TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH TÉ VÀ KINH
DOANH
QUỐC
TÉ
CHUYÊN NGÀNH KINH TÉ
ĐỐI
NGOẠI
íoCữos
KHÓA
LUẬN
TÓT
NGHIỆP
Đề
tài:
PHÂN TÍCH
KỸ THUẬT
TRONG
ĐẦU TƯ
CHỨNG
KHOÁN TẠI VIỆT
NAM
Sinh
viên
thực
DANH
MỤC CHỮ
VIÉT
TẮT
PTKT
Phân
tích
kỹ
thuật
NĐT
Nhà
đầu
tư
SGDCK
Sờ
giao
dịch chứng
khoán
UBCKNN
ủy
ban
chứng
khoán nhà nước
CTCK
Công
ty
chứng
khoán
TTGDCK
Trung
ĐÀU
Tư CHỬNG
KHOÁN
VÀ
PHÂN TÍCH
KỸ
THUẬT
TRONG
ĐÀU
Tư CHỨNG
KHOÁN
3
1.
Khái quát
chung
về
đầu tư
chứng
khoán
3
1.1
Kiến thức
cơ
bản
trong
đấu
lư
chứng khoán
3
1.2 Các
giả
định
cơ
sở
8
2.1.3
Lịch
sử
hình thành
phân
tích
kỹ
thuật
10
2.2
Lý
thuyết
Dow 11
2.3
Sóng
Elliott
15
2.4
Các
công
cụ cơ
bản
trong
phân
tích
so
hình
mẫu
kỹ
thuật
(Chan
Patterns)
28
2.4.5
Các
chi số kỹ
thuật
30
2.4.6
Fibonacci
39
CHƯƠNG
II:ứng
dụng
phân tích kỹ
thuật
trong
đầu tư
chứng
khoán
tại Việt
Nam
41
l.Tỗng
quan
44
1.2
Phân
tích
tâm
lý
nhà đầu
tư
Việt
Nam 44
2.
ứng
dụng
phân tích kỹ
thuật
vào
thị
trường
chứng
khoán
Việt
Nam 47
3.
Đánh
giá ưu
nhược
điểm
của phân tích
kỹ
thuật trong
thị
trường
chứng
khoán
75
1.1
Mục
tiêu tổng quát
75
1.2.
Mục
tiêu
cụ
thể
75
2.
Một
số
đề
xuất
giải
pháp để ứng
dụng
hiệu
quả phân tích kỹ
thuật trong
đầu
tư
chứng
khoán
rộng theo
hướng
minh bạch,
đồng
bộ và
thống nhất
phù
hợp
với
chuứn
mực
quốc tế.
79
2.1.3
Hoàn
thiện
thị
trường giao dịch
cổ
phiếu công
ty đại
chúng
chưa
niêm
yết(UpCoM)
go
2.1.4
Tăng
cưởng công
tác
2.2.
Ì
Biên
độ
giao động
giá
phù hợp
85
2.2.2
Áp
dụng khớp
lệnh liên
tục
và kéo
dài
thời gian giao dịch trên
sàn
HoSE
có
hiệu
quá
86
2.2.3. Giải pháp tăng cường giao dịch
TTCK
và
thanh toán
87
2.2.4
Giải pháp
tăng cung
thiếu
trong
đầu tư
chứng
khoán.
Tùy
theo
khả năng trình
độ,
thời
gian
cũng
như nhu cầu sử
dụng,
có
thể
có
rất
nhiều
cách
tiếp
cận nghiên
cứu,
phân tích và
ra
các
quyết
định đầu tư khác
nhau
đôi
thuật
là
việc
nghiên cứu hành
vi
của
thị
trường dựa vào
việc
sử
dụng
biểu
đồ nhằm mục đích dự đoán xu
hướng
giá của
chứng
khoán
trong
tương
lai.
Ưu
điểm
của phân tích kỹ
thuật
là có
thể
ứng
dụng
trong
bất
lớn
thiếu
kiến
thức
về phân tích
chứng
khoán
nói
chung
và
PTKT
nói
riêng,
đầu tư
chứng
khoán
theo
tâm lý đám đông
khiến
cho
việc
ra
quyết
định đầu tư còn
nhiều
hạn
chế.
