1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
NHẠC VIỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN THANH HẢI
THỊ HIẾU THẨM MỸ ÂM NHẠC CỦA
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Qua trường hợp của hai trường THPT
Tenlơman và Lê Minh xuân)
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ÂM NHẠC
Mã số : 60 14 02 02
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGÀNH KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Trần Thế Bảo
1
2
TP.HỒ CHÍ MINH – Năm 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu suốt hai năm qua, em đã nhận được sự quan
tâm, giúp đỡ của rất nhiều quý thầy cô, bạn bè, các cơ quan, trường học tại Tp.HCM,
để em hoàn thành luận văn một cách tốt nhất.
Đầu tiên, em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Phó giáo sư –
tiến sĩ Trần Thế Bảo, người thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong
suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này!
Em xin cảm ơn ban giám hiệu, phòng Sau đại học, các thầy cô giáo trường Nhạc
viện Tp.HCM đã đã đem lại cho em những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong
những năm học vừa qua. Đồng thời quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn
thành khóa học!
Xin trân trọng cảm ơn ban giám hiệu, các cô chú, các thầy cô giáo và các em học
sinh tại hai trường THPT Lê Minh Xuân (Huyện Bình Chánh) và THPT Ernst
1.2.2. Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc 28
1.3. Vai trò của Âm nhạc trong đời sống con người 32
1.3.1. Chức năng của âm nhạc 32
1.3.2. Tác động của âm nhạc đối với các quá trình tâm sinh lý của con người 36
1.3.2.1. Âm nhạc tác động lên mặt tâm lý của con người 36
1.3.2.2. Âm nhạc tác động lên mặt sinh lý của con người 39
TIỂU KẾT 44
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ ÂM NHẠC VÀ THỊ HIẾU THẨM MỸ ÂM
NHẠC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 45
2.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế và văn hóa – xã hội của Tp.HCM những
năm gần đây 45
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và quy hoạch của Tp.HCM 45
2.1.2. Điều kiện về phát triển nền kinh tế của TP 46
2.1.3. Điều kiện về văn hóa – xã hội của TP 48
2.2. Khái quát về tình hình âm nhạc dành cho lứa tuổi HS THPT tại Tp.HCM giai đoạn
2000 đến nay 50
2.2.1. Đời sống âm nhạc trong giới trẻ hiện nay 50
2.2.2. Một số hoạt động âm nhạc dành cho lứa tuổi THPT tại Tp. HCM 55
2.2.3. Khái quát về tình hình sáng tác âm nhạc dành cho lứa tuổi học sinh THPT 58
2.3. Khảo sát thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của học sinh THPT tại Tp. HCM giai đoạn
hiện nay 62
2.3.1. Thể loại âm nhạc mà HS THPT của TP thích nghe và thường nghe nhất 62
2.3.2. Sở thích âm nhạc của HS THPT theo từng khu vực, độ tuổi và giới tính 67
2.3.2.1. Sở thích âm nhạc phân theo khu vực 67
2.3.2.2. Sở thích âm nhạc phân theo giới tính 69
2.3.2.3. Sở thích âm nhạc phân theo độ tuổi 70
2.3.3. Một số nhận định của HS THPT tại Tp.HCM về âm nhạc dành cho lứa tuổi 75
2.4. Đánh giá chung thực trạng về thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại
Tp.HCM trong những năm qua, nguyên nhân và một số vấn đề cần giải quyết 77
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TP Thành phố
Tp.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
THPT Trung học phổ thông
THCS Trung học cơ sở
CĐ Cao đẳng
ĐH Đại học
FC Fan club (câu lạc bộ người hâm mộ)
Kpop Korean pop (Nhạc đại chúng Hàn Quốc)
US – UK United States – United Kingdom (Nhạc Anh – Mỹ)
NS Nhạc sỹ
TS Tiến sỹ
ThS Thạc sỹ
GS Giáo sư
PGS Phó giáo sư
HTV Hồ Chí Minh Television (đài truyền hình Tp.HCM)
VTV Việt Nam Television (đài truyền hình Việt Nam)
ĐHSP Đại học sư phạm
TW Trung Ương
Nxb Nhà xuất bản
VH-TT&DL Văn hóa – Thể thao và Du lịch
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
NVH Nhà văn hóa
TTVH Trung tâm văn hóa
DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Hình 1: Chủ đề I, chương I, bản giao hưởng số 5 của Beethovent 18
Hình 2: Mối quan hệ của ba khâu trong hoạt động thẩm mỹ âm nhạc 23
Hình 3: Mô hình cấu trúc của chủ thể thẩm mỹ 24
Hình 4: Sơ đồ cơ chế hình thành thị hiếu thẩm mỹ cá nhân 29
Bảng 2.1: Tổng số liệu thống kê từ cuộc khảo sát về mức độ thưởng thức âm nhạc của
nghệ thuật âm nhạc có thể được coi là một trong những lĩnh vực cực kì năng động của
nền văn hóa. Nó được xem là lĩnh vực tiên phong trong việc giao lưu, giới thiệu và
phát triển văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia ra với thế giới.
