng 10-1945, trong thư gửi Ủy ban nhân dân các
kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “...Nếu nước độc lập
mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý
gì... Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến
các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ
không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp,
Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết
sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”1.
Người yêu cầu cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều phải là đày tớ trung
thành của nhân dân. Theo Người: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, Bộ trưởng, Thứ
trưởng, Ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân,
chứ không phải là làm quan cách mạng”
Điều mà cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh nung nấu trăn trở là vấn đề
thực hiện dân chủ với dân; làm thế nào để nhân dân “biết dùng quyền dân

hành chắc chắn có hiệu lực cao. Đó là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
to lớn.
Là người phục vụ nhân dân, cán bộ Đảng, Nhà nước, đoàn thể đồng thời
là người lãnh đạo, người hướng dẫn của nhân dân. Theo Người: Nếu không
có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng, nếu không có Chính phủ, thì
nhân dân không ai dẫn đường. Cán bộ, đảng viên phải làm thế nào để xứng
6
Tư tưởng thân dân của Hồ Chí Minh
đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân
dân. Điều này cho thấy, Hồ Chí Minh không bao giờ đối lập vai trò người
lãnh đạo với người đày tớ của nhân dân trong bản thân người cán bộ của
Đảng và Nhà nước, mà trái lại Người yêu cầu phải làm thế nào để xứng đáng
vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Là
lãnh đạo không có nghĩa là đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Bởi vì: “Chế độ ta là chế
độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất
cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp
nào và ngành nào đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”

Từ thực tế, Bác đã thẳng thắn phê phán nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp
cao, khi xuống cấp dưới triển khai công việc thì khệnh khạng như “ông quan”
và nội dung truyền đạt thì rất đại khái, hình thức, vì vậy mà quần chúng
không hiểu và rất sợ đi họp. Đó là bệnh xa quần chúng, bệnh hình thức, không
phải vì lợi ích của quần chúng.
Việc đặt ra chương trình làm việc, kế hoạch hành động, tuyên truyền,
nhiều cán bộ cũng không hỏi xem quần chúng cần cái gì, muốn nghe, muốn
biết cái gì, “chỉ mấy ông cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy
mà viết, cứ tưởng những cái mình làm ra là đúng, mình viết là hay. Nào có
biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là “đem râu ông nọ chắp cằm bà kia”,
không ăn thua, không thấm thía, không lợi ích gì cả”.
báo Việt Nam độc lập, số 3 ra ngày 21-8-1941, ngay trên trang nhất, báo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status