Trong
tinh
hình phát
pháp
trong việc
ứng
dụng
phương pháp phân tích kỹ
thuật
này sẽ đem
lại
những
hiệu
quả
thực
tiễn
trong
đầu
tư
chứng
khoán trên
thị
trường
chứng
khoán
Việt
Nam.
2.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu cùa đề
tài
là trên cơ sờ ứng
dụng
và phạm
vi
nghiên cứu
Đối
tượng
nghiên cứu
của
đề
tài là
giá
của
các cổ
phiếu với
công cụ cơ bản
là
các hình mờu kỹ
thuật,
biểu đồ,
đường
xu
hướng,
kênh xu
thế.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
của
đề
tài là
thống
kê,
luận
được
chia
thành 3 chương:
Chương
ì:
Khái quát về đầu tư
chứng
khoán và phân tích kỹ
thuật trong
đầu
tư chứng
khoán
Chương
li:
ứng
dụng
phân tích kỹ
thuật trong
đầu tư
chứng
khoán
tại
Việt
Nam
Chương
IU:
Một số đề
xuất
để ứng
Thương) đã giúp đỡ để
người
viết
hoàn thành
tốt
bài khóa
luận tốt
nghiệp
này.
Do còn
hạn chế về
mặt
thời
gian
và
kiến thức,
khóa
luận
này không
thể
tránh
khỏi
những
thiếu
sót.Vi
vậy,
người
viết
rất
mong
TƯ CHỨNG
KHOÁN
1.
Khái
quát
chung
về
đầu
tư
chứng khoán
1.1
Kiến thức
cơ
bàn
trong
đầu
tư
chứng khoán
Chứng khoán là
chứng
chì
hoặc
bút toán
ghi
sổ,xác
nhận
các
quyền
và
lợi
chỉ
do
công
ty
cổ
phần
phát hành xác
nhận quyền
sờ hữu
cổ phần
cùa
người
nửm
giữ
cổ
phiếu trong
công
ty. Hiện
nay
trên
Sờ
giao
dịch
chứng
khoán,cổ
phiếu
phần
lớn tồn
tại
dưới
già cổ
phiếu.
Trái
phiếu
là
chứng
khoán
xác
nhận nghĩa
vụ
trả
nợ
của tồ
chức
phát hành
trái
phiếu.Trái
phiếu
bao
gồm
trái
phiếu
công
ty
và
trái
phiếu
chính phủ.
Thị
trường
tập
trung
và
phi
tập
trung.TTCK tập
trung
điển
hình là
Sờ
giao
dịch chứng
khoán
(Stock exchange).Tại
Sở
giao
dịch chứng
khoán (SGDCK), các
giao
dịch
được
tập
trung
tại
một địa
điểm,
các
lệnh
được
chuyển
các
giao
dịch
được
tiến
hành
qua
mạng
lưới
các
công ty
chứng
khoán.Giá trên
thị
trường
này
được hình thành
theo
phương
thức thỏa
thuận.Thị
trường
chứng
khoán
có các
chức
năng
như
huy động vốn đầu
tư
vĩ mô.
3
Nhà đầu
tư
là
cá
nhân
trong
xã
hội
có
nguồn
vốn
tiết
kiệm
nhàn ròi muôn
đầu
tư để có
lợi
nhuận cao
hơn
là lãi
suất
tiền
gửi
ngân hàng.Nhà đầu tư
cũng
được
hiểu
là những
quỹ đầu
tư, việc
đóng
tiền
vào
quỹ
bảo
hiểm,
quỹ hưu
trí
dài hạn.
Do
tính
chất
chuyên
môn
cao
của
việc
mua
bán
giao
dịch chứng
khoán.việc
đầu
tư vào
TTCK,
tức
là
giao
ty
quản lý
quỹ đầu
tư)
đế nhờ các
tổ
chức
chuyên
nghiệp
này
thực hiện việc giao
dịch
thay
cho
mình.Việc
ủy
nhiệm
để nhà
đầu
tư
thông qua
các
công
ty chứng
khoán
mua bán
chứng
khoán được
thể hiện
bằng
cùa
mỗi công
ty
chứng
khoán,
nói
chung
đều được
hường
các
quyền
lợi
chung
theo
quy định của
pháp
luật
về chứng
khoán và
thị
trường
chứng
khoán.