Tuy nhiên có thể nói rằng, sự giao lưu văn hóa toàn cầu trong thời đại ngày nay
đang đặt ra cho mỗi quốc gia rất nhiều thách thức. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, việc
văn hóa mỗi quốc gia bị ảnh hưởng, xâm nhập là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, làm
thế nào để không bị lai căng và đồng hóa lại là điều tùy thuộc vào khả năng, năng lực,
cũng như những chính sách, đường lối quản lý và phát triển riêng của mỗi quốc gia,
mỗi dân tộc.
Trong bối cảnh chung đó, Việt Nam không tránh khỏi những tác động mạnh của
nền công nghiệp kỹ thuật số và thông tin toàn cầu (internet). Sự tiếp cận và giao lưu
văn hoá quốc tế rộng rãi tạo điều kiện cho giới trẻ Việt Nam trong việc thưởng thức cái
hay, cái đẹp của các nền văn hoá trên thế giới. Tuy nhiên, tác động của khuynh hướng
thương mại hoá trong hoạt động văn hoá, văn nghệ, cùng với sự phát tán nhanh chóng
của truyền thông, kĩ thuật số và internet, làm xuất hiện nhiều biểu hiện tiêu cực cả
trong lĩnh vực thẩm mỹ nghệ thuật nói chung và thẩm mỹ âm nhạc nói riêng, cũng như
lối sống trong một bộ phận lớn giới trẻ hiện nay, nhất là ở các thành phố lớn.
9
Có thể nói, chưa bao giờ không gian nước ta lại vang lên đa dạng âm thanh của biết
bao dòng nhạc trên thế giới, từ kinh điển, bác học đến đại chúng, giải trí và cũng chưa
bao giờ Việt Nam lại có một nền âm nhạc lộn xộn và bế tắc như trong hơn một thập kỷ
qua. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực đời sống
xã hội, âm nhạc đã đóng góp vai trò không nhỏ trong việc nâng cao đời sống tinh thần
của nhân dân, làm cho cuộc sống không ngừng được cải thiện. Bên cạnh tính tích cực
vốn có của dòng âm nhạc chính thống, thì trong đời sống hiện nay, một số hoạt động
âm nhạc mang tính giải trí, thị trường còn bộc lộ tính yếu kém, xa rời bản sắc, thuần
phong mỹ tục, làm cho cái đẹp trong âm nhạc, méo mó, biến dạng. Điều này gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của giới trẻ Việt Nam – Những
người luôn đi đầu trong việc tiếp cận với công nghệ thông tin, kĩ thuật số. Họ rất năng
động trong việc tìm tòi cái mới lạ để khẳng định bản thân nhưng thiếu kinh nghiệm và
làm thế nào để tìm cho ra căn nguyên, để từ đó có những giải pháp kịp thời, nhằm định
hướng thẩm mỹ âm nhạc cho giới trẻ, đặc biệt là ở lứa “tuổi hồng” – lứa tuổi HS
THPT tại Tp.HCM. Theo chúng tôi, vấn đề nghiên cứu này đang trở nên hết sức quan
trọng và cấp thiết trong thời đại mới. Bởi vì theo chúng tôi, đây là lứa tuổi đặc biệt
nhạy cảm về tâm sinh lý, là lứa tuổi kế tiếp làm chủ xã hội, rất cần sự định hướng của
xã hội.
