bài tiểu luận đa dạng sinh học phân tích những nguyên nhân gây suy thoái đdsh ở việt nam - Pdf 15

BÀI TIỂU LUẬN ĐA DẠNG SINH HỌC

BÀI TIỂU LUẬN ĐA DẠNG SINH HỌC

Mục Lục
BÀI TIỂU LUẬN ĐA DẠNG SINH HỌC
Họ và tên: ĐỖ THỊ THANH LOAN
Lớp: MTA
Mã sinh viên: 532248
Đề tài:
Phân tích những nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH ở Việt Nam. Công tác bảo tồn ĐDSH
ở Việt Nam diễn ra như thế nào? Liên hệ bản thân nhằm hạn chế sự suy giảm ĐDSH?
Theo em công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam đã hợp lí chưa và em có những đề xuất gì
cho công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam hiện nay?
Bài làm
Phần I: Mở đầu
Phần II: Thân bài
Phân tích những nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH ở Việt Nam:
Theo những tác giả khác nhau thì có những nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH ở Việt
Nam khác nhau tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân tôi, tôi có thể tạm chia nguyên nhân
gây suy thoái ĐDSH ở Việt Nam theo những mục sau (trên cơ sở phân tích những yếu tố
tác động đến sự suy giảm ĐDSH)
1 nguyên nhân trực tiếp
Sự suy giảm ĐDSH hiện nay có cả các nguyên nhân như: Sự phá vỡ và mất nơi cư trú, sự
ô nhiễm, sự biến đổi khí hậu toàn cầu và các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, lâm
nghiệp, sự gia tăng dân số loài người, sự mở rộng nơi cư trú sinh thái của con người và sử
dụng ngày càng nhiều năng suất sinh học của trái đất, khai thác quá mức các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, hệ thống kinh tế thiếu sự định giá thích hợp cho môi trường, các cấu
trúc xã hội không hợp lý và những yếu kém trong hệ thống pháp lý và nhà nước. Có 2
loại nguyên nhân suy giảm ĐDSH:
2. 1. Nguyên nhân gián tiếp: Là những nguyên nhân không tác động ngay đến sự còn hay

thời gian này dân số loài người tăng từ 1 tỷ người vào năm 1850 đến 2 tỷ vào năm 1930,
và đến 5,9 tỷ vào năm 1995, dự kiến dân số sẽ tăng 6,5 tỷ vào năm 2010 (nguồn Tổng
cục thống kê, 2000).
Con người sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên như gỗ, củi, các loài thực vật, thịt
động vật hoang dã,…Con người cũng khai phá, chuyển đổi rất nhiều diện tích đất đai vốn
là những nơi cư trú tự nhiên của sinh vật hoang dã thành đất đai sử dụng cho nông nghiệp
và làm nhà ở, xây dựng thành phố, khu công nghiệp cùng cơ sở hạ tầng.
Ô nhiễm môi trường sống.
Cho dù nơi sinh sống không bị ảnh hưởng một cách trực tiếp do việc phá huỷ hay chia
cắt, nhưng các quần xã và các sinh vật sống trong đó có thể bị ảnh hưởng sâu sắc do các
hoạt động khác của con người. Dạng nguy hiểm nhất của phá huỷ môi trường là sự ô
nhiễm. Có thể liệt kê một số nguyên nhân sau:
- Ô nhiễm do thuốc trừ sâu: Thuốc trừ sâu là nhân tố gây ô nhiễm nặng nề và được
khuyến cáo từ năm 1962 (Rachel Carson, 1962). Thuốc trừ sâu DDT
(Diclorodiphenyltricloro – ethene) và các loại thuốc trừ sâu có chất Clo hữu cơ khác là
những chất không phân huỷ hoàn toàn và được tích luỹ tăng lên theo các bậc tháp của
chuỗi thức ăn.
+ Việc sử dụng thuốc trừ sâu để diệt các loại côn trùng gây hại cho cây trồng, diệt ấu
trùng cho các loài muỗi trong nước đã gây nhiều tổn hại tới các quần thể sinh vật khác
cùng sống trong môi trường.
+ Việc sử dụng thuốc trừ sâu thường phải tăng nồng độ theo thời gian do các sinh vật gây
hại bị nhờn hoá chất.
+ Việc sử dụng thuốc trừ sâu không những giết hại nhiều loài sinh vật có ích mà còn gây
ô nhiễm không khí, ô nhiễm các yếu tố khác trong môi trường sống của con người.
- Ô nhiễm nước: Ô nhiễm nước cũng là nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH thuỷ sinh như
các loài cá, ốc, trai, hến
Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là do các chất thải công nghiệp, chất thải dân
dụng, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, rò rỉ xăng dầu từ các tàu vận tải, các kim loại
nặng(thuỷ ngân, chì, thiếc ). Các chất thải này theo dòng chảy và lan tràn trong một
vùng rộng lớn. Lượng các chất độc này xâm nhập, tích luỹ tăng dần theo thời gian trong

