A.LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán (TTCK) được xem là đặc chưng cơ bản,là biểu
tượng của nền kinh tế hiện dại.Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế,phù
hợp với các diều kiện kinh tế chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế nhà nước ta xác định TTCK là một công cụ rất quan trọng trong
việc huy động vôn cho công cuôc công nghiệp hóa ,hiện đại hóa đất nước.Sau 6
năm hoạt động và phát triển TTCK Việt Nam với những thành tưu đạt đựợc đầy
ấn tượng đã là một minh chứng cho sự chuyển đổi thành công sang nền kinh tế
thị trường của Việt Nam.Một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy vảo sự
phát triển của TTCK đó là sự sôi động của hoạt động đầu tư trên TTCK .Đây là
hình thức đầu tư còn khá mới mẻ dối với nhà đầu tư Việt Nam.Với mong muốn
có cái nhìn tổng quan và rõ ràng về hinh thức đầu tư này tôi đã chọn đề tài : “
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHỦ YẾU VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHÚNG KHOÁN
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2006 “.
Ngoài lời mở đầu và kết luận,nội dung đề án gồm 3 phần:
Phần I : Hoạt động đầu tư chứng khoán ở việt nam giai đoạn 2000-2006
Phần II : Một số kiến nghị về giải pháp nhằm phát triển hoạt động đầu tư
chứng khoán ở Việt Nam.
PHẦN I: HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2000-2006.
I. Tổng quan về TTCK ỏ Việt Nam
1. Một số khái niệm
1.1Chứng khoán
1.1.1/Khái niệm
1
Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng,
xác định số vốn đầu tư ( tư bản ban đầu); chứng khoán xác nhận quyền sở hữu
hoặc quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong
một thời gian nào đó.
1.1.2/Đặc điểm của chứng khoán
Chứng khoán là một tài sản tài chính có các đặc điểm cơ bản sau:
nhượng và theo khả năng thu nhập
-Phân loại chứng khoán theo tính chất : các loại chứng khoán được phân
thành :
Chứng khoán vốn
Chứng khoán nợ
Các chứng khoán phái sinh
-Phân loại chứng khoán theo khả năng chuyển nhượng
Chứng khoán vô danh
Chứng khoán ký danh
-Phân loại chứng khoán theo khả năng thu nhập
Chứng khoán có lợi tức ổn định
Chứng khoán có lợi tức không ổn định
1.2Thị trường chứng khoán
1.2.1/Khái niệm
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi,
chuyển nhượng các loại chứng khoán nhằm mục đích kiểm lời.
Các giao dịch có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp ( Primary Market) hay
thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại Sở giao dịch (Stock Exchange) hay
thị trường chứng khoán phi tập trung (Over The Counter Market), ở thị trường
3
trao ngay (Spot Market) hay thị trường có kỳ hạn (Future Market). Các quan hệ
mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, và như vậy,
thực chất đây chính là quá trình vận động của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu
sang tư bản kinh doanh.
Thị trường chứng khoán không giống với thị trường các hàng hoá thông
thường khác vì hàng hoá của thị trường chứng khoán là một loại hàng hoá đặc
biệt, là sở hữu về tư bản. Loại hàng hóa này cũng có giá trị và giá trị sử dụng.
Như vậy, có thể nói, bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện
mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của chứng
khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư. Thị trường
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán.
Nhờ TTCK, khả năng thanh khoản của các chứng khoán được nâng cao,
điều này làm tăng tính hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư, tạo tính linh
hoạt và an toàn của vốn đầu tư. Nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán
sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn.
Là công cụ để Nhà nước thực hiện chương trình phát triển KT-XH
Nhà nước nào cũng có nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế. Ngân
sách Nhà nước càng lớn thì chương trình phát triển kinh tế-xã hội càng dễ thành
công. Nguồn thu chủ yếu của Ngân sách là thuế. Muốn có nguồn thu thuế dồi
dào cần phải khuyến khích thành lập nhiều doanh nghiệp và mở rộng quy mô
doanh nghiệp. Vốn của TTCK là tiền đề cơ bản cho sự nghiệp trên. Đây là chính
sách bồi dưỡng nguồn thu cho Ngân sách. Trong thời gian ngân sách không đủ
để chi tiêu thì nguồn thu khác là phát hành chứng khoán: trái phiếu kho bạc, trái
5
phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương…Tính thanh khoản của
TTCK sẽ giúp cho việc phát hành các công cụ tài chính này được dễ dàng hơn.