Theo
quy chế
tổ chức
và
hoạt
động của
CTCK
của
khách
hàng,
bao
gồm
cổ
tức,
lãi
suất
trái
phiếu,
cồ
phiếu
thường,
thực hiện
các
quyền
hợp pháp
của
người
sờ hữu
CK như
quyền
biểu
quyết
của
cổ
đông,
quyền của chủ sờ
hữu
thực hiện,
yêu
cầu
rút
tiền
khỏi
tài
khoán,
và
chấm
dứt
hợp đồng
hoặc chuyển
một
phần
tiền
sang
tài khoản của
khách hàng
tại
CTCK
khác.
Quy
trình giao dịch
Toàn bộ quy
trinh
này được
tiến
hành
theo
dịch chứng
khoán để
nhập
vào hệ
thống
giao
dịch
cùa
Trung
tâm.
- Bước 3:
Trang
tâm
giao
dịch chứng
khoán
thực hiện
ghép
lệnh
và thông
báo két quà
giao
dịch
cho công
ty
chứng
khoán.
- Bước
4:
Công
kể tấ ngày mua bán nếu quy định về
thời
gian thực hiện
thanh
toán bù
trấ
chứng
khoán là T+3.
1.2
Các phương pháp phân
tích
chứng khoán
Có 2 phương pháp phân tích
chứng
khoán chính là phân tích cơ bản và phân
tích kỹ
thuật
Phân
tích
cơ
bản
(Fundamental Analysis)
Là phương pháp phân tích cổ
phiếu
dựa vào các nhân
tố
mang
tinh
chất
nền
chinh
của công
ty;
phân tích
hoạt
động
kinh
doanh
cùa công
ty;
phân tích ngành mà công
ty
đang
hoạt
động;
và phân tích các
điều
kiện
kinh
tế
vĩ mô ảnh
hưởng
chung
đến giá cả cổ
phiếu.
Sau
khi
nghiên
cứu,
nhà phân
cũng
như
khuyến nghị
mua/bán cổ
phiếu
trên thị
trường.
Riêng
trong
mức độ
cốt
lõi
nhất
và
cũng
khó khăn
nhất
là phân tích cồ
phiếu,
bàn
chất
cùa phương pháp
phần
tích cơ bàn ờ đây là
việc
định giá cổ
phiếu
nhằm dự
đoán giá
trị
thị diễn biến
giá cà và
khối
lượng
giao
dịch
của cổ
phiếu
nhằm phân tích các
biến
động
cung
cầu
đối với
cổ
phiếu
để
chi
ra
cách ứng xờ trước mắt
đối với
giá
cà, tức
là chỉ cho nhà phân tích
thời
điếm
nên
mua
vào,
bán
dịch cũng
nhu các xu hướng cùa hành
vi
giá và
khối
lượng đó.
Lý
thuyết
Dow vẫn được
coi
là nền
tảng
cho phương pháp phân tích kỹ
thuật.
So
sánh
2
phương
pháp phân tích
cơ
bản
và
phân
lích
kỹ
thuật
Phân tích cơ bản là quá trình đưa
ra
quyết
định bàng
công
ty,
một hàng
hoa,
một đơn vị
tiền
tệ
hoặc
một chỉ số
thị
trường.Do đó
phân tích cơ bàn nghiên cứu các
nguồn
gốc của giá
hoặc
các
thay đối
vê giá của các
công cụ tài
chính.Hoạt
động phân tích cơ bàn được
tiến
hành
với
các già định các
thông
tin
có được là hoàn hào và được xờ lý đúng.Những
quan quan
sát trên
trị
nội
tại.
Phân tích kỹ
thuật
là quá trình đưa
ra
quyết
định
bằng
việc
nghiên
cứu,khảo
sát
thị
trường cho một công cụ tài chính. Dữ
liệu
được
quan
tâm đầu tiên trên
thị
trường
là giá và
khối
lượng
giao
dịch.Phân tích kỹ
thuật
chỉ xem xét
việc
thuật
2.1.1
Khái niệm
phân
tích
kỹ
thuật
Phân tích kỹ
thuật
là phương pháp phân tích dựa vào các
diễn biến
của giá và
khối
lưổng
giao
dịch
trong
quá khứ để dự đoán xu
thế
giá
trong
tương
lai.