nông nghiệp.
+ Xăng có chì, các hoạt động khai mỏ, luyện kim và các hoạt động công nghiệp
khác thải ra một lượng lớn chì, thiếc, và nhiều loại kim loại độc hại khác vào khí quyển.
Các hợp chất này trực tiếp gây độc cho cuộc sống của động và thực vật.
Sự biến đổi khí hậu.
Khí cacbonic, mêtan và các khí khác trong khí quyển không ngăn cản ánh sáng mặt trời,
cho phép năng lượng mặt trời xuyên qua khí quyển và sưởi ấm bề mặt trái đất. Tuy vậy,
những khí này và hơi nước (dưới dạng những đám mây) giữ lại năng lượng do trái đất
phát ra dưới dạng nhiệt, làm chậm lại tốc độ phát tán nhiệt và bức xạ khỏi trái đất. Các
khí này được gọi là khí nhà kính do tác dụng của chúng rất giống với nhà kính – cho ánh
sáng mặt trời đi qua nhưng giữ lại năng lượng bên trong nhà kính và chuyển thành năng
lượng nhiệt. Nồng độ khí này càng đậm đặc bao nhiêu thì nhiệt lượng bị thu lại gần mặt
đất nhiều bấy nhiêu và nhiệt độ trên bề mặt trái đất lại tăng lên bấy nhiêu.
Vai trò của khi nhà kính rất quan trọng vì nó giữ ấm bề mặt trái đất. Vấn đề quan trọng
hiện nay là nồng độ của khí nhà kính tăng cùng với hoạt động của con người đến mức
làm biến đổi khí hậu gây nên hiện tượng trái đất nóng dần lên. Hiện tượng nhiệt độ tăng
dần lên còn làm cho các khối băng ở các vùng cực tan ra. Do việc giải phóng một khối
lượng nước lớn do băng tan, trong vòng 50 đến 100 năm tới mức nước biển dâng cao từ
0,2 đến 1,5 m. Mức nước biển dâng cao sẽ làm ngập lụt những vùng đất thấp những khu
ĐNN ven bờ biển và nhiều thành phố lớn. Ngoài ra, mức nước biển dâng sẽ có khả năng
gây hại đến nhiều loại san hô, nhất là những loại chỉ tồn tại ở một độ sâu nhất định nơi có
ánh sáng và dòng chảy phù hợp.
Sự biến đổi khí hậu và nồng độ khí cacbonic trong khí quyển gia tăng sẽ có khả năng làm
thay đổi triệt để cấu trúc của các quần xã sinh học và sẽ chỉ còn một số loài có khả năng
phát triển thích ứng với điều kiện sống mới (Bazzaz và Fajer, 1992).
2.1.6. Sự bất lực của chính quyền và những chiến lược phát triển không hợp lý:
Nguyên nhân này có vai trò tương đối lớn, nhất là đối với các loài có nguy cơ tuyệt
chủng và ở các nước nghèo. Hệ thống các văn bản pháp luật chưa hoàn thiện và không
được những người có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc. Do cuộc sống khó khăn nên
những người dân bản địa đã tiến hành khai thác bất hợp pháp các loài động thực vật cung