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn.
Để huy động vốn thông qua TTCK bằng việc phát hành chứng khoán,
doanh nghiệp phải đáp ứng được các điều kiện như: kinh doanh hợp pháp, tài
chính lành mạnh, có doanh lợi… và với sự tự do lựa chọn của người đầu tư, để
bán được chứng khoán không có cách nào khác là những nhà quản lý doanh
nghiệp phải tính toán, làm an đàng hoàng và có hiệu quả.
Góp phần đánh giá đúng đắn doanh nghiệp, dự đoán tương lai.
Các doanh nghiệp có chứng khoán niêm yết bắt buộc phải cung cấp định
kỳ các thông tin về tình hình hoạt động, điều này cho phép các nhà đầu tư có
một cách nhìn chính xác về doanh nghiệp đó, giúp họ đánh giá và so sánh hoạt
động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện. Đồng thời, sự hình
thành thị giá chứng khoán của doanh nghiệp niêm yết trên TTCK cũng đã bao
hàm sự đánh giá thực trạng của doanh nghiệp đó ở hiện tại và dự đoán trong
tương lai. Từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu
khoán này trong một thời gian dài với kỳ vọng vào các dự án đầu tư của công ty
sẽ mang lại cho họ một tỷ suất sinh lời cao trong tương lai, dẫn đến sự gia tăng
giá trị của doanh nghiệp và cũng có nghĩa là làm cho số vốn nhà đầu tư bỏ vào
công ty tăng lên theo. Thật ra khi nhà đầu tư bỏ vốn của mình vào một công ty,
cũng đồng nghĩa là họ mua tương lai của công ty đó. Người đầu tư đặt niềm tin
vào đội ngũ quản lý điều hành công ty với hi vọng họ sẽ đem lại lợi nhuận cho
mình. Như vậy, một nhà đầu tư thực thụ chỉ quan tâm đến tỷ suất lợi nhuận cao,
có tính chất ổn định trong một thời gian dài.
7
Nhà đầu cơ là những người mua bán chứng khoán để tìm kiểm lợi nhuận
từ sự chờ đợi chênh lệch giá chứng khoán qua những lần mua di bán lại trên
TTCK. Các nhà đầu cơ không hề có ý định nắm giữ chứng khoán trong một thời
gian dài để mong đợi sẽ nhận được một tỷ suất sinh lời cao do chứng khoán đó
mang lại, mà họ chỉ quan tâm đến việc mua vào bao nhiêu, bán ra bao nhiêu và
lãi được bao nhiêu sau lần mua bán này. Vì vậy, những người đầu cơ chỉ quan
tâm khai thác các thông tin có tính chất nhất thời, liên quan và ảnh hưởng đến
hoạt động của công ty, họ sẽ nỗ lực phân tích, thẩm định, dự đoán những khả
năng gây tăng giá hoặc giảm giá chứng khoán trong thời gian ngắn để đưa ra
quyết định mua sau bán trước. Như vậy, nhà đầu cơ tìm kiểm cơ hội sinh lợi lớn
trong một thời gian ngắn, và dĩ nhiên họ quan tâm nhiều đến tỷ suất lợi nhuận
cao, ở tính chất bất thường.