Chính vì những lẽ đó, Tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Thị hiếu thẩm mỹ âm
nhạc của HS THPT tại Tp.HCM (Qua trường hợp của hai trường THPT
Tenlơman và Lê Minh xuân)” làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Lịch sử của đề tài
“Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc” là một đề tài năng động và hấp dẫn ở mọi quốc gia,
mọi thời đại. Vấn đề này luôn thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu,
phê bình âm nhạc và của toàn xã hội. Nhất là trong những năm gần đây, đề tài này đã
trở thành “đề tài nóng” trên các mặt báo, cũng như trong các cuộc hội thảo khoa học lý
luận phê bình âm nhạc, Hội Âm nhạc Việt Nam… Đã có một số công trình nghiên cứu
in thành sách đề cập đến vấn đề này như:
- “Thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ Tp.HCM” của nhiều tác giả do TS. Nguyễn Thị
Hậu làm chủ biên, Viện nghiên cứu phát triển Tp.HCM, Nxb Văn hóa – Văn nghệ,
hoàn thành quý II năm 2013.
- “Tìm hiểu thị hiếu âm nhạc trong các đối tượng đang được cải giáo” của tác giả
Nguyễn Quang Khải, luận văn đại học lý luận, năm 1989.
- “Vai trò của thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu nghệ thuật trong giáo dục con hiện nay”
của tác giả Nguyễn Quốc Hưng, luận văn cao học, năm 2002.
11
- “Ca khúc trong đời sống âm nhạc ở Tp.HCM từ 1975 đến nay” của tác giả
Nguyễn Thị Thư Nhường, luận văn cao học lý thuyết âm nhạc và lịch sử âm nhạc, năm
2008.
Một số bài tham luận tại các cuộc hội thảo khoa học diễn ra trong những năm gần
đây bàn về vấn đề thị hiếu âm nhạc như:
- “Thị hiếu của khán giả truyền hình Tp.HCM qua một số chương trình ca nhạc
Thứ nhất, khái quát được thực trạng của nền âm nhạc Việt Nam và thị hiếu thẩm
mỹ âm nhạc ở lứa tuổi HS ở các trường THPT tại Tp.HCM trong những năm vừa qua.
(Tập trung nghiên cứu giai đoạn 2000 đến nay)
Thứ hai, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự xuống cấp về thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc
của HS ở các trường THPT tại Tp.HCM trong những năm qua. Từ đó rút ra bài học
cho việc phát triển nền âm nhạc của TP trong những năm tiếp theo.
Thứ ba, từ những nguyên nhân, những vấn đề tồn tại, những vấn đề đặt ra, tác giả
xin đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao và định hướng cho thị hiếu
thẩm mỹ âm nhạc cho HS ở các trường THPT tại Tp.HCM
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
Thứ nhất, những vấn đề lý luận cơ bản về tâm sinh lý, về thị hiếu thẩm mỹ âm
nhạc của HS THPT, cũng như những vai trò, chức năng, tác động của âm nhạc tới tâm
sinh lý của con người và những vấn đề về giáo dục thẩm mỹ âm nhạc làm cơ sở cho
nghiên cứu.
Thứ hai, tình hình phát triển của nền âm nhạc Việt Nam và thị hiếu thẩm mỹ âm
nhạc của HS ở các trường THPT tại Tp.HCM giai đoạn 2000 đến nay. Những nhân tố
khách quan, chủ quan có ảnh hưởng tới nền âm nhạc và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của
HS THPT tại Tp. HCM trong thời đại công nghiệp kĩ thuật số, internet và hội nhập.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản, thực tiễn chủ yếu của nền âm
nhạc Việt Nam và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS ở các trường THPT tại Tp. HCM
giai đoạn 2000 đến nay (không nghiên cứu lứa tuổi này hiện đang học ở Nhạc viện).
Trong đó, tác giả tập trung đi sâu phân tích những sản phẩm âm nhạc dành cho lứa tuổi
HS THPT trong những năm qua, tiến hành khảo sát, tìm hiểu thực tế các khuynh
hướng thẩm mỹ âm nhạc của một vài nhóm HS THPT tại hai trường THPT nội thành
và ngoại thành ở Tp.HCM giai đoạn hiện nay làm cơ sở cho nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng kết hợp nhiều
động rất mạnh, được xác định là giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên trong xã hội.