vực chính của trái đất.
Con người đã làm thay đổi cơ bản cấu trúc này bằng việc vận chuyển, phát tán các loài
trong toàn cầu. Con người đã mang vật nuôi từ chỗ này sang chỗ khác khi họ tạo lập khu
định cư mới. Ngày nay, khi thị trường buôn bán phát triển, nhiều loài động thực vật được
vận chuyển qua nhiều nước khác nhau.
Về cơ bản, những loài du nhập thường không phát triển được ở những nơi mà chúng
được mang đến do điều kiện sống không phù hợp. Tuy nhiên, một tỉ lệ các loài nhất định
có biên độ sinh thái rộng, chúng phát triển rất nhanh, vượt lên trên cả các loài bản địa,
thậm chí chúng còn thay cả các loài bản địa. Các loài bản địa có thể bị tuyệt chủng do bị
các loài du nhập chiếm hết không gian dinh dưỡng hoặc bị ăn thịt. Ví dụ có khoảng 4600
loài thực vật đã được du nhập vào quần đảo Hawai, nhiều gấp 3 lần các loài thực vật bản
địa (St.John, 1973).
Lý do chính để các loài du nhập phát triển mạnh là chưa có thiên địch (ví dụ Thỏ nhập
vào Châu Úc đã ăn hết cả các loài cỏ bản địa) và sau nữa là con người đã tạo những điều
kiện thuận lợi cho các loài du nhập phát triển.
Sự lây lan của các dịch bệnh.
Sự lây nhiễm các sinh vật gây bệnh là điều thường xảy ra đối với động vật nuôi hay động
vật hoang dã. Các tác nhân gây nhiễm có thể là các vật ký sinh nhu virus, vi khuẩn, nấm,
các động vật đơn bào hay các ký sinh trùng kích cỡ lớn hơn như giun, sán. Các loại dịch
bệnh có thể là nguy cơ đe dọa đối với một số loài quý hiếm. Vào năm 1987, quần thể cuối
cùng của loài chồn chân đen (Mustela nigrepes) trong tự nhiên đã bị tiêu diệt bởi virut
gây bệnh sốt ho của chó nhà và một số gia súc khác (Thorne and Wiliam, 1988).
Có 3 nguyên tắc về dịch bệnh học được ứng dụng rộng rãi trong việc nuôi dưỡng và quản
lý các loài thú quý hiếm.
Thứ nhất, các loài được con người nuôi và động vật sống trong tự nhiên khi sống trong
quần thể với mật độ cao sẽ có nguy cơ dễ mắc bệnh dịch hay bị nhiễm ký sinh trùng.
Thứ hai, tác hại gián tiếp do nơi cư trú bị phá huỷ là làm cho loài trở nên dễ mắc các bệnh
dịch hơn. Khi các quần thể vật chủ sống tập trung trong một khu vực nhỏ hơn do nơi sinh
sống của chúng bị phá huỷ, tại đây chất lượng môi trường nơi cư trú thường bị suy giảm,
thức ăn trở nên khan hiếm dẫn đến tình trạng kém dinh dưỡng, các động vật trở nên yếu

lớn đối với vùng cư trú của các loài động vật hoang dã.
Trong giai đoạn từ năm 1986 – 1991, bình quân lượng gỗ bị khai thác là 3,5 triệu m
3
/năm
và khoảng 1-2 triệu m
3
ngoài kế hoạch (khoảng 80.000 ha bị mất mỗi năm); giai đoạn
1992 -1996 khoảng 1,5 m
3
gỗ/năm; Từ năm 1997 tới nay khoảng 0,35 triệu m
3
gỗ/năm
được khai thác theo kế hoạch từ rừng tự nhiên ở Việt Nam.
Nạn khai thác gỗ trộm xảy ra ở nhiều nơi, kể cả trong các khu rừng phòng hộ và rừng đặc
dụng cũng làm cho tài nguyên rừng bị cạn kiệt nhanh chóng. Nguyên nhân chính dẫn tới
việc khai thác gỗ trái phép xảy ra nghiêm trọng và khó kiểm soát vì nhu cầu dùng gỗ
trong nước và việc xuất khẩu ngày càng tăng trong khi trữ lượng gỗ ngày càng giảm.
Việc kinh doanh gỗ có lãi lớn nhưng lực lượng bảo vệ rừng chưa đủ mạnh, hiệu quả kiểm
soát thấp, việc xử lý những vụ vi phạm khai thác và vận chuyển gỗ trái phép còn hạn chế.
Hình 3.1. Khai thác quá mức tài nguyên rừng
- Khai thác củi làm nhiên liệu:
Khai thác củi làm nhiên liệu có quy mô lớn và kho kiểm soát, đây cùng là mối đe
dọa rất lớn đối với ĐDSH. Nhu cầu năng lượng từ củi chiếm tới 75% tổng nhu cầu năng
lượng của đất nước, ước tính hàng năm có 22-23 triệu tấn nhiên liệu được khai thác từ
rừng tự nhiên (RWEDP – Nghiên cứu tổng quan về nhiên liệu gỗ củi)
Trước năm 1995, có khoảng 21 triệu tấn củi được khai thác hàng năm, bên cạnh
đó còn có nạn đốt than. Khai thác củi và đốt than để bán còn là nghề kiếm sống khó thay
thế của nhiều người vùng núi.
- Khai thác, buôn bán lâm sản ngoại gỗ (kể cả động vật).
Rừng Việt Nam có khoảng 2.300 loài thực vật nhóm lâm sản ngoại gỗ như song,

tình trạng xấu và có nhiều bằng chứng cho thấy đây là những khu vực bị đe dọa cực kỳ
nghiêm trọng. Tại một số rạn san hô, cá đã bị đánh bắt cạn kiệt tới mức mà người ta
không thể tái tạo lại ngư trường đánh bắt cá lớn nữa. Một số rạn san hô bị phá huỷ, chủ
yếu là do sử dụng các phương pháp đánh bắt cá mang tính huỷ hiệt như đã nói ở trên. Tất
cả những phương pháp đánh bắt cá không chọn lọc đõ sẽ giết chết hoặc làm tất cả các
loài hoảng sợ.
Mở rộng đất làm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
Mở rộng đất canh tác nông, nghư nghiệp lấn vào đất rừng là một trong những nguyên
nhân quan trọng nhất làm suy thoái ĐDSH. Ở vùng núi phía Bắc, khai thác rừng chủ yếu
để lấy đất làm nông nghiệp, ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ phá rừng để trồng cây công
nghiệp như cà phê, cao su, điều, , ở ven biển phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thuỷ sản.
Việc mở rộng đất trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản là để đáp ứng nhu cầu về lương thực,
thực phẩm do dân số ngày càng tăng, đồng thời góp phần phát triển kinh tế đất nước, tăng
thêm nguồn nông sản và hải sản xuất khẩu có giá trị.
Hiện tượng lấn chiếm đất sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản thường xảy ra đối với người
nghèo và các hộ di cư tự do. Các khu rừng ngập mặn tại các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang và
nhiều tỉnh ven biển khác cũng là đối tượng khai phá làm đầm nuôi tôm của người dân địa
phương. Tuy nhiên, có không ít khu vực đầm nuôi tôm đã bị hoang hoá do phương thức
nuôi trồng không bền vững.
Xây dựng cơ sở hạ tầng.
Cùng với tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, việc xây dựng cơ sở hạ tầng
bao gồm đường giao thông, cầu phà, bến cảng, mạng lưới điện, hệ thống cấp thoát
nước là một tất yếu.
Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng nói trên một cách thiếu quy hoạch, thiếu cơ sở khoa học
có ảnh hưởng mạnh đối với ĐDSH. Chẳng hạn như việc xây dựng các tuyến đường giao
thông xuyên qua các vùng rừng rộng lớn như đường Trường Sơn, các tuyến đường bộ đi
qua vùng Đồng Tháp Mười, nối Hà Tiên với Cà Mau, đường dây điện 500kv , ít nhiều
đã làm mất đi tính liên tục của vùng phân bố các loài, gây nhiễu loạn và làm suy thoái
môi trường tự nhiên, chỉ tính riêng các hồ chứa nước được xây dựng hàng năm đã làm
mất đi khoảng hàng ngàn ha rừng (Do nhiều loài sinh vật bị tiêu diệt do đất đá vùi lấp, do

và cho năng suất cao. Tuy nhiên việc di nhập nhiều giống mới một cách tràn lan, thiếu
kiểm soát là nguy cơ tiềm tàng làm các giống bản địa bị mai một. Các giống mới có thể
có những điểm bất lợi và thường không bền vững trước tác động của ngoại cảnh và sâu
bệnh. Tác hại ngay lập tức và có thể thấy là một số loài di nhập vào Việt Nam đã phát
triển thμnh dịch và gây hại nghiêm trọng. Điều này còn liên quan đến sự thiếu hiểu biết
và sơ hở trong quản lý. Có thể nêu ra đây một số ví dụ:
+ Trong công tác trồng rừng ở Việt Nam, chúng ta đã sử dụng thành công khá nhiều loài
cây nhập nội như Phi lao trên vùng cát ven biển, các loài Keo và Bạch đàn cho vùng đồi
thấp và rừng công nghiệp. Bạch đàn trồng thuần loại ở một số vùng ở nước ta có những
thời điểm bị bệnh hại gây chết hàng loạt.
+ Tình trạng tương tự cũng xảy ra với các loài cây nông nghiệp, các giống mới như lúa,
ngô, cà phê, cao su, cây ăn quả được nhập nôi, gây trồng rộng rãi vì năng suất cao. Điều
này đã làm cho một số giống cây trồng địa phương, có chất lượng nhưng năng suất thấp
bị mất đi.
+ Việc nhập và gây nuôi ốc bươu vàng đại trà đã gây hại cho đồng ruộng trong một thời
gian dài, một số loài sinh vật lá khác gây tác hại nghiêm trọng như ốc sên, cây trinh nữ
đầm lầy (cây Mai Dương), bèo Nhật Bản.
Hình 3.3. Trinh nữ đầm lầy và Ốc bươu vàng, 2 kẻ ngoại lai nguy hiểm
Ô nhiễm môi trường
Các hoạt động của con người như phát triển nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng; phát
triển các làng nghề, các khu đô thị, các thành phố; hóa chất và chất thải nông nghiệp,
công nghiệp và sinh hoạt ;… đã gây ra ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) ở
nhiều nơi và gây hại trực tiếp đến sức khỏe con người.
Ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nước gây tác hại rất lớn đối với môi trường
nước ngọt và biển:
+ Nước thải công nghiệp, sử dụng thuốc trừ sâu là những nguyên nhân chính làm ô nhiễm
các sông hồ nước ngọt của Việt Nam. Các ngành công nghiệp Việt Nam tuy hiện nay đã
áp dụng một số biện pháp sử lý nước thải song chưa triệt để. Nước thải của các nhà máy
hoá chất, xà phòng cùng với nước thải sinh hoạt đã gây ô nhiễm nặng cho các con sông.
Trên đồng ruộng, việc lạm dụng các hoá chất diệt côn trùng, chất diệt cỏ đã gây ô nhiễm

quả tất yếu dẫn tới là phải mở rộng đất nông nghiệp, xâm lấn vào đất rừng, làm suy thoái
ĐDSH.
Từ những năm 1960, thực hiện chủ trương của chính phủ xây dựng và phát triển các vùng
kinh tế mới, các địa hương đã động viên khoảng 1,2 triệu người từ vùng đồng bằng lên
khai hoang và sinh sống ở vùng núi. Cuộc vận động này đã làm thay đổi cơ cấu dân số và
tập quán canh tác ở miền núi. Từ những năm 1990, đã có nhiều đợt di cư tự do từ các tỉnh
phía Bắc và Bắc Trung Bộ vào các tỉnh phía Nam. Tác động của di dân tự do đến tài
nguyên thiên nhiên, đến ĐDSH ở các vùng này đã trở thành vấn đề bức xúc ở một số tỉnh
phía Nam, đặc biệt là Tây Nguyên.
Sự nghèo đói.
Việt Nam được xếp loại là một trong những nước nghèo trên thế giới với gần 80% dân số
sống ở nông thôn, hoạt động kinh tế chủ yếu là nông – lâm – ngư nghiệp, đời sống kinh tế
còn nhiều khó khăn. Theo thống kê vào năm 2001, tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm 17% tổng số
dân, trong đó phần lớn số hộ này sống ở nông thôn, miền núi, vùng sâu và biên giới.
Trong khu rừng bảo tồn được nghiên cứu, 90% dân địa phương sống dựa vào nông
nghiệp và khai thác rừng.
Những người nghèo thường không có ruộng đất, phải sống dựa vào đất bạc màu,
đất dốc, đất có độ phì kém, lại thiếu vốn đầu tư lâu dài cho sản xuất, buộc họ phải khai
thác nhanh ruộng đất của mình hoặc phá rừng lấy đất canh tác.
Mối quan hệ giữa xóa đói giảm nghèo với bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế
xã hội là mối quan hệ nhân quả. Vì vậy, xoá đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu
của phát triển, là điều kiện để bảo vệ môi trường.
Chính sách kinh tế.
Chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô có ảnh hưởng sâu sắc ở quy mô lớn đến ĐDSH, đến biến
đổi tài nguyên và chất lượng môi trường. Nền kinh tế nước ta có sự khác biệt rõ rệt giữa
giai đoạn trước đổi mới và giai đoạn đổi mới.
Cho tới năm 1975 các chính sách kinh tế ở nước ta về cơ bản phù hợp với nền
kinh tế thời chiến. Các nhu cầu cấp thiết của chiến tranh nhất thiết phải được đáp ứng, kể
cả việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên sinh vật - đặc biệt là
tài nguyên rừng. Sau năm 1975, đất nước đã được thống nhất, nhưng nền kinh tế vẫn còn

Chính sách lâm nghiệp: Theo con đường làm ăn tập thể, các nông trường và các lâm
trường quốc doanh được thành lập khắp nơi trên cả nước. Một trong những nhiệm vụ của
lâm trường là khai thác gỗ theo kế hoạch của nhà nước. Theo số liệu thống kê, hàng năm
việc khai thác gỗ đã làm suy thoái 70.000 ha rừng, trong đó có 30.000 ha bị mất trắng.
Tập quán du canh du cư: Trong số 54 dân tộc ở Việt Nam thì có tới 50 dân tộc với
khoảng 9 triệu dân có tập quán du canh và do sức ép của gia tăng dân số, du canh trở
thành một nguyên nhân quan trọng làm mất rừng, thoái hoá đất và kết quả là tạo ra cả
một vùng đất trống đồi trọc như hiện nay.
3. Thang phân hạng của IUCN, 1994 (IUCN, Read list Categorles):
Thang bậc phân hạng của IUCN, 1994 hiện đang được sử dụng, bao gồm các hạng như
sau:
• Thang bậc phân hạng mức đe dọa cụ thể:
+ Các bậc phân hạng chính:
- Bị tuyệt chủng - EX (Extinct):
Một đơn vị phân loại được coi là tuyệt chủng khi chắc chắn cá thể cuối cùng của đơn vị
phân loại đó đã bị tiêu diệt.
- Tuyệt chủng trong hoang dã - EW (Extinct in the wild) :
Một loài được coi là tuyệt chủng trong hoang dã khi biết được loài đó chỉ tồn tại trong
điều kiện nuôi trồng nằm ngoài phạm vi phân bố lịch sử của loài đó. Loài được coi là
tuyệt chủng trong hoang dã khi những nỗ lực điều tra tại những vùng sống của loài đã
biết hoặc những sinh cảnh có hi vọng gặp được, vào những thời điểm thích hợp (theo
ngày, mùa, năm) khắp các vùng phân bố lịch sử của nó, mà vẫn không tìm ra một cá thể
nào. Các cuộc điều tra vượt quá khung thời gian của một vòng đời hoặc tuổi thọ của
chúng.
- Nguy cấp cao/ Rất nguy cấp - CR (Critical Endangered):
Một loài được coi là rất nguy cấp khi nó phải đối mặt với những mối đe doạ tuyệt chủng
tự nhiên rất lớn trong một tương lai gần, theo định nghĩa từ mục A đến E dưới đây:
A. Quần thể đang bị suy giảm theo một trong các hình thức sau:
1. Các ước lượng chỉ ra rằng quần đã bị/ có xu thế hoặc nghi có sự suy giảm ít nhất 80%
trong vòng 10 năm hoặc trong 3 thế hệ vừa qua, được xác định bởi:

(b) tất cả các cá thể đều nằm trong một quần thể phụ duy nhất.
D. Quần thể có số lượng dưới 50 cá thể trưởng thành.
E. Các phân tích khối lượng chỉ ra rằng khả năng tuyệt chủng trong tự nhiên ít nhất là
dưới 50% trong vòng 10 năm hoặc là 3 thế hệ hay bất cứ khi nào dài hơn.
- Nguy cấp - EN (Endangered):
Một loài được coi là nguy cấp khi nó chưa phải là nguy cấp cao nhưng nó đang phải đối
mặt với những mối đe doạ tuyệt chủng tự nhiên rất lớn trong một tương lai gần theo định
nghĩa từ mục A đến E dưới đây:
A. Quần thể đang bị suy giảm theo một trong các hình thức sau:
1. Các ước lượng chỉ ra rằng quần đã bị/ có xu thế hoặc nghi có sự suy giảm ít nhất 50%
trong vòng 10 năm hoặc trong 3 thế hệ vừa qua, được xác định bởi:
(a) quan sát trực tiếp
(b)một chỉ số của độ phong phú sát thực với đơnvị phân loại đó
(c) sự suy giảm trong vùng chiếm cứ, phạm vi xuất hiện hay chất lượng của sinh cảnh .
(d) mức độ khai thác hiện tại hoặc xu hướng khai thác.
(e) hậu quả của du nhập loài mới, tạp lai, bệnh dịch, ô nhiễm hay ký sinh.
2. Sự suy giảm ít nhất 50%, có xu hướng hoặc nghi sẽ có thể gặp phải trong 10 năm tới
hoặc trong 3 thế hệ dựa trên cơ sở xác định của bất kỳ điểm (b), (c), (d) hoặc (e) ở trên
B. Phạm vi xuất hiện ước lượng nhỏ thua 5000 km
2
hoặc vùng chiếm cứ nhỏ thua 500
km
2
, và được chỉ ra bởi các ước lượng sau :
1. Bị phân cách nghiêm trọng hay được biết chỉ tồn tại trong một diểm duy nhất.
2. Tiếp tục suy giảm qua quan sát hoặc có thể gặp phải trong các trường hợp sau:
(a) phạm vi xuất hiện
(b) diện tích chiếm cứ
(c) diện tích, phạm vi hay chất lượng sinh cảnh
(d) số lượng cá thể trưởng thành

hoặc (e) ở trên
B. Phạm vi xuất hiện ước lượng nhỏ thua 20.000 km
2
hoặc vùng chiếm cứ nhỏ thua 2000
km
2
, và được chỉ ra bởi các ước lượng sau :
1. Bị phân cách nghiêm trọng hay được biết chỉ tồn tại trong một diểm duy nhất.
2. Tiếp tục suy giảm qua quan sát hoặc có thể gặp phải trong các trường hợp sau:
(a) phạm vi xuất hiện
(b) diện tích chiếm cứ
(c) diện tích, phạm vi hay chất lượng sinh cảnh
(d) số lượng cá thể trưởng thành
3. Những thay đổi cực kỳ bất thường theo các điểm sau:
(a) phạm vi xuất hiện
(b) diện tích chiếm cứ
(c) số địa điểm phân bố hay số lượng các quần thể phụ
(d) số lượng cá thể trưởng thành
C. Số lượng quần thể được ước lượng còn ít thua 10.000 cá thể trưởng thành và:
1. Số lượng đó vẫn tiếp tục suy giảm ít nhất 10% trong 10 năm tới ở 1 thế hệ hoặc nhiều
hơn.
2. Quần thể vẫn tiếp tục giảm qua quan sát hoặc có thể gặp phải về số lượng cá thể trưởng
thành và cấu trúc quần thể nằm trong các dạng:
(a) bị chia cắt nghiêm trọng
(b) tất cả các cá thể đều nằm trong một quần thể phụ duy nhất.
D. Quần thể có số lượng dưới 1000 cá thể trưởng thành.
E. Các phân tích khối lượng chỉ ra rằng khả năng tuyệt chủng trong tự nhiên ít nhất là
dưới 10% trong vòng 100 năm.
- Đe doạ thấp - LR (Lower Risk):
Một loài đe doạ thấp khi nó đã được đánh giá, không thoả mãn các tiêu chuẩn đánh giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status