Ngoài
ra,
có một số định
nghĩa
đã đưổc đưa
ra
về Phân tích kỹ
giả
thuyết
cơ bản khác hoàn toàn.Thứ
nhất,
những
ước
lưổng
mang tính chủ
quan
là quá mơ hồ và không thích hổp và
thứ hai
là dao động giá
trong
tương
lai
có
thể
dự đoán đưổc qua
việc
phân tích
biến
động giá
trong
quá khứ,
phân tích mối
quan
hệ
cung
- cầu và một số yếu
tố
định
đầu
tư.
Cơ sờ căn bản cho
hướng
tiếp
cận này là ở chỗ các thòng
tin
về giá và
khối
lưổng
trên
biểu
đồ
phản
ánh
tất
cà
những
gì
diễn
ra
về
việc
mua hay bán một
loại
cổ
phiếu.
Vì
biểu
thuật hiện
đại
đã mô tả
Phân tích kỹ
thuật
như "một môn
khoa
học
mới". Schabacker
giải
thích
rằng
tất
cà
những
yếu
tố
phân tích cơ bàn hổp lý đều mang đến tình
trạng
thị
trường
di
xuống
và chúng đưổc đánh giá, tự động đưa vào và lưu
lại
trong
các mức cân bàng
thực
trên
biểu
là một bức
tranh ghi
lại
những
giao
dịch
trong
quá khứ.
Còn
theo
Edward
và
Magee
thì:
"Phân tích kỹ
thuật
là môn
khoa
học cùa sự
ghi
nhận
lại,
thường là
dưấi
dạng
đồ
thị,
những
hoạt
động
có
thế
xảy ra trong
tương
lai
Edward
và
Magee
còn đưa
ra
4
điểm
căn bản sau về Phàn tích kỹ
thuật:
• Giá
trị thị
trường của một
chứng
khoán được xác định duy
nhất
thông qua
tác động qua
lại
giữa
cung
và
cầu.
• Cung và cầu
chịu
ảnh
và
vấi
những
yếu tố cần
thiết
khác để
tạo
thành sự cân
bằng
chung
cùa toàn thị
trường.
Không một cá nhân nào có
thề
nắm
lấy
và định lượng
những
điều này mà
thị
trường sẽ
tự
thực
hiện.
• Bỏ qua
những
dao động nhỏ
thỉ
giá nhìn
chung
chuyển
của
điểm
cân
bằng
cung
cầu dù là vì
bất
kì nguyên nhàn nào đều có
thể
xác định sấm
hơn
hoặc
muộn
hơn
thời
điểm
thị
trường
biến
động.
Cuối
cùng
ta
sẽ xem xét định
nghĩa
của
Steven
B.
Achelis,
cơ sờ
Có 3
giả
định làm cơ sở cho
việc
tiếp
cận Phân tích kỹ
thuật:
-
Biến
động
thị
trường
phản
ánh
tất
cả
8
- Giá
dịch chuyển
theo
xu
thế
chung
-
Lịch
sử sẽ
tự
lặp
lại
trị
hay các yếu
tố
tài chính của
doanh
nghiệp,
tổ chổc.
. .
đêu
được
phàn ánh rõ
trong
giá
thị
trường.
Trên cơ sở
nhận
thổc
chung
về
việc
giá phàn
ánh
những
biến
động
trong
cung, cầu,
các nhà
PTKT
chúng làm hình thành nên
thị
trường giá lên
(Bull
Market)
hay
thị
trường giá
xuống
(Bear
Market),
còn đồ
thị
thì không tự nó làm cho
thị
trường
dịch chuyển
lên hay
xuống.
Đồ
thị
chỉ
có
thể
phản
ánh
tinh
hình
thị
trường mà thôi.
những
xu
thế
giá, từ đó sẽ
tham gia
giao
dịch
trên cơ sờ
những
xu thế
này.Trên
thực
tế những
kĩ
thuật
ờ đây đều mang tính
lặp
lại
những
xu
thế
giá có từ
trước
tổc
là mục đích của
PTKT
là nham xác định sự
lặp
lại
của
chiều".
Hệ quả này rút
ra
từ
định
luật
Ì về sự vận động của
Newton,
do đó nó cách phát
biểu
khác như
sau:
"một xu
thế
đang vận động sẽ
tiếp
tục
theo
xu
thế
của nó cho đến
khi
nó đào
chiều".
Nhìn
chung
tất
cà
những
nghiên cổu nham
nghiên cứu biên động
thị
trường
đều
phải
nhằm vào nghiên cứu tâm lý con
người.
Chẳng hạn như
những
mô
hình
giá,
những
mô hình này đã được xác định và
chứng minh tỉ
hơn 100 năm nay,
chúng
giống
như
những
bức
tranh
về đồ
thị
biến
động
giá.
Những bức
tranh
này chỉ
người
thì thường không
thay
đổi.
Như
thế giả
định này có
thể
được
phát
biểu
là
:
"Chìa khóa để nấm
bắt
tương
lai
nằm
trong việc
nghiên cứu quá khứ"
hay
"tương
lai
chỉ
là sự
lặp
lại
của quá
khứ".
2.1.3
phiếu
quan
trọng
nhất thị
trường Mĩ
thời
gian
đó.
William
Peter Hamilton
là
người thực
sự
mang
lại
sức
song
cho
những
nghiên cứu
của
Dow
bằng
việc
tiếp
tục
nghiên cứu và
xuất
bàn
cuốn
thuật.
Schabacker tỉng
là chủ biên cùa
tạp
chí
Forbes nổi
tiếng.
Ông
chì
ra rằng
những
dấu
hiệu
mà lý
thuyết
Dow đưa
ra
được
với
chỉ số
binh
quân
thị
trường
vần
giữ
nguyên giá
trị
và tẩm
quan
Như vậy
những
cơ sờ đầu tiên của Phân tích kỹ
thuật
đã
xuất
hiện
tỉ
trong
lý
thuyết
Dow, nhưng
phải
đến
Schabacker
-
người
cha cùa Phân tích kỹ
thuật hiện
đại
tiếp
đó là
Echvard
và
Magee
với
"Technical
Analysis
of Stock Trend"
(cuốn
thị
trường
tài
chính nói
chung.
2.2
Lý
thuyết
Dow
Lý
thuyết
Dow đưa
ra
các
tiền
đề cơ bản sau:
Chi
so
trung bình
phản ánh
tất
cá các
hành
vi
của
thị
trường.
Nó
phản
ánh toàn bộ
cái gì
diễn
ra
và các điều
kiện
tác động lên
cung
và cầu các cổ
phiếu,
kế cả
những
quyết
định
đầu tư
bất
ngờ không dự đoán được
cũng
được phàn ánh vào
chỉ
số
trung
bình.
Ba
xu
thế
thị
trường
Xu
thế
dài hạn của giá các cổ
cấp một
xuất hiện
các
giai
đoạn bị
ngễt
quãng
bởi
xu
thế
cấp
hai
đi ngược
với
xu
thế
cấp
một,
nó là các
phản
ứng
hoặc
các điều
chinh khi
xu
thế
cấp một tăng
hoặc
giảm
quá mức
Xu
thế
cấp
một
Đó là xu
thế
chung
về sự đi lên
hoặc
đi
xuống
kéo dài
trong
một
hoặc
thậm
chí vài năm. Mỗi
đạt
giá tăng mới
lại
đạt
mức cao hơn
đạt
giá tăng
lần
trước và cứ
mỗi đạt
phản
ứng
giá,
đạt
tăng giá
tiếp
theo
không đủ sức đưa mức giá
trờ
về mức
tăng giá
đạt
trước thì xu
thế
cấp một là xu
thế giảm giá.
Xu
thế
cấp một này được
gọi
là
thị
trường giá
xuống.
Xu
thế
cấp
hai
Đó là các phàn ứng làm
ngễt
quãng quá trình tăng
hoặc
giảm
này kéo dài
từ
ba
tuần
đến vài tháng. Chúng thường đảo
chiều
giá
trị
khoảng
1/3 đến 2/3
đối với
các
đạt
tăng
giảm lần
trước
trong
quá trình
diễn biến
của xu
thế
cấp một.
Như
vậy,
chúng
ta
có
hai
tiêu
chuựn
một được
coi
là xu
thế
cấp
hai.
Xu
thế
cấp
ba
Đó là các
biến
động nhỏ thường thì
trong
6 ngày,
ít
khi
kéo dài trên 3
tuần
và
đối với
các nhà lý
thuyết
Dow
thi
chúng không có tầm
quan
trọng.
Thường thì
trong
thao
túng.
Thị
trường
giá lén
(bull market)
Xu
thế
cấp một tăng giá được
chia
thành ba
giai
đoạn
ba
đạt.
Giai
đoạn
một là
giai
đoạn
tích
tụ, trong
thời
gian
này
người
đầu tư có tầm
nhìn sẽ cám
nhận
được
tồi
tệ
cùa
thị
trường
trong
giai
đoạn
này.
Hoạt
động
thị
trường ờ mức
trung binh
nhưng
bắt
đầu các
đạt
tăng giá
đợt
tăng giá
nhỏ.
Giai
đoạn
hai
là
giai
đoạn
tăng giá
mạnh
nhuận
cao
nhất.
Giai
đoạn
ba là
khi thị
trường cháy
bỏng
và công chúng
lao
vào sàn
giao
dịch.
Tất
cả các
tin
tức
tài chính đều
tốt
đẹp,
giá tăng
đột
biến
và các
tin
tức
giá cà
được
đưa lên
giai
đoạn sôi động
này
khối
lượng
giao
dịch
vẫn tăng, giá các cồ
phiếu
ít giá
trị
trước đây tăng đột
ngột,
nhưng giá các cổ
phiếu
độ tín
nhiệm
cao
lại
không tăng nữa.
Thị trường giá xuống
(bear
market)
Xu
thế
cầp một
giảm
giá này được
chia
thành ba
nhuận
đã đạt mức đặc
biệt
cao và bầt đầu bán cổ
phiếu
minh
nam
giữ.
Khối
lượng
giao
dịch
vẫn cao nhưng có xu hướng
giảm
trong
đạt
tăng
giá,
công chúng vẫn sôi động nhưng đã
bắt
đầu có dầu
hiệu
chập
chờn
vi
hy
vọng
về
lợi
nhuận
giao
dịch
tăng không bình
thường.
Sau
giai
đoạn hoàng
loạn
là một
giai
đoạn
tương
đối
lâu cùa xu
thế
cầp
hai hồi
phục hoặc
cùng
cố,
và sau đó là đến
giai
đoạn
ba.
Giai
đoạn ba đặc trưng
bời việc
bán
bắt
buộc
Ở
giai
đoạn ba này
việc
giảm
giá cổ
phiếu
không đột
ngột
như ở
giai
đoạn
hoảng
loạn,
nhưng
vi
còn có
những
người
phải
bán
bắt
buộc
vì họ
cần
tiền
cho các nhu cầu khác. Các cổ
phiếu
có độ tín
nhiệm
tức
xầu đã được
đón
nhận
hết,
và thị trường kết thúc trước khi các
tin
tức xầu chầm dứt.
Cần chú ý
rằng
thị
trường giá lên lân sau không
giống
hoàn toàn
thị
trường giá lên
lần
trước,
cũng
vậy
đối với
các
thị
trường giá
xuống,
vì chúng có
thể
không qua
tầt
cà các
hai
tháng.
Giai
đoạn
hoảng
loạn
cũng
có thê chì
xảy ra trong
một
hai tuần.
Khối lượng
tỳ lệ
với xu thế
Điều
này có
nghĩa
rằng
các
hoạt
động
giao
dịch
có xu hướng tăng lên
khi
giá
hướng
theo
xu
thế
giao
dịch
bị ngưng
trệ khi
giá
hễi
phục.
Điều này
cũng
đúng
đối với
xu
thế
cấp
hai.
Chú ý
rằng
tín
hiệu
có tính
thuyết
phục
về đào
chiều
xu
thế
có
thể
rút
ra từ
hoặc
vài tháng,
trong
đó giá dao động
trong
biên độ
5%.
Việc
xuất hiện
các đường rẽ cho
thấy
rằng
áp
lực
mua và bán cân băng tương
đối.
Thực
ra
thì
việc
chào bán đã cạn
kiệt
trong
biên độ giá và
những
người
muốn
mua cổ
phiếu phải
chào mua
là tín
hiệu
của
thị
trường giá
lên,
và ngược
lại
việc
giảm
giá
xuống
dưới
biên độ giá là tín
hiệu thị
trường giá
xuống.
Nói
chung,
đường rẽ càng kéo dài và biên độ càng nhỏ
thi
càng có
nhiều
khá năng sẽ xảy ra
việc
đào
chiều
xu thế cấp một.
Đường
rẽ
thay thế
xu
thế
cấp
hai.
Chiều
hướng mà giá sẽ
vượt
ra
ngoài đường rẽ không
thể
xác định được trước
khi
có các
diễn biến
thật
sự.
Biên độ
giới
hạn 5% là
theo
kinh
nghiệm;
trên
thực tế
còn
14
có biên độ
giới
hạn
giá
thấp
nhất
trong
ngày
mà chỉ
quan
tâm đến giá đóng
cửa.
Đó là do
vai
trò tâm lý của giá
cuối
ngày
khi
vẽ
đồ
thị.
Ví dụ có một xu
thế
cấp
hai
tăng trên xu
thế
cấp một và
đạt
đỉnh
tại
11 giờ
trong
thế
cần được
coi
là vẫn
tiếp
diễn
cho đến
thời
điểm
khi viức
đào
chiều
đã
được
tín
hiứu
báo động đưa
ra
một cách
chắc chắn.
Lý
thuyết
Dow
cảnh
báo
phải thận trọng khi
nhận
định về đảo
chiều
của
lợi
khi
chờ đến lúc
thực
sự
chắc chắn
về tín
hiứu
đào
chiều,
và họ
phải
trà
giá
đắt
khi
hành động mua
hoặc
bán quá sớm. Thị trường giá lên không
thể
tăng vô
thời
hạn
cũng
như
thị
trường giá
xuống
bao
giờ
lần
đầu tiên mới
nhận
biết.
Nhưng
tiền
đề này của lý
thuyết
Dow
nói
rang:
cần
phải
luôn luôn
chuẩn
bị sẵn sàng
thay đồi chiều
đặt
lứnh.
2.3
Sóng
Elliott
Những
người
yêu thích phân tích kỹ
thuật
không
lạ
gi
với
thuyết
này
khẳng
định
rang
một chu kỳ tăng giá tuân
theo
5 sóng chù và 3
sóng
điều
chỉnh.
15
Sóng chủ l:Tích
lũy xuất
phát từ
thị
trường suy thoái và còn
yếu, rất
khó
nhận
ra
sóng số Ì này. Do vừa mới thoát
ra thị
trường suy thoái nên đầu tư và lúc
này mang
tinh
chất
mạo
hiểm,
không hấp dẫn
thực
sự là
cuộc
kiểm
tra
về sự
hồi
phảc
cùa
thị
trường nếu
điểm
thấp
nhất
cùa sóng 2 cao hơn
điểm
xuất
phát cùa sóng
Ì,
điều này
khẳng
định tính
chắc
chắn
của sự
phảc
hồi,
các nhà đầu tư đã hưng
phấn
hơn và các quỹ đầu tư đang
Sóng chủ 4: Điều chình và phân
phối
lại
sóng 3 do nhà đầu tư vẫn chưa thoát
khỏi
ảnh hường của
thị
trường suy
thoái,
thực
hiện
bán ra để
thu
lời
khi
cảm
nhận
thấy
có
lãi.
Sóng 4 điều
chỉnh
ờ mức 0.382 - 0.618 của sóng 3.
Sóng chù 5: Các nhà đầu tư
thực
sự
phấn
khích thoát hẳn ảnh hường của đạt
suy
thoái.
với thị
trường,
các quỹ đầu tư
bắt
đầu
ngừng
thu
gom
khi
đã mua đủ số lượng
theo
kế
hoạch.
16
Sóng
điều
chỉnh
B: Sóng B là sự
kiểm
tra
lại
tín
hiệu
về khả năng suy thoái.
Giá tăng
trờ
lại
nhưng đỉnh không
vượt
qua
thị
trường đã
vượt
qua
trạng
thái
đình
điềm
và sẵn sàng đi vào
suy
thoái
bất
kể lúc nào.
Sóng
điều
chỉnh
C: Thị trường giá
xuống
đã
thực
sự trưởng thành lân át
thị
trường
giá
lên, thị
trường
bắt
đầu đi vào suy
thoái.
Điểm
rằng
ngày phân
phối
không
chỉ
là các ngày
giảm
giá:
đó có
thể
là các ngày có
khối
lượng
giao
dịch
đột
biến,
hoặc
vắn tăng giá nhưng giá tăng chậm
lại.
Hơn nữa cần
phải
tránh máy móc và suy
rộng
hơn
khi
áp
dụng
sóng
Elliot
phân
phối
thì xác
suất
giá
giảm
sẽ cao
hơn (đến
70%)
và sẽ là
thiếu
khôn
ngoan
nếu tăng
cường
mua
chứng
khoán vào
thời
điểm
này
thay
vì lên kế
hoạch
sẵn sàng bán
ra.
Thực
tế
ngày nay đã có
nhiều dẹt
loại
biểu
đồ khác
nhau
để phân
tích,
trong
đó có 3
loại
biểu
đồ được dùng
một
cách phổ
biến
nhất
đó
là: biểu
đồ
dạng
đường
(Line
chart),
biểu
đồ
dạng
then
chắn
(Bar
chart),
biểu
ngành
khoa
học khác dùng để mô
phỏng
các
hiện
tượng
kinh tế
và xã hội và nó
cũng
là
loại
biểu
đồ được con
người
dùng
trong
thời
gian
lâu dài
nhất.
Nhưng
hiện
nay
trên Thị trường
chứng
khoán do
khoa
học kỹ
thuật
khoán mới đi vào
hoạt
động
trong
thời
gian
ngăn,
khớp
lệnh
theo
phương pháp
khớp
lệnh
định kỳ
theo
từng
phiên
hoặc
nhiều
lần
trong
một phiên nhưng mức độ
giao
dịch
chưa
thể
đạt được như Thị trường
chỳng
khoán dùng phương pháp
khớp
loại
biểu
đồ này
ít
được sỳ
dụng
để phân tích trên các Thị trường
chứng
khoán
hiện đại
vì các Thị trường
chứng
khoán
hiện đại
ngày nay thường
diễn biến
khá
phức
tạp,
mức độ dao động
trong
thời
gian
ngắn
với
độ
lệch
khá
cao,
nếu dùng
đang dùng một số
loại
biểu
đồ
trong
Phân tích kỹ
thuật
mang
lại hiệu
quà cao đó là Bar
chan
và
Candlestick chart.
18
Biểu
đô dạng
then chăn
(Bar
chan)
Trên các Thị trường
chứng
khoán
hiện
đại
trên
thế
giới
hiện
nay các chuyên
viên phàn tích thường dùng
cưa
.Giáđóng cửa
Giá tháp nhát Giá tháp nhất
Loại biểu
đồ này thường được áp
dụng
để phân tích trên các Thị trường
chứng
khoán
hiện đại
khớp
lệnh
theo
hình
thức
khớp
lệnh
liên
tục,
độ dao động cùa
giá
chứng
khoán
trong
một phiên
giao
dịch
là tương
đối lớn.Biếu
đô
giá đóng cửa được
biểu
thị
ở bên
phải
và giá mờ cửa được
biểu
thị
ờ bên trái cùa
thanh
(bar).
Một
thanh
đơn
lẻ
tượng
trưng cho một phiên
giao
dịch.
Ví dụ về
dạng
biểu
đồ
dạng
then
chắn (Bar
chart)
1»,.™
liilll
chắn
(Bar
chart),
nó được
người
Nhật
Bàn khám phá và áp
dụng
trên Thị trường
chứng
khoán của họ đầu tiên.
Giờ
đây nó đang dần được phổ
biến
hầu
hết
trên các Thị trường
chứng
khoán
hiện
đại
trên toàn
thế
giội.
Dạng
biểu
đồ này
phản
ánh rõ nét
nhất
Wv
• ::
10D1O008
1I1OÍCO09
IL fll WJ
OllDlữOIŨ
02JO1ÍĨO>0
OÍ.01/Ĩ010
KI.Ì. "li illllll
ll.lllliillii
li li
•
- •
ti-
.,„.,„, ,„^
^ ^ ^
x
.1(111
la—
T
Đồ
thị biến
động giá của VCB tính đến
01/03/2010
(Nguồn:
bcs.com.vn)
Hai
kí
tụ
những
đinh giá cao dần và đáy giá cao dần (đình trưộc cao hơn đình sau và
20