Tuổi thanh niên là một hiện tượng tâm lý xã hội. Xuất phát từ những trường phái khác
nhau nên có những quan niệm khác nhau về tuổi thanh niên và có những tiêu chí khác
nhau để xác định tuổi thanh niên.
Trường phái sinh vật học coi tiêu chí quan trọng nhất để xác định tuổi thanh niên là
sự phát triển của cơ thể, là các quá trình sinh vật học của sự trưởng thành. Các nhà
phân tâm học quan tâm nhiều nhất đến sự phát triển của tính dục, các nhà xã hội học
lại lấy mức độ xã hội hoá của mỗi cá thể là tiêu chí để xác định. Còn các nhà tâm lý
14
học hiện đại cho rằng, cần nghiên cứu lứa tuổi thanh niên trong một mối tổng hoà các
yếu tố sinh học, tâm lý học, phân tâm học và xã hội học.
Theo các nhà tâm lý học, lứa tuổi thanh niên được định nghĩa là giai đoạn phát
triển bắt đầu từ lúc dậy thì cho đến khi bước vào tuổi trưởng thành. Như vậy theo định
nghĩa này, thời điểm bắt đầu của tuổi thanh niên lấy tiêu chí là sinh lý còn thời điểm
kết thúc là tiêu chí xã hội. Theo định nghĩa đó tuổi thanh niên là thời kỳ từ 14, 15 đến
25 tuổi và được phân chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất từ 14, 15 đến 17, 18: giai đoạn đầu tuổi thanh niên (còn được
gọi là tuổi thanh niên mới lớn, thanh niên học sinh). Lứa tuổi HS THPT (15 - 18) nằm
trong giai đoạn này.
Giai đoạn thứ hai từ 18, 19 đến 25: giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên (còn được
gọi là tuổi thanh niên sinh viên).
Sự phân chia giai đoạn cũng chỉ mang tính tương đối. Một số nhà nghiên cứu lại
phân chia tuổi thanh niên ra làm ba giai đoạn. Tuy nhiên, dù thế nào thì các nghiên cứu
vẫn luôn xác định rằng: Lứa tuổi HS THPT là lứa tuổi thuộc giai đoạn đầu của tuổi
thanh niên.
“Tuổi thanh niên (từ 14,15 đến 18 tuổi) là “thế giới thứ 3” theo nghĩa đen của
từ này, tồn tại giữa tuổi trẻ em và tuổi người lớn” (I.X.Côn).
Thời điểm bắt đầu và kết thúc của tuổi thanh niên không bất biến, cứng nhắc mà
phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội, điều kiện sống và giáo dục.
1.1.1. Đặc điểm cơ thể của lứa tuổi học sinh THPT
“Các phẩm chất tư duy phát triển mạnh như: tính độc lập, tính lập luận, tính phê
phán, tính linh hoạt, tính hệ thống, tính khái quát, tính sáng tạo” [50, 102]. Tư duy lý
luận tăng lên biểu hiện ở sự thích thú tranh luận về các vấn đề khác nhau. Thậm chí
các em thích suy nghĩ, lập luận, bàn bạc ngay cả trong các trường hợp các em không
đủ kiến thức để làm điều đó. Tư duy lôgic và tính phê phán của tư duy phát triển mạnh
hơn. Các em suy nghĩ chặt chẽ, nhất quán hơn. Chính sự phát triển mạnh mẽ của tư
duy đã góp phần thúc đẩy sự xuất hiện nét tâm lý mới ở lứa tuổi này đó là sự hoài nghi
khoa học.
Thiếu sót cơ bản của tư duy trong giai đoạn này là tính độc lập trong tư duy chưa
phát triển đến mức cần thiết. Trong nhiều trường hợp các em chưa cố gắng phát huy
khả năng độc lập suy nghĩ của bản thân, do đó kết luận vội vàng hoặc lặp lại ý tưởng,
cách chứng minh của người khác, nhất là của những người có uy tín (thần tượng) với
các em. Do đó, dạy học cần chú trọng việc phát triển khả năng nhận thức cho HS. Tuy
nhiên cũng cần nhận thức rõ, khả năng phát triển của tư duy ở mỗi em HS là khác
nhau. Do đó, quá trình nhận thức của các em HS nói chung và các em HS THPT chia
ra làm ba cấp độ. Thứ nhất là loại khả năng nhận thức xuất sắc. Thứ hai là loại khả
năng nhận thức trung bình, khá. Thứ ba là loại thiểu năng trí tuệ. Như vậy, với mỗi loại
khả năng nhận thức khác nhau, các nhà giáo dục cũng phải tiến hành những phương
16
pháp giáo dục chung và cá biệt để đảm bảo quá trình nhận thức của HS có kết quả như
mong muốn.
1.1.3. Những đặc điểm nhân cách chủ yếu
1.1.3.1. Sự phát triển của tự ý thức
Khả năng tự ý thức của con người bắt đầu xuất hiện từ những lứa tuổi trước và
hoàn thiện từng bước nhưng thực sự phát triển mạnh ở lứa tuổi này. Sự phát triển tự ý
thức của các em thể hiện ở một số mặt sau:
Thứ nhất, HS THPT rất quan tâm đến việc tự đánh giá về ngoại hình của cơ thể (về
vóc dáng, về những chi tiết trên khuôn mặt, cơ thể…). Tâm lý làm đẹp biểu hiện khá
rõ, (soi gương, chú ý nhiều đến ăn mặc, chạy theo mốt, tập luyện thể thao để hoàn
thiện, cải tạo hình thể…). Tất nhiên là sự tự đánh giá về hình ảnh cơ thể của các em rõ
Thứ năm, HS THPT ưa thích cái mới lạ, rất nhạy cảm với cái mới, có thể nói lứa
tuổi thanh niên nói chung dễ dàng chấp nhận và ủng hộ cái mới nhất.
Đặc điểm ưa thích cái mới kết hợp với nhu cầu muốn biểu hiện bản thân, sự phán
xét đánh giá phân định đúng sai chưa khách quan, thiếu chính xác đã đưa HS THPT
đến hai khả năng phát triển: Có thể rất tốt nếu những điều “mới lạ” đó là tích cực giúp
phát triển và hoàn thiện nhân cách. Nhưng nếu cái “mới lạ” đó là những tiêu cực có
thể đưa các em đến những hành vi “lệch chuẩn”, tội lỗi thậm chí phạm pháp.
Nói về đặc điểm này, nhà giáo dục học Phạm Đình Chương viết: “Đây là giai đoạn
đầu của tuổi trưởng thành, các yếu tố của nhân cách định hình chưa thật vững bền,
chưa được trải nghiệm nhiều. Do đó, ở một số em có hiện tượng manh động, bột phát,
hiếu thắng, chủ quan… dễ dẫn đến những sai lầm trong nhận thức và hành vi văn hóa,
đạo đức.” [41, 83].
1.1.3.2. Sự hình thành thế giới quan và nhân sinh quan
Tuổi đầu thanh niên là tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan và nhân sinh
quan. Hay nói cách khác, tuổi thanh niên là giai đoạn định hình nhân cách.
Thế giới quan và nhân sinh quan là một hệ thống các quan điểm về thế giới tự
nhiên và xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc cư xử, về các chuẩn mực, định hướng
giá trị về đạo đức, văn hóa, về quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong xã hội Thực
ra, những cơ sở của thế giới quan, nhân sinh quan đã được hình thành từ những lứa
tuổi trước, ngay từ khi còn nhỏ. Nhưng chỉ đến giai đoạn lứa tuổi này mới được xây
dựng thành một thế giới quan và nhân sinh quan tương đối hoàn chỉnh.
Để chuẩn bị bước vào đời, HS THPT thường trăn trở với các câu hỏi về ý nghĩa và
mục đích cuộc sống, về cách xây dựng một kế hoạch sống có hiệu quả, về việc lựa
chọn nghề nghiệp cho phù hợp và có ý nghĩa Theo Ericson đó là một cái mốc quan
trọng của sự hình thành bản sắc người thanh niên mới lớn.
Ở nước ta hiện nay khi mà các giá trị xã hội có nhiều biến động, không ít HS THPT
chưa xác định được ý nghĩa của cuộc sống, không có định hướng nghề nghiệp rõ nét
và cũng chưa thể lập được cho bản thân một kế hoạch sống cụ thể. Hiện tượng này tồn
tại không phải đơn thuần do trình độ phát triển tâm lý ở lứa tuổi thành niên chưa chín
18
chuẩn mực. Sự nghi ngờ lật lại các chuẩn mực đạo đức của xã hội đã có thể hiện như
một thao tác tìm kiếm, nghiên cứu, học hỏi để tiếp thu.
1.1.3.3. Giao tiếp và đời sống tình cảm
Thứ nhất, về hoạt động giao tiếp
19
Một là giao tiếp với người lớn. HS THPT thường có tâm lý cho rằng người lớn
không hiểu, không đánh giá đúng đắn và nghiêm túc về suy nghĩ, tâm tư của các em
nên các em có xu hướng xa lánh, lạnh nhạt với người lớn mà tìm đến sự đồng cảm của
những bạn cùng lứa tuổi. Mối quan hệ phụ thuộc, dựa dẫm vào cha mẹ dần dần được
thay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập.
Tính tự lập của các em được thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành vi, tự lập về tình cảm
và tự lập về đạo đức và giá trị. Vì vậy, nhiều bậc cha mẹ không thấy hết những đặc
điểm này của thanh niên mới lớn nên đã xảy ra xung đột gay gắt với các em chứ hoàn
toàn không phải sự nổi loạn hay xung đột giữa các thế hệ. Nếu cha mẹ không cản trở
việc thực hiện những khao khát bình đẳng, tự lập đó thì sự xung đột giữa họ và các em
HS THPT sẽ ít xảy ra.
Tuy nhiên, trong những môi trường giao lưu tự do, trong những hoàn cảnh nhàn
rỗi, tiêu khiển, trong định hướng nhu cầu, sở thích nghệ thuật, HS THPT thường định
hướng vào bạn bè cùng tuổi hơn là vào cha mẹ, nhưng khi nói đến các giá trị đạo đức
thì ảnh hưởng của cha mẹ đối với các em lại mạnh mẽ hơn bạn bè cùng trang lứa. Từ
đó, ta thấy dù cho mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái phức tạp đến đâu thì vốn tình
cảm tích lũy từ thời thơ ấu vẫn sâu đậm trong lòng các em HS THPT.
Trong mối quan hệ giao tiếp với thầy cô giáo có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển
về trí tuệ và nhân cách của HS THPT. Vai trò chủ động, sáng tạo trong học tập của các
em được giáo viên nhận thức và thực hiện. Bên cạnh đó, việc xã hội công nhận vai trò
người lớn của các em và đòi hỏi các em thực hiện nghĩa vụ của một công dân như:
Quyền và nghĩa vụ bầu cử, nghĩa vụ lao động hay nghĩa vụ quân sự… vào cuối lứa
tuổi (18 tuổi) tạo ra cho các em những điều kiện thuận lợi và là động lực để thể hiện,
rèn luyện và trưởng thành [50, 91-95].
Hai là giao tiếp trong nhóm bạn. Ở tuổi này quan hệ bạn bè chiếm vị trí quan trọng
xã hội và kinh nghiệm sống. Trong khi đó cảm giác của mối tình đầu gây những rung
cảm rất mãnh liệt. Nói cách khác, những điều kiện cần và đủ để đi vào tình yêu đôi lứa
chưa hội tụ đủ.
Điểm đặc trưng trong tình yêu ở lứa tuổi này là có sự pha trộn giữa tình yêu và tình
bạn mà bản thân các em cũng không phân biệt rạch ròi. Tình cảm các em dành cho
nhau rất kín đáo, thầm kín, nhiều e thẹn và rất chân thành. Các em thường ấp ủ trong
tâm hồn nhiều hơn là biểu lộ ra bên ngoài nhưng ấn tượng lại rất mạnh, rất sâu sắc mà
nếu đổ vỡ thường gây nhiều đau khổ cho cả hai. Ít đi tới hôn nhân, đơn giản là vì các
em còn thiếu rất nhiều điều kiện để thực hiện hôn nhân và cuộc đời phía trước các em
còn nhiều biến động.
Người lớn cần phải coi đây là một hiện tượng rất bình thường và tự nhiên trong quá
trình trưởng thành của con người, không nên coi đây là một vấn đề nghiêm trọng cần
phải can thiệp “gấp”. Mọi sự can thiệp thô bạo, cấm đoán đều không phải là những
21
biện pháp hợp tình, hợp lý, thậm chí có thể để lại những hậu quả xấu. Việc mà người
lớn cần phải làm là bằng các hình thức, biện pháp giáo dục tinh tế, khéo léo xây dựng
cho các em những quan niệm, chuẩn mực về tình yêu đôi lứa, về đạo đức, về đạo lý
tình dục. Chính các em mới là người quyết định phải làm gì và làm như thế nào trong
các tình huống tình cảm. Vấn đề quan trọng thứ hai để giúp các em HS THPT duy trì
tình cảm khác giới lành mạnh là tạo môi trường, lôi cuốn các em vào những hoạt động
tập thể phong phú, sinh động, các hoạt động giải trí lành mạnh, bổ ích (thể thao, ca
nhạc ).
Nhà giáo dục học Phạm Khắc Chương khi nhắc đến hoạt động giao tiếp trong
nhóm bạn và tình cảm giới tính đã nhận xét như sau: “Ở lứa tuổi này các em có nhu
cầu mạnh mẽ về tình bạn và nhóm bạn phù hợp hứng thú, sở thích trong học tập hoặc
trong hoạt động, tạo điều kiện cho tình yêu nam nữ phát triển. Tình bạn, tình yêu chân
thành, trong sáng là động lực thúc đẩy phát triển những phẩm chất, năng lực tốt đẹp
của thanh niên, đồng thời mở rộng mối quan hệ ứng xử thấm đượm sâu sắc những
chuẩn mực đạo đức, nhân văn, xã hội.” [41, 83].
Thứ hai, về đời sống tình cảm
1.2.1. Khái quát chung về vấn đề thẩm mỹ âm nhạc
1.2.1.1. Khái niệm thẩm mỹ âm nhạc
Thẩm mỹ theo nghĩa của từ ngữ là sự thụ cảm cái đẹp. “Thẩm mỹ âm nhạc” theo
nghĩa hẹp do đó có nghĩa là sự thụ cảm cái đẹp trong âm nhạc. Một số nhà nghiên cứu
Mỹ học Việt nam đã chỉ ra rằng: “Phạm trù thẩm mỹ là khái niệm chung nhất, khái
quát nhất thể hiện nhận thức của con người trước những hiện tượng thẩm mỹ trong tự
nhiên, xã hội, trong bản thân con người và nghệ thuật, thể hiện những quy luật cơ bản
của hoạt động thẩm mỹ, của quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực” [12, 12].
Bên cạnh đó, trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử, Mỹ học Mác – Lênin đã coi cái thẩm mỹ là một quan hệ gồm ba mặt hợp thành:
Một là mặt đối tượng trong quan hệ thẩm mỹ. Đó là những cái đẹp, cái bi, cái hài, cái
cao cả tồn tại khắp mọi nơi trong đời sống xã hội. Hai là mặt chủ thể trong quan hệ
thẩm mỹ. Đó là các hoạt động của chủ thể thẩm mỹ về nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu thẩm
mỹ, lý tưởng thẩm mỹ của những con người xã hội. Ba là mặt nghệ thuật trong quan
hệ thẩm mỹ. Đó là các hoạt động hưởng thụ nghệ thuật, đánh giá nghệ thuật, sáng tạo
nghệ thuật.
Ở đây cần hết sức tránh nhầm lẫn hai khái niệm “thẩm mỹ” và “mỹ học”. Cũng
như sự khác biệt giữa lịch sử và sử học, văn chương và văn học, âm nhạc và âm nhạc
học… “thẩm mỹ” hoàn toàn không phải là “mỹ học”. Đó là sự khác biệt giữa đối
tượng và khoa học nghiên cứu đối tượng. Do đó, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì “thẩm
mỹ âm nhạc” là toàn bộ hoạt động của con người (chủ thể thẩm mỹ) trong việc hưởng
thụ, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật âm nhạc (đối tượng thẩm mỹ).
23
1.2.1.2. Những biểu hiện đặc trưng của nghệ thuật âm nhạc theo quan điểm của
Mỹ học hiện đại
Theo quan điểm của Mỹ học thì âm nhạc là nghệ thuật của âm thanh và thời gian.
Nếu như phương thức để biểu hiện đối tượng, nội dung của khoa học là các khái niệm
thì trong nghệ thuật lại là hình tượng nghệ thuật. Nếu như văn học dùng chất liệu,
ngôn ngữ để biểu hiện hình tượng nghệ thuật là ngôn ngữ, điêu khắc là hình khối, hội
họa là đường nét và màu sắc…thì chất liệu, ngôn ngữ để biểu hiện hình tượng âm nhạc
Hình tượng âm nhạc mở ra đầu tiên ở chủ đề âm nhạc, sau đó là trong quá trình
phát triển các chủ đề âm nhạc. Trong quá trình phát triển đó, có khi là sự mở rộng biến
hóa, bổ sung, có khi là sự xuất hiện chủ đề mới tạo sự tương phản, xung đột giữa các
chủ đề tạo nên hình tượng sinh động, sâu sắc.
Chủ đề trong âm nhạc là ý nhạc cơ bản được trình bày một cách rõ ràng trong quan
hệ giai điệu và cấu trúc, thể hiện ở chất liệu âm nhạc được cá tính hóa và có ý nghĩa
dẫn đầu truyền cảm hình tượng trong tác phẩm âm nhạc. Chủ đề âm nhạc gắn liền với
ngôn ngữ âm nhạc được thể hiện một cách cụ thể bằng một giai điệu, một ý nhạc, hoặc
có thể là một tiết tấu, vài nốt nhạc, vài hợp âm mang tính đặc sắc, cô đọng nhất, dễ
nhớ, dễ thuộc, dễ liên tưởng, dễ cảm nhận.
Chủ đề âm nhạc và hình tượng âm nhạc có mối liên hệ gắn bó với nhau nhưng
không đồng nhất với nhau. Nó gắn bó với nhau bởi lẽ, mỗi một chủ đề âm nhạc sẽ
mang lại một hình tượng âm nhạc, nếu như không ngay tức khắc thì cũng sẽ ít nhiều
bộc lộ trong toàn bộ tác phẩm. Tuy nhiên, nó không đồng nhất ở chỗ: Khái niệm chủ
đề âm nhạc quan hệ đến chất liệu âm nhạc. Nó là ý nhạc cụ thể. Chủ đề âm nhạc thuộc
lĩnh vực lý thuyết, lý luận âm nhạc. Còn hình tượng âm nhạc mang tính chất mở rộng
hơn. Nó là khái niệm thuộc quy tắc thẩm mỹ, hoàn toàn mang tính Mỹ học. Đó là
trạng thái tâm hồn, nhận thức lý trí của con người thông qua những phương tiện biểu
hiện của ngôn ngữ âm nhạc mà hình thành. Do đó, hình tượng âm nhạc mang tính ước
lệ, tính trừu tượng và khái quát cao về tư duy, cảm xúc của nhà soạn nhạc. Có thể nói,
hình tượng âm nhạc là linh hồn của tác phẩm âm nhạc.
Nghiên cứu bản giao hưởng số 5, giọng Đô thứ “Định mệnh”, Op. 67 của
Beethovent. Chúng ta sẽ thấy mối quan hệ này giữa chủ đề và hình tượng âm nhạc.
Hình 1: Chủ đề I, chương I, bản giao hưởng số 5 của Beethovent
Toàn bộ chủ đề trong chương I bản giao hưởng số 5 này gồm 21 nhịp, được cấu
trúc bằng hình thức một đoạn không hoàn chỉnh. Tuy nhiên, chỉ bằng 2 motive gồm 5
nhịp, với nhân tố âm nhạc gồm 4 âm được gắn với tên gọi “Chủ đề số phận” (Motive
chủ đề) báo tin mở đầu bản giao hưởng. Từ giai điệu ban đầu của chủ đề thứ nhất –
chủ đề chính, khiến người nghe liên tưởng ngay đến hình tượng âm nhạc, đó chính là
25