TIỂU LUẬN:
Hoàn thiện phương pháp phân tích
cơ bản trong đầu tư chứng khóan
ở Việt Nam
M
M
Ở
ỞĐ
Đ
Ầ
Ầ
U
U
- Trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản về ĐTCK và phương pháp
PTCB trong ĐTCK.
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác PTCB trong ĐTCK ở Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp PTCB trong ĐTCK ở Việt
Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động PTCB trong ĐTCK ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu hoạt động PTCB trong ĐTCK ở Việt Nam giai
đoạn 2000 - 2008
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với tư duy khoa học logic để nghiên cứu.
- Phương pháp diễn giải, phân tích.
5. Những đóng góp của luận văn
- Về lý thuyết: hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về ĐTCK và phương pháp PTCB
trong ĐTCK
- Về thực tiễn: phân tích và đánh giá thực trạng của hoạt động PTCB trong ĐTCK ở
Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp PTCB
trong ĐTCK ở Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và bảng các chữ viết tắt, luận văn
được kết cấu gồm ba chương:
- Chương 1: Lý luận chung về PTCB trong ĐTCK
- Chương 2: Thực trạng hoạt động PTCB trong ĐTCK ở Việt Nam.
- Chương 3: Hoàn thiện phương pháp PTCB trong ĐTCK ở Việt Nam
U
Ậ
Ậ
N
NC
C
H
H
U
U
N
N
G
GV
V
Ề
ỀP
P
H
H
Â
T
R
R
O
O
N
N
G
GĐ
Đ
Ầ
Ầ
U
UT
T
Ư
ƯC
C
H
H
Ứ
hoặc vốn của một công ty cổ phần. Cổ phiếu là công cụ không có thời hạn. Theo tính chất
của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông, có hai loại cổ phiếu cơ bản là cổ phiếu
phổ thông và cổ phiếu ưu đãi.
1.1.1.2. Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người
vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định,
thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi
nó đáo hạn.
1.1.1.3. Chứng chỉ quỹ đầu tư
Quỹ ĐTCK là quỹ hình thành từ vốn góp của người đầu tư để đầu tư vào các chứng
khoán. Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của NĐT đối với
một phần vốn góp của quỹ đại chúng.
1.1.1.4. Chứng khoán có thể chuyển đồi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó,
tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thể đổi nó lấy một chứng khoán
khác
1.1.1.5. Các chứng khoán phái sinh
- Quyền mua cổ phần (hay quyền mua trước) là quyền ưu tiên mua trước dành cho
các cổ đông hiện hữu của một công ty cổ phần được mua một số lượng cổ phần trong một
đợt phát hành cổ phiếu phổ thông mới tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong
công ty, tại một mức giá xác định, thấp hơn mức giá chào mời ra công chúng và trong một
thời hạn nhất định, đôi khi chỉ vài tuần.
- Chứng quyền là một loại chứng khoán trao cho người nắm giữ nó quyền được mua
một số lượng xác định một loại chứng khoán khác, thường là cổ phiếu thường, với một mức
giá xác định và trong một thời hạn nhất định. Quyền này được phát hành khi tổ chức lại các
công ty, hoặc khi công ty nhằm mục tiêu khuyến khích các NĐT tiềm năng mua các trái
phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi có những điều kiện kém thuận lợi. Để chấp nhận những điều
TTCK động sản; còn chữ Bourse có nghĩa là “mậu dịch thị trường” hay còn gọi là “nơi
buôn bán chứng khoán”. Đến năm 1547, thị trường ở thành phố Bruges bị sụp đổ do cửa
biển Evin – nơi dẫn các tàu thuyền vào buôn bán tại thành phố, bị cát biển lấp mất.
Đến năm 1531, thị trường này đã được dời tới thành phố cảng Anvers (Bỉ), từ đó, thị
trường này phát triển nhanh chóng. Đến thế kỷ XVIII, một thị trường như vậy cũng được
thành lập ở London (Anh) và sau đó là một loạt thị trường tại Pháp, Đức, Ý, một số nước
Bắc Âu và Mỹ cũng được thành lập. Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động, thị trường đã
chứng tỏ khả năng không đáp ứng được yêu cầu của cả ba giao dịch khác nhau. Vì thế, thị
trường hàng hoá được tách ra thành các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được tách ra và
phát triển thành thị trường hối đoái. TTCK động sản trở thành TTCK. Như vậy, TTCK được
hình thành cùng với thị trường hàng hoá và thị trường hối đoái.
Quá trình phát triển của TTCK đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Lịch sử đã ghi
nhận hai đợt khủng hoảng lớn, đó là khi các TTCK lớn ở Mỹ, Tây Âu, Bắc Âu, Nhật Bản bị
sụp đổ trong vài giờ vào ngày 29/10/1929 và ngày 19/10/1987. Nhưng cuối cùng, TTCK lại
được phục hồi và tiếp tục phát triển, trở thành một thể chế tài chính không thể thiếu được
trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.
Hiện nay, do các biến động lớn trong nền kinh tế thế giới, do tác động của tiến bộ
khoa học kỹ thuật và với mong muốn của Chính phủ các nước trong việc tăng cường vai trò
của TTCK đối với đời sống kinh tế, TTCK đã được tạo mọi điều kiện phát triển. Các chính
sách của Chính phủ các nước đã góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của TTCK.
1.1.2.2. Khái niệm và bản chất của TTCK
Theo quan niệm đầy đủ và rõ ràng, phù hợp với sự phát triển chung của TTCK hiện
nay, thì TTCK là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán. Chứng
khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có
quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành hoặc quyền sở hữu. Các quyền
yêu cầu này có sự khác giữa các loại chứng khoán, tùy theo tính chất sở hữu của chúng. Các
quan hệ mua bán, trao đổi trên TTCK làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, và như
Thời gian đáo hạn 1 năm t
Như vậy, trên TTCK giao dịch 2 loại công cụ tài chính: công cụ tài chính trên thị
trường vốn và công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ.
Hai là, TTCK là hạt nhân trung tâm của thị trường tài chính, nơi diễn ra quá trình
phát hành, mua bán các công cụ Nợ và công cụ Vốn (các công cụ sở hữu)
Thị trường tiền tệ
…Thị trường vốn……
…………………………………………
……………………………
…………………………………………
……………………………
TTCK
chứng khoán mới phát hành.
Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã phát hành trên thị trường sơ
cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.
- Theo hình thức tổ chức của thị trường, TTCK được phân thành: thị trường tập trung
(SGD chứng khoán) và thị trường phi tập trung (thị trường OTC).
Tại SGD chứng khoán, người mua và người bán (hoặc đại lý, môi giới của họ) gặp
nhau tại một địa điểm nhất định để tiến hành giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán. SGD
chứng khoán được quản lý chặt chẽ bởi Uỷ ban chứng khoán quốc gia, các giao dịch chịu sự
điều chỉnh của Luật chứng khoán và TTCK.
Thị trường giao dịch qua quầy hay thị trường giao dịch phi tập trung (OTC) là thị
trường của các nhà buôn, những người tạo thị trường. Các nhà buôn có một danh mục
chứng khoán và họ sẵn sàng mua và bán với các nhà buôn khác cũng như các NĐT khi
những người này chấp nhận giá cả của họ. Ở thị trường này không có địa điểm giao dịch
chính thức mà có thể diễn ra ở tất cả các quầy, sàn giao dịch của các thành viên thông qua
điện thoại hay mạng máy tính diện rộng.
Ngoài hai loại thị trường nêu trên, người ta còn nói đến thị trường thứ ba, thị trường
tự do dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên thị trường tập trung
và thị trường OTC. Ngoải ra, người ta còn phân loại TTCK thành thị trường đàm phán và
thị trường mở, thị trường giao ngay và thị trường kỳ hạn.
1.2. Đầu tư chứng khoán
1.2.1. Khái quát chung về đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động
nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để
đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết
quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến
hành đầu tư. Nguồn lực phải hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động
Trong hoạt động này, các NĐT mua các chứng khoán theo một danh mục đầu tư rất đa
dạng, bao gồm cả các công cụ trên thị trường tiền tệ và các công cụ trên thị trường vốn.
Mục đích của ĐTCK trước hết là nhằm thu được lợi nhuận từ số tiền đầu tư đã bỏ ra.
Tiếp đến mục đích của ĐTCK là để phân tán rủi ro có thể gặp trong tương lai nhờ đa dạng
hoá các hình thức đầu tư, và để thực hiện quyền kiểm soát hoặc tham gia quản trị DN với tư
cách người nắm cổ phần, vốn góp chi phối. Các mục đích có thể khác nhau tuỳ theo ý định
của từng NĐT, song cũng có thể là tổng hợp các mục tiêu trên trong những tình huống cụ
thể.
1.2.3. Phân loại ĐTCK
Tuỳ theo mục đích quản lý, hoạt động ĐTCK có thể được phân loại theo nhiều cách
khác nhau.
Căn cứ vào loại công cụ đầu tư, có thể phân loại ĐTCK thành đầu tư trái phiếu Chính
phủ, đầu tư trái phiếu DN và đầu tư cổ phiếu. Việc phân loại này có thể giúp các nhà quản
lý xây dựng danh mục đầu tư với mức độ rủi ro phù hợp, trên cơ sở đó, dễ dàng thay đổi kết
cấu danh mục đầu tư.
Nếu phân loại theo mục đích đầu tư, có thể phân loại ĐTCK thành đầu tư nhằm
hưởng lợi tức và đầu tư nhằm nắm quyền quản lý, kiểm soát tổ chức phát hành. Trong hoạt
động đầu tư nhằm hưởng lợi tức, NĐT có thể mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu và cổ
phiếu do DN phát hành. Khi ĐTCK với mục đích nắm quyền sở hữu, NĐT có thể vừa đa
dạng hoá tài sản, vừa phát triển lĩnh vực kinh doanh mới thông qua thâu tóm và sáp nhập.
Việc phân loại này giúp nhà quản lý có thể kiểm soát được hoạt động đầu tư theo các mục
đích đã được xác định.
Căn cứ theo phương thức đầu tư, ĐTCK được phân thành đầu tư trực tiếp và đầu tư
gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là hình thức NĐT trực tiếp mua chứng khoán cho mình thông qua
các nhà môi giới chứng khoán trên thị trường. Đầu tư gián tiếp là hình thức các NĐT chứng
khoán thông qua các định chế, tổ chức đầu tư chuyên nghiệp như Quỹ ĐTCK, Quỹ tín thác
đầu tư…để thực hiện hoạt động đầu tư cho mình.
động lãi suất sẽ làm cho giá trị hiện tại của các khoản thu nhập nhận được từ ĐTCK ở các
thời điểm khác nhau có giá trị khác nhau, do đó ảnh hưởng đến mức doanh lợi thu được của
ĐTCK.
Rủi ro thị trường: là rủi ro do sự biến động của giá cả chứng khoán trên thị trường.
Đó là kết quả của những hiệu ứng về tương quan giữa cung và cầu của các loại chứng khoán
trên thị trường. Nguyên nhân của những biến động giá cả chứng khoán thường rất phức tạp,
có thể cả những sự kiện hữu hình hoặc vô hình, cả những yếu tố bên trong hoặc ngoài DN.
Sự đánh giá khác nhau của các NĐT về mức sinh lời của một loại chứng khoán nào đó được
giao dịch trên thị trường cũng có thể gây nên hiệu ứng dây chuyền (hiệu ứng Đôminô) đối
với giá cả của các loại chứng khoán khác, làm cho giá chứng khoán trên thị trường nói
chung bị sụt giảm.
Rủi ro sức mua (rủi ro lạm phát): là loại rủi ro do giảm sút sức mua của đồng tiền.
NĐT nắm giữ chứng khoán mặc dù có khả năng thu được lợi nhuận trong tương lai nhưng
họ lại mất đi cơ hội mua sắm các loại hàng hoá, dịch vụ trong thời hạn nắm giữ chứng
khoán. Nếu trong khoảng thời gian đó giá cả hàng hoá dịch vụ tăng lên do yếu tố lạm phát,
họ sẽ mất đi một phần sức mua từ số thu nhập có được trong tương lai. Giá trị phần sức mua
bị giảm sút do lạm phát phản ánh mức rủi ro sức mua của NĐT chứng khoán.
Rủi ro tỷ giá: là rủi ro do tác động của tỷ giá đối với khoản đầu tư. Khi NĐT cho
rằng đồng nội tệ có thể bị giảm giá trong tương lai thì NĐT đó sẽ quyết định không đầu tư
vào chứng khoán hoặc sẽ tìm cách thay thế chứng khoán bằng tài sản ngoại tệ vì khi đó giá
trị chứng khoán sẽ bị sụt giảm.
- Rủi ro không hệ thống: là những rủi ro có nguyên nhân từ nội tại của một công ty
hoặc một ngành kinh doanh cụ thể mà không gắn liền với toàn bộ thị trường. Ảnh hưởng
của các rủi ro không hệ thống vì thế chỉ tác động trong phạm vi một công ty, một ngành hay
một số loại chứng khoán nhất định. Rủi ro không hệ thống thường bao gồm các loại như: rủi
ro kinh doanh, rủi ro tài chính, rủi ro quản lý…trong hoạt động của một công ty hoặc một
ngành kinh doanh nhất định.
mặt thì sẽ khuyến khích họ ĐTCK và ngược lại. Do đó tính thanh khoản của chứng khoán
cũng là một yếu tố quan trọng để các NĐT xem xét, lựa chọn.
- Mức độ và khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động của DN. Đôi khi mức độ và khả
năng kiểm soát, chi phối hoạt động của DN cũng là một nhân tố được xét đến khi lựa chọn
quyết định ĐTCK. Quyền hạn và lợi ích của NĐT chứng khoán thường được tăng thêm theo
mức độ nắm giữ cổ phần của DN. Vì vậy, khi ĐTCK họ cũng cần cân nhắc quy mô đầu tư
sao cho có thể đạt được mục đích kiểm soát, chi phối hoạt động của DN, hỗ trợ cho việc
thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
1.2.6. Quy trình ĐTCK
Quy trình ĐTCK sẽ có những sự khác biệt nhất định nếu NĐT chứng khoán lựa chọn
các phương thức ĐTCK khác nhau, về cơ bản bao gồm các bước sau:
- Phân tích và lựa chọn danh mục ĐTCK: Việc ĐTCK thường bắt đầu bằng việc
phân tích và lựa chọn danh mục ĐTCK tối ưu sao cho vừa có thể đem lại tỷ suất sinh lời
cao, đồng thời hạn chế tối đa các rủi ro đầu tư có thể gặp phải. Nội dung phân tích sẽ xem
xét, đánh giá mức độ sinh lời và khả năng rủi ro có thể gặp phải trong ĐTCK sẽ lựa chọn.
Do các chứng khoán có mức sinh lời cao thường gắn với độ rủi ro cao, vì thế đa dạng hoá
danh mục ĐTCK là cách mà các NĐT hay lựa chọn để phân tán rủi ro và tối đa hoá thu
nhập ĐTCK. Hình thức đa dạng hoá ĐTCK có thể là đầu tư vào chứng khoán của nhiều DN
trong các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác nhau, kết hợp giữa đầu tư cổ phiếu và đầu
tư trái phiếu với những kỳ hạn thanh toán đa dạng để tăng khả năng thanh khoản của chứng
khoán. Việc lựa chọn một danh mục ĐTCK cụ thể sẽ tuỳ thuộc vào chiến lược ĐTCK của
từng NĐT riêng biệt.
- Quản lý danh mục ĐTCK: Hoạt động ĐTCK không chỉ dừng lại ở chỗ lựa chọn
được danh mục ĐTCK mà còn ở chỗ quản lý, điều chỉnh danh mục đầu tư trong suốt thời
gian nắm giữ chứng khoán phù hợp với những diễn biến cụ thể của thị trường. Người ta
thường phân biệt thành hai phương pháp quản lý chủ yếu là quản lý thu động và quản lý chủ
động.
quát về tình hình kinh tế vĩ mô cả trong nước và quốc tế, xem xét những ảnh hưởng, tác
động của nó đến hoạt động của các DN và TTCK, sau đó mới đi đến phân tích tình hình của
ngành kinh doanh và cuối cùng là hoạt động của từng DN, công ty riêng biệt. Phương pháp
phân tích chứng khoán từ dưới lên bắt đầu từ phân tích, đánh giá hoạt động kinh doanh của
một công ty cụ thể và đặt nó trong mối liên hệ tương quan giữa hoạt động của công ty với
môi trường kinh doanh bên ngoài là tình hình hoạt động của ngành hoặc nền kinh tế.
Trong hoạt động ĐTCK có hai phương pháp phân tích chủ yếu được sử dụng là
phương pháp PTCB (phân tích tài chính) và phân tích kỹ thuật. PTCB giúp cho NĐT có thể
lựa chọn kết cấu danh mục đầu tư phù hợp. Phân tích kỹ thuật giúp cho các nhà quản lý có
thể lựa chọn được thời điểm và chiến lược mua bán chứng khoán tuỳ theo diễn biến của thị
trường.
1.3.1.Khái niệm và mục tiêu của PTCB
PTCB là phương pháp nghiên cứu các thông tin về tình hình kinh tế xã hội, tình hình
kinh doanh của ngành, các thông tin tài chính công ty như cổ tức, lợi nhuận, báo cáo thu
nhập, bảng cân đối kế toán nhằm xác định một giá trị hợp lý của một loại chứng khoán
hoặc các chứng khoán trên thị trường.
Khi người đầu tư mua một loại chứng khoán trên thị trường sơ cấp hay thị trường thứ
cấp với ý định nắm giữ lâu dài đều muốn biết rằng giá chứng khoán mà người ta chào bán
cho mình có hợp lý hay không, tức là có phù hợp với giá trị của công ty phát hành ra chứng
khoán đó hay không. Muốn vậy, phải tiến hành PTCB để tìm ra giá trị nội tại của chứng
khoán.
1.3.2. Nội dung phương pháp PTCB
1.3.2.1. Phân tích kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của TTCK và hiệu
quả hoạt động của DN, vì thế trước phân tích các yếu tố thuộc bản thân DN, cần đánh giá
đúng các ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài đến hiệu quả hoạt động của TTCK và giá cả
chứng khoán của DN như thế nào. Việc phân tích kinh tế vĩ mô nhằm mục đích đánh giá
DN thống nhất, Luật chống độc quyền sẽ tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các DN
thuộc mọi thành phần kinh tế, và làm giảm giá chứng khoán của các DN thuộc đối tượng
điều chỉnh của Luật chống độc quyền. Luật thâu tóm, sáp nhập công ty có thể tác động tiêu
cực hay tích cực đến một nhóm các công ty. Các chính sách tài chính - tiền tệ trực tiếp gây
tác động lớn tới thị trường
Tóm lại môi trường pháp lý có tác động mạnh mẽ, là điều kiện để nâng cao hiệu quả
hoạt động của DN và sự phát triển của TTCK. Việc phân tích môi trường pháp lý cần được
xem xét trên các mặt như: tính hệ thống, đồng bộ, ổn định, minh bạch, khả thi và hiệu quả
của hệ thống pháp luật cũng như tính quốc tế của hệ thống pháp luật.
- Phân tích và dự đoán về xu hướng thị trường:
Môi trường kinh tế vĩ mô có vai trò quan trọng, quyết định xu thế chung của TTCK.
Thông thường, khi nền kinh tế đang ở giai đoạn tăng trưởng và thịnh vượng thì TTCK phát
triển và ngược lại khi nền kinh tế ở giai đoạn suy giảm, suy thoái và khủng hoảng thì thị
trường sẽ đi xuống. Như vậy, nếu dự đoán được xu hướng phát triển của nền kinh tế thì ta
có thể dự báo được xu thế phát triển chung của TTCK. Tuy nhiên, trong một số hoàn cảnh
đặc biệt, diễn biến chung của TTCK với tình hình kinh tế không phải lúc nào cũng diễn ra
cùng chiều.
Biến động giá cổ phiếu đôi khi xảy ra trước biến động của nền kinh tế. Vì vậy, các
NĐT luôn cố gắng dự đoán tình hình kinh tế để tìm ra những đỉnh điểm của chu kỳ kinh tế
và chọn thời cơ tham gia hoặc rút lui khỏi TTCK.
- Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô:
Các điều kiện kinh tế vĩ mô của nền kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của
DN và TTCK do có liên quan trực tiếp đến mức rủi ro hệ thống trên thị trường. Các yếu tố
vĩ mô cần quan tâm trong phân tích chứng khoán là: tổng sản phẩm quốc nội; tỷ lệ thất
nghiệp; tỷ lệ lạm phát; lãi suất; cân đối thu chi ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, ba nhân tố
vĩ mô cơ bản tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoàn đó là: tỷ
giá hối đoái, lãi suất và tỷ lệ lạm phát.
ro tối thiểu hoặc có thể chấp nhận được. Qui trình phân tích, đánh giá rủi ro của ngành được
tiến hành theo trình tự sau:
+ Xác định hệ số rủi ro (
) của ngành, từ đó tính toán được mức lợi suất đòi hỏi dựa
theo mô hình định giá tài sản vốn (CAPM). Công thức xác định như sau:
E(R) = R
f
+ (R
m
+ R
f
)
Trong đó: E(R): Mức lợi suất đòi hỏi
R
f
: Mức lợi suất phi rủi ro
R
m
: Mức lợi suất bình quân của thị trường
: Hệ số rủi ro ngành
+ Phân tích hệ số P/E của ngành: xem xét mối quan hệ của P/E ngành với P/E tổng
thể của thị trường; xem xét các nhân tố cơ bản của ngành gây tác động trực tiếp tới P/E
ngành như hệ số trả cổ tức, mức sinh lợi (lợi suất) yêu cầu và tỷ lệ tăng trưởng cổ tức.
+ Ước tính thu nhập trên một cổ phiếu (EPS): được xác định theo một số phương
pháp chủ yếu như phân tích chu kỳ kinh doanh, phân tích đầu vào - đầu ra, phân tích mối
quan hệ giữa ngành và nền kinh tế.
là nợ ngắn hạn; tiềm năng phát triển trong tương lai.
Việc phân tích báo cáo tài chính cần tiến hành đồng bộ theo cả chiều dọc và chiều
ngang. Phân tích báo cáo tài chính theo chiều dọc nghĩa là tính toán các tỷ lệ của DN và so
sánh trong từng thời kỳ để thấy được thực chất của việc tăng, giảm. Phân tích theo chiều
ngang là phân tích cần có sự so sánh giữa DN phân tích với các DN ngang hàng nhau trong
cùng một ngành. Phương tiện cơ bản của các báo cáo tài chính công ty là báo cáo thường
niên bao gồm ba loại báo cáo chính đó là: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Các hệ số tài chính được sử dụng khi phân tích,
đánh giá tình hình tài chính của công ty bao gồm: Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh
toán, nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính và cơ cấu tài sản, nhóm chỉ tiêu phản ánh khả
năng hoạt động, và nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi và phân phối lợi nhuận.
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán: xét về mặt thời gian thì DN có các
khoản nợ ngắn hạn, nợ trung và dài hạn. Vấn đề quan tâm hàng đầu của các NĐT, các chủ
nợ là liệu số vốn họ bỏ ra đầu tư có thu hồi lại được không, mức độ rủi ro là bao nhiêu. Các
chỉ tiêu thường được dùng gồm các chỉ tiêu sau:
Hệ số thanh toán tổng quát =
Tổng tài sản
N
ợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Hệ số thanh toán hiện hành =
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
T
ổng nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh =
TSLĐ & đầu tư ngắn hạn - Vật tư hàng hoá tồn kho
T
ổng nợ ngắn hạn
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán
Hàng t
ồn kho bình quân trong kỳ
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần
S
ố d
ư
bình quân các kho
ản phải thu
Vòng quay vốn lưu động =
Doanh thu thuần
V
ốn l
ư
u
đ
ộng bình quân
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Doanh thu thuần
V
ốn cố
đ
ịnh bình quân
u
đ
ãi
Số lượng cổ phiếu thường đang lưu hành
Tỷ lệ giá thị trường trên thu nhập =
Th
ị giá một cổ phiếu
Thu nhập một cổ phiếu
- Phân tích rủi ro của công ty: Khi tiến hành phân tích rủi ro tức là chúng ta tiến
hành xem xét sự bất ổn của tổng thể các dòng thu nhập của công ty. Mức độ biến động của
các dòng thu nhập càng cao có nghĩa rủi ro phải đối diện càng lớn. Rủi ro công ty thường
bao gồm hai loại là: rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.
+ Rủi ro kinh doanh: là sự bất ổn về thu nhập mà nguyên nhân cơ bản của nó lại xuất
phát từ lĩnh vực ngành mà công ty đó trực thuộc. Sự bất ổn này là kết quả của sự thay đổi
doanh số bán hàng của công ty, mà doanh số bán hàng lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
các khách hàng, loại hàng hoá, chất lượng hay cách thức sản xuất hàng hoá…Rủi ro kinh
doanh thường được tính bằng mức độ biến động của thu nhập phát sinh từ hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty.
Rủi ro kinh doanh =
Đ
ộ lệch chuẩn của thu nhập hoạt
đ
ộng
Thu nhập hoạt động bình quân
Bên cạnh việc tính mức độ rủi ro kinh doanh chung, chúng ta cũng cần xem xét hai
yếu tố có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới sự biến động thu nhập hoạt động của công ty,
đó là sự biến động doanh số bán hàng và đòn bẩy hoạt động.