Đôi khi trong thực tế, một người mua chứng khoán với mục đích ban
đầu là đầu tư, nhưng do giá chứng khoán họ đang nắm giữ lại lên giá hoặc sụt
giá một cách nhanh chóng khiến họ phải quyết định bán đi các chứng khoán
mình đang nắm giữ nhằm kiểm lời từ sự chênh lệch giá mua bán, hoặc bán đi để
hạn chế rủi ro khi giá xuống, và vô tình, họ đã trở thành một nhà đầu cơ chứng
khoán tạm thời. Như vậy, để phân biệt giữa đầu tư và đầu cơ, cần phải xem xét
vào từng trường hợp cụ thể. Trên thực tế, chúng ta có thể dựa vào một số tiêu
chí sau để phân biệt giữa hoạt động đầu tư và đầu cơ:
-Mục đích của nhà đầu tư: một loại chứng khoán có thể được mua với
mong manh giữa đầu tư và đầu cơ chứng khoán. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế
ở các TTCK cho thấy, các nhà đầu cơ thường không hoạt động đơn độc, nhất là
các nhà đầu cơ lớn, như nhà tài phiệt G.Soros. Các nhà đầu cơ có thể gây ra
những tác động tiêu cực cho hoạt động của TTCK nói riêng và nền kinh tế nói
9
chung khi họ kết hợp với nhau tạo ra các cơn sốt giá giả tạo trên thị trường nhằm
mục đích thu lợi nhuận cao. Vì vậy chúng ta cũng cần phải có các biện pháp để
ngăn chặn hành vi này.
-Bên cạnh những mặt mang tính trục lợi phần nào tiềm ẩn các hành vi
bất hợp pháp, chúng ta có thể nói nhà đầu cơ cũng có vai trò tích cực làm cho
hoạt động của TTCK có tính thanh khoản cao, hoạt động giao dịch trên trên thị
trường thêm phần sôi động. Chẳng hạn ngay khi nền kinh tế Malaysia khủng
hoảng hai năm về trước, Thủ tướng nước này ông Mahathir Mohamed cũng đã
nói “ Chúng tôi mời đón những nhà đầu tư nước ngoài, thậm chí chúng tôi đón
cả các nhà đầu cơ…”. Còn cựu Bộ trưởng Bộ tài chính Hoa Kỳ, ông Robert
Rubin đã nói về vai trò của nhà đầu cơ trong TTCK: “ Sự đầu cơ là một phần
quan trọng trong toàn thể hoạt động của thị trường thứ cấp, nhà đầu cơ làm cho
thị trường tiền tệ mạnh hơn, hoạt động hơn và giảm được phí mua bán”.
-Như vậy có thể khẳng định vai trò của nhà đầu cơ trong TTCK là rất
quan trọng. Họ là những người dám bỏ tiền ra mua chứng khoán khi có nhiều
người bán mà không có người mua. Và ngược lại, họ cũng sẵn sàng bán khi có
người cần mua nhưng không có người bán. Chính họ, bằng kinh nghiệm, óc kinh
doanh và tiền bạc của mình, họ đã giúp cho hoạt động của thị trường không bị
gián đoạn. Những người đầu cơ luôn chấp nhận rủi ro khi tham gia vào cuộc
chơi.
-Đầu tư và đầu cơ- là hoạt động thường xuyên và liên tục diễn ra trên
TTCK. Có thể nói, trong hoạt động đầu tư đã nhen nhóm những yếu tố mang
tính chất đầu cơ và ngay trong đầu cơ cũng có nhân tố của đầu tư. Thực tiễn hoạt
động của TTCK có rất nhiều ví dụ sinh động về mối liên hệ hết sức chặt chẽ
cũng như ranh giới mỏng manh giữa đầu tư và đầu cơ. Điều quan trong là TTCK
đến hai vấn đề lợi tức và rủi ro.Phân tích và đánh giá rủi ro là một cấu thành
không thể thiếu được trong việc ra quyết định đầu tư chứng khoán.
1.3.3.2/ Công bố thông tin tuyên truyền
Vấn đề công bố thông tin công khai là một trong những nguyên tắc cơ
bản mà các công ty niêm yết trên TTCK phải tuân thủ. Đây là điều hết sức cần
thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đầu tư, giúp cho các nhà
đầu tư có đầy đủ thông tin cần thiết để “chọn mặt gửi vàng”. Nguyên tắc này,
mọi thông tin có liên quan đến tổ chức có chứng khoán niêm yết trên thị trường
cũng như liên quan đến thị trường đều phải được công bố công khai, kịp thời và
chính xác. Hiện nay việc công bố thông tin bao gồm :
Công bố thông tin định kỳ: Định kỳ hàng năm, bán niên hoặc hàng quý
tổ chức niêm yết phải gửi các báo cáo tài chính lên TTGDCK ( trong đó báo cáo
tài chính hàng năm phải được kiểm toán).
Công bố thông tin tức thời : Khi có các sự kiện xảy ra ảnh hưởng tới
hoạt động của tổ chức niêm yết ( theo quy định của UBCKNN) thì tổ chức niêm
yết phải công bố ra công chúng.
Công bố thông tin theo yêu cầu : Trong trường hợp cần thiết để bảo vệ
quyền lợi cho người đầu tư UBCKNN, TTGDCK có quyền yêu cầu các tổ chức
niêm yết phải công bố các thông tin liên quan.
1.3.3.3/ Tính thanh khoản của chứng khoán
Chất lượng của một chứng khoán phụ thuộc vào mục tiêu hàng đầu của
tính thanh khoản. Một cổ phiếu có tính thanh khoản cao nếu nhà đầu tư có thể
bán một số lượng cổ phiếu mà chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng trên
TTCK dễ dàng. Đây cũng là sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như các
nhà đầu tư. Khả năng tạo tính thanh khoản nhanh của TTCK cho mọi người
nhận thấy không cần phải tồn quỹ. Tính thanh khoản của chứng khoán đóng một
vai trò hết sức quan trọng đối với sự thất bại hay thành công của thị trường đó,
12
một thị trường có tính thanh khoản tốt sẽ tạo ra cho thị trường tính năng động
hơn. Về cơ bản tính thanh khoản có thể áp dụng cho mọi loại công cụ giao dịch
hoạt động sẽ thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng và các doanh nghiệp.
Trên thực tế, thị trường chứng khoán (TTCK) là một môi trường kinh tế có tính
xã hội hoá cao độ, sự tham gia của đông đảo các doanh nghiệp, các nhà đầu tư
cá nhân và tổ chức có ý nghĩa quyết định sự thành công của thị trường. Tuy
nhiên, tham gia vào hoạt động TTCK, các nhà đầu tư cần phải biết rõ những lợi
ích và rủi ro của loại hình hoạt động thị trường này.
2.1.Lợi ích trong đầu tư chứng khoán
Đầu tư là quá trình nhà đầu tư mang vốn của mình sử dụng vào mục
đích nhất định nhằm thu được một khoản tiền lớn hơn, và đầu tư chứng khoán
cũng không nằm ngoài mục đích đó. So với các loại hình đầu tư khác, đầu tư
chứng khoán có những ưu việt hơn, được thể hiện qua một số mặt chủ yếu :
Thứ nhất, tạo thêm kênh huy động vốn đầu tư trung và dài hạn cho nền
kinh tế. Khi các nhà đầu tu mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền
nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp
phần mở rộng sản xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công
ty, TTCK đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng
huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng
kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
Thứ hai, chuyển vốn từ lĩnh vực, ngành, công ty này sang lĩnh vực,
ngành, công ty khác một cách dễ dàng. Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể bán
chứng khoán khi họ thấy chứng khoán của công ty đó, ngành đó hay lĩnh vực đó
đem lại cho họ khoản lợi nhuận lớn hơn. Đây là yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư và
14
cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư khi đầu tư vào chứng khoán, và
đó cũng là tính ưu việt nổi bật nhất của TTCK. TTCK hoạt động càng sôi động
và càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng nâng cao khả năng chuyển đổi của các
chứng khoán giao dịch trên thị trường bấy nhiêu.
Thứ ba, TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành
mạnh với các cơ hội lựa chọn đầu tư phong phú nhờ sự đa dạng về chứng khoán.
tiến sản phẩm. Đồng thời, cũng dựa theo sự tăng lên hay giảm xuống của giá
chứng khoán, cho chúng ta biết đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng
hay cho biết các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là
phong vũ biểu của nền kinh tế và nhờ có tính chất này, nó trở thành một trong
những công cụ quan trong giúp Chính phủ nhìn nhận nền kinh tế một cách đúng
đắn; từ đó đưa ra các giải pháp điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô sao cho
phù hợp, cân đối giữa các ngành, lĩnh vực…
Mặt khác, trong thời gian đầu, khi TTCK mới đi vào hoạt động Chính
phủ đã có những chính sách ưu đãi trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán ( Quyết
định số 39/TTg của Thủ tướng chính phủ vào cuối tháng 3/2000 đã quy định
những ưu đãi đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán). Theo đó, các công ty
chứng khoán ( CtyCK), Công ty quản lý quỹ, Tổ chức phát hành có chứng
khoán được niêm yết và các cá nhân đầu tư chứng khoán được tạm thời hưởng
ưu đãi về thuế. Nhà nước tạm thời không thu thuế giá trị gia tăng của CtyCK
trong thời gian 3 năm. CtyCK và Công ty quản lý quỹ còn được miễn thuế thu
nhập doanh nghiệp thêm một năm, giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp
phải nộp trong 2 năm tiếp theo. Tổ chức phát hành có chứng khoán được niêm
yết đuợc giảm 50% số thuế thu nhập phải nộp trong 2 năm tiếp theo, kể từ khi
niêm yết chứng khoán lần đầu tại TTGDCK. Các cá nhân đầu tư chứng khoán
16
được miễn thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao cho phần thu nhập từ cổ
tức, lãi trái phiếu, chênh lệch mua bán chứng khoán.
Như vậy đối với các nhà đầu tư, bước đầu cho thấy việc đầu tư vào
chứng khoán sẽ hấp dẫn hơn so với việc gửi tiền vào ngân hàng. Và cũng là tiền
để thêm phần thúc đẩy việc tham gia hoạt động trên TTCK đối với các doanh
nghiệp. Tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước điều hành, quản lý TTCK như
một công cụ điều tiết sự phát triển của nền kinh tế một cách lành mạnh.
2.2.Rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Bên cạnh những lợi ích, TTCK vẫn luôn tiềm ẩn những khả năng rủi ro.
Rủi ro ở đây là những nguyên nhân chính khiến cho các dự định kế hoạch của
thuộc nhu cầu của nhà đầu tư.
Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và số
tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là dao động trong mức lãi suất
chung.
Các nhà đầu tư thường coi trái phiếu Chính phủ là không có rủi ro. Lãi
suất của trái phiếu Chính phủ được xem như là lãi suất chuẩn, là mức phí vay
vốn không rủi ro. Những thay đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh
hưởng tới toàn bộ hệ thống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến các loại cổ phiếu
rủi ro nhất. Việc tăng lên của lãi suất chuẩn làm giá cả của các loại chứng khoán
khác giảm xuống. Tương tự, lãi suất chuẩn giảm lại làm cho giá của các loại
chứng khoán tăng lên.
18
Ngoài ảnh hưởng trực tiếp đối với giá chứng khoán, lãi suất chuẩn còn
có ảnh hưởng gián tiếp đến giá cổ phiếu thường do rất nhiều công ty kinh doanh
chủ yếu bằng vốn đi vay. Ví dụ các tổ chức tài chính tham gia vào các hoạt động
cho vay khi lãi suất tăng, các công ty vay nợ nhiều sẽ phải trích từ thu nhập của
mình nhiều hơn để trả lãi, dẫn đến sự sút giảm thu nhập, cổ tức và giá cổ phiếu,
một phần làm hoạt động của TTCK bị ngưng trệ. Tuy nhiên, việc tăng lãi suất
lại mang đến thu nhập cao hơn cho những người cho vay (tổ chức tài chính) do
nguồn thu chính của họ là lãi thu được từ các khoản cho vay. Đối với những
công ty cho vay này, thu nhập tăng lại làm cho cổ tức và giá cổ phiếu của nó
tăng.
Rủi ro về lạm phát
Khi lãi suất đầu tư vào chứng khoán thấp hơn tỷ lệ lạm phát, tiền của
nhà đầu tư sẽ bị mất dần giá trị theo thời gian. Ví dụ, trong điều kiện lạm phát,
nếu nhà đầu tư bây giờ bỏ một số tiền X để mua Y trái phiếu, khi đáo hạn số tiền
thu được sẽ không còn đủ để mua Y trái phiếu tương đương.
Mặt khác, giá cả chứng khoán được thể hiện bằng tiền nên những biến
động tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến giá cả chứng khoán. Lạm phát làm cho sức mua
như phá giá). Để tránh loại rủi ro này có thể chuyển nó cho đối tác khác gánh
chịu thông qua nghiệp vụ hoán đổi tỷ giá (SWAP), nghiệp vụ này cũng có
những đặc điểm tương tự như nghiệp vụ hoán đổi lãi suất. Rủi ro tỷ giá cũng có
thể tránh được bằng cách chỉ cho vay tiền mà khách hàng nắm giữ. Bên cạnh đó,
người đi vay cũng có thể tránh được rủi ro tỷ giá bằng cách ký hợp đồng vay có
cùng loại tiền với hợp đồng xuất khẩu. Ngoài ra người bảo lãnh thường chấp
nhận rủi ro tỷ giá trong thanh toán. Những người bảo lãnh như vậy thường là các
Chính phủ hoặc các chủ thể đại diện Chính phủ ( thường là Bộ Tài chính hoặc
20
Ngân hàng Trung ương), trường hợp này thường xảy ra đối với đấu thầu xuất
khẩu tín dụng.
Tuy nhiên, đối với hầu hết các nhà đầu tư tài chính thì mục tiêu quan
trọng nhất là xác định được mức độ rủi ro của các hạng mục đầu tư, và như vậy
việc đưa các loại rủi ro về cùng một nhóm để tiện theo dõi là rất cần thiết. Biện
pháp thường được sử dụng mà lý thuyết thị trường vốn đã áp dụng, đó là đã sử
dụng độ nhạy cảm về giá của các cổ phiếu đơn lẻ đối với những chỉ số giá của
toàn bộ thị trường cổ phiếu ( vì vậy, rủi ro này được gọi là rủi ro thị trường hay
rủi ro hệ thống). Hệ số nhạy cảm đó được gọi là β; nếu hệ số β càng lớn thì rủi
ro của cổ phiếu đó càng lớn. Ngoài ra, giá mỗi cổ phiếu đơn lẻ cũng có thể dao
động chệch khỏi chỉ số trung bình của β theo thời gian bởi những yếu tố đặc
trưng của công ty. Vì vậy loại rủi ro này được gọi là rủi ro cá biệt hay rủi ro phi
hệ thống; hệ số đo lường rủi ro các biệt trong lý thuyết thị trường vốn thường
được gọi là α.
Rủi ro không hệ thống:
Rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh xuất phát từ tình trạng hoạt động của công ty, khi có
những thay đổi trong tình trạng này công ty có thể sẽ bị sút giảm lợi nhuận và cổ
tức. Rủi ro kinh doanh có thể chia làm hai loại cơ bản : bên ngoài và nội tại. Rủi
ro kinh doanh nội tại phát sinh trong quá trình vận hành hoạt động của công ty.
Mỗi công ty có một loại rủi ro nội tại riêng và mức độ thành công của mỗi công
thống giao dịch các chứng từ. Việc luân chuyển, kiểm tra và lưu thông khối
lượng lớn chứng chỉ các chứng khoán hàng ngày rất phức tạp, tốn kém về thời
gian và chi phí giao dịch.Chỉ một sai sót nhỏ trong kiểm tra chứng từ cũng có
thể ảnh hưởng đến kết quả giao dịch của toàn bộ hệ thống. Trong thanh toán
22
cũng phát sinh rủi ro thanh toán khi một bên giao chứng khoán hoặc giao tiền
nhưng không nhận được tiền hoặc chứng khoán. Rủi ro khi trái phiếu bị mua lại
trước khi thời gian đáo hạn, khi đó nhà đầu tư khôg thể tái đầu tư vốn ở cùng
mức lợi nhuận hoặc cao hơn. Khi lãi suất giảm, trái phiếu có lãi suất cao hơn
thường được mua lại, vì thế nhà đầu tư bị mất khoản thu nhập chắc chắn của
mình.
Mặc dù việc đầu tư vào chứng khoán luôn tiềm ẩn những khả năng rủi
ro nhưng không thể phủ nhận được những lợi ích mà TTCK mang lại. Nên cân
nhắc, xem xét đầy đủ cả hai vấn đề lợi ích và rủi ro để ra quyết định thích hợp.
Bên cạnh đó, cùng với sự quan tâm và hiểu biết của công chúng đầu tư đến lĩnh
vực chứng khoán, sự ra đời và hoạt động của các TTGDCK sẽ tạo môi trường
tốt cho hoạt động đầu tư chứng khoán tại Việt Nam.
Rủi ro dự án
Rủi ro này xuất hiện khi việc tài trợ dự án một cách thuần tuý xảy ra.
Tức là, khi một người cho vay cung cấp vốn cho dự án dưới dạng vốn vay hoặc
mua trái phiếu công trình chỉ có thể nhận lại vốn cũng như lãi của khoản vay
này bằng thu nhập thuần tuý của dự án. Như vậy, vốn cho vay hoàn toàn phụ
thuộc vào sự thành công của dự án hơn nữa cũng không có bất cứ sự trông cậy
nào đối với bất cứ nguồn tài chính nào từ bên ngoài dự án. Tất nhiên, khi có
được một sự bảo lãnh từ bên ngoài thì trung tâm của rủi ro sẽ được chuyển đến
người bảo lãnh. Chẳng hạn, tại các nước đang phát triển mà đặc biệt là tại Việt
Nam khi một dự án được bảo lãnh bởi Chính phủ thì thay vì phải đối mặt với rủi
ro dự án khi đó các nhà đầu lại phải đối mặt với một loại rui ro khác đó là rủi ro
lãnh thổ.
Bảng:Rủi ro và lợi ích của bốn loại chứng khoán đối với người đầu tư
dụng
Thay đổi Cao Có
Sau cổ đông
ưu đãi
Quỹ hỗ tương
đầu tư
Từ vừa phải
đến cao
Không áp
dụng
Thay đổi Cao Không
Không áp
dụng
II. Thực trạng hoạt động ĐTCK ở Việt Nam giai đoạn 2000-2006.
1. Sự hình thành và phát triển TTCK ở Việt Nam
Ngày 28/11/1996 Chính Phủ ban hành Nghị định số 75/CP thành lập Ủy
ban chứng khoán nhà nước (UBCKNN) là cơ quan thuộc chính phủ quản lý các
hoạt động về chứng khoán và TTCK ở Việt Nam.
UBCKNN chính thức đi vào hoạt động vào tháng 4 năm 1997,dưới sự
chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ,đã khẩn trương phối hợp với các bộ nghành xây
dựng khuôn khổ pháp lý, hàng hóa, vật chất, nguồn nhân lực cho sự ra đời và
hoạt động của TTCK Việt Nam.Ngày 11/7/1998, Nghị định số 48/1998/ND-CP
của chính phủ về chứng khoán và TTCK và quyết định số 127/1998/QD-TT của
Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập 2 trung tâm GDCK ở Hà Nội và TP.
HCM được ban hành.Trên cơ sở đó, UBCKNN và các bộ nghành có liên quan
đã tiến hành xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện tạo ra khuôn khổ pháp lý
đồng bộ cho việc hình thành và hoạt động củaTTCK Việt Nam.
24
Ngày 20/7/2000, trung tâm GDCK TP. HCM chính thức khai trưong và
đi vào hoạt động với chức năng chủ yếu tổ chức giao dịch cổ phiếu, trái phiếu đủ