Tiểu luận
Đề tài: "Thiết kế 3 công thức luân
canh phù hợp với điều kiện Huyện Mê
Linh"
Mục lục
1. Điều kiện tự nhiên 3
1.1 Vị trí địa lý 3
1.2 Diện tích đất đai – khí hậu 4
2. Kinh tế - xã hội 5
1. Một số công thức luân canh đã được nông dân Mê Linh – Vĩnh phúc thực hiện 9
I. MỞ ĐẦU
Trong thời đại hiện nay, khoa học và công nghệ phát triển ào ạt trên tất cả
các lĩnh vực trong đó sản xuất nông nghiệp ứng dụng một cách hiệu quả là
động lực thúc đẩy SX phát triển. Lịch sử phát triển nông nghiệp tương ứng
với những mốc son về năng suất, giá trị cây trồng đều gắn với những thành
tựu KH-CN tiên tiến về giống cây trồng và cơ cấu mùa vụ. Chính vì vậy yêu
cầu đổi mới cơ cấu luân canh cây trồng phù hợp và hiệu quả luôn là vấn đề
được quan tâm hang đầu trong nông nghiệp.
Nhằm mục đích tìm hiểu về cơ cấu cây trồng và thiết kế công thức luân
canh cây trồng hợp lý áp dụng ở Huyện Mê Linh tỉnh vĩnh phúc em thực
hiện bài “ Xây dựng công thức luân canh cây trồng cho huyện Mê Linh tỉnh
Vĩnh Phúc”
II. NỘI DUNG
1. Điều kiện tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý.
Trên bản đồ miền bắc Việt Nam, Mê Linh ở tọa độ 21
0
10’ độ Bắc,
106
0
5’ kinh độ Đông Mê Linh tiếp giáp với các huyện Bình Xuyên và Yên
0
C. Lượng mưa
bình quân trong năm 1.450 mm tập trung vào tháng 7, tháng 8, những tháng
còn lại lượng mưa không đáng kể. Độ ẩm trung bình 82%. – 85%
2. Kinh tế - xã hội
Tình hình phát triển các ngành kinh tế.
Nông nghiệp thuỷ sản:
Tốc độ tăng trưởng khá 5,7% theo GDP. Cơ cấu có sự chuyển dịch
theo hướng tăng sản phẩm ngành trồng trọt, vật nuôi. Bước đầu hình thành
các vùng sản xuất (vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, vùng rau xanh, hoa
tươi). Hàng hoá nông sản đã và đang được khẳng định trên thị trường.
Công nghiệp và xây dựng:
Công nghiệp Mê Linh đang trong quá trình hình thành; tốc độ tăng
trưởng GDP công nghiệp cao (43,9% thời kỳ 2001 - 2004); tỷ trọng công
nghiệp trong GDP nền kinh tế là 35,3%. Các KCN đang hình thành sẽ có vai
trò quan trọng trong việc tạo hạt nhân phát triển vùng.
Phát triển dịch vụ:
Tốc độ tăng trưởng tương đối cao 16,9% (thời kỳ 2001 - 2004) song
tỷ trọng trong nền kinh tế còn thấp (l0,4% - GĐP). Ngành dịch vụ từng bước
đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
Hệ thống giao thông của Mê Linh khá hoàn chỉnh gồm: đường bộ
433km; đường sông: 27,6km; đường sắt: 8km. Mạng lưới giao thông thuận
lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Định hướng phát triển nông nghiệp, trồng trọt nói riêng đến năm 2020
Về trồng trọt
Cây lương thực: Giảm dần diện tích gieo trồng cây lương thực đến
năm 2020 duy trì vào khoảng 7.000 - 8000 ha và sản lượng lương thực có
hạt đạt khoảng 40 - 45 ngàn tấn/năm, và bình quân đầu người khoảng
120kg/người.
Số giờ 2009 89.1 77.1 57.5 102. 156.9 190.4 157.3 226.2 188. 134. 129.3 68.7
nắng các
tháng
trong
năm (giờ)
7 0 8
2008
65 27 69 71 156 126 155 147 178 126 139 99
2007
60 84 31 82 165 203 172 169 151 122 184 49
Lượng
mưa các
tháng
trong
năm
(mm)
2009
4.9 13.9 24.6 152.7
308.
1
202.
0 233.9
165.
8 137.3 32.1 7.7 1.3
2008
20 44 78 101 164 132 210 362 263 183 158 6
2007
2 32 17 120 288 163 231 175 208 20 14 24
Độ ẩm
không
150C, tối thấp tuyệt đối ở cuối tháng 11 cũng ít ngày xuống dưới 100.
Lượng mưa trong các tháng 11 - 12 giảm nhiều so với các tháng 7 - 8
giữa mùa mưa nhưng lượng mưa ở các nơi trong tỉnh vẫn còn đo được trên
dưới 100mm ở tháng 10 và gần 50mm ở tháng 11. Số ngày mưa 10-12 ngày
một tháng, giảm so với các tháng giữa mùa mưa.
+ Thời kỳ tháng 12 và tháng giêng: Các tháng này nằm giữa mùa rét,
mùa khô hanh. Nhiệt độ không khí trung bình ngày từ 15-180, trung bình tối
thấp 12 - 140, tối thấp tuyệt đối nhiều năm xuống đến 4-60.
Mưa rất ít, lượng mưa tháng trung bình trên dưới 20mm. Có vài năm
chỉ mưa 2-3mm.
Vụ đông nhiệt độ tuy thấp nhưng vẫn ở mức độ tương đối, phù hợp
với khả năng chịu rét của cây trồng vụ đông như ngô đông, đậu tương đông,
khoai tây, lúa mỳ, mạch hoa, khoai lang và các loại rau cao cấp.
Vụ đông ít mưa, khô hanh, đất không đủ ẩm nên cần phải có biện
pháp nâng cao năng suất trong khi các cây vụ đông hầu hết là cây trồng cạn,
không ưa ngập nước nhưng lại rất cần nước.
Thời tiết vụ đông xuân:
Nhìn lại thời tiết vụ đông xuân ở Vĩnh Phúc, có thể thấy thời tiết biến
động không vụ nào giống vụ nào. Có vụ, mùa đông đến sớm và là năm rét
đậm kéo dài nhiều ngày. Nhiệt độ trung bình tháng 1-2 xuống dưới mức
bình thường tới 30 làm cho mạ, lúa bị chết rét nhiều. Cuối vụ gặp nắng hạn,
lúa bị nghẹn đòng nên năng suất, sản lượng thấp.
Có năm mùa đông rất ấm và mưa nhiều, mùa đông đến nuộn và kết
thúc muộn làm cho năng suất, sản lượng cây trồng nói chung thấp.
Thời gian rét kéo dài và cường độ các đợt rét có ảnh hưởng rất lớn
đến sản xuất vụ đông xuân.
Tuy nhiên, qua thống kê cho thấy điều kiện mùa đông lạnh dễ đạt
năng suất cao hơn trong điều kiện mùa đông ấm.
Biến động thời tiết trong vụ đông xuân ảnh hưởng đến thời vụ gieo
Nội dung CT Lúa xuân - lúa mùa - ngô đông
Hiệu quả kinh tế của công thức này cũng không cao bởi vì các cây trồng của công
thức vẫn là những cây truyền thống, giá bán sản phẩm không cao và cũng là những
cây sử dụng đất, chính vì vậy cần phải đưa ra những công thức luân canh cây trồng
hợp lí hơn có hiệu quả kinh tế hơn cũng như cải tạo đất.
Nhược điểm của hệ thống 3 vụ là lúa mùa sớm cho năng suất thấp, hay bị sâu
bệnh, gió bão làm giảm năng suất, độ an toàn không cao, tăng vụ liên tục bằng 3
loại cây hoà thảo trên cùng 1 diện tích trong nhiều năm đã làm suy thoái độ phì
nhiêu của đất, năng suất và khả năng chống chịu của các cây trong hệ thống ngày
càng giảm
Từ những hạn chế của các công thức luân canh trên cần phải xây dựng
công thức, cơ cấu cây trồng mới hiệu quả hơn hợp lí hơn.
Xây dựng công thức luân canh cho vùng:
Nguyên tắc chung:
Lựa chọn những loài cây có những nhu cầu sinh thái khác nhau
trong một công thức luân canh.
- Nguyên tắc sinh học:
+ Phải đảm bảo duy trì cân đối các chất dinh dưỡng trong đất.
+ Phải coi trọng đặc biệt vai trò của cây họ Đậu (cây cải tạo).
+ Phải bao gồm các loài cây trồng có hệ thống rễ khác nhau.
+ Phải tách các loài cây trồng có những loài sâu bệnh tương tự nhau
trong công thức Luân canh.
+ Chú ý cây phân xanh, cây thức ăn gia súc với một tỷ lệ gieo trồng
nhất định để cải tạo đất và phát triển chăn nuôi.
- Nguyên tắc về kinh tế:
+ Nâng cao năng suất, tăng thu nhập.
+ Phát triển ngành nghề, tận dụng lao động, hạn chế đầu tư.
- Nguyên tắc về môi trường
+ Bảo vệ đất.
+ Khai thác một cách tốt nhất các nguồn lợi đất đai, khí hậu.
của giống
chịu rét khá, sạch sâu
bệnh, trong vụ xuân ít
nhiễm bệnh đạo ôn bạc lá.
Độ thuần đồng ruộng khá,
phạm vi thích ứng rộng,
thích hợp trồng ở trà xuân
chính vụ trên chân đất
vàn. Chất lượng gạo khá,
cơm ngon
Năng xuất cao, đẻ nhành
khoẻ, gạo trong cơm ngon.
Chịu rét khá. Vụ mùa hay
bị bệnh đốm sọc vi khuẩn,
chưa nhiễm bệnh đạo ôn.
Tỷ lệ lép thấp. Độ thuần
khá, chống đổ trung bình
(tương đương với CR203).
Thích hợp trên đất vàn và
vàn cao
Vỏ quả vàng, hạt màu
vàng rốn hạt màu nâu
nhạt
Hàm lượng pr 41,2 %,
hàm lương lipit
17,4%, hàm lượng
đường bột 24,4% hạt
to vàng đẹp. Khối
lượng 1000 hạt là 16-
220g
; 3 – 4
dảnh/khóm.
- Phân bón/sào: Phân
chuống 300 – 350 kg +
Đạm Urê 6,5 – 7 kg + Lân
Supe 10-15kg + Kali 4-
5kg.
Vụ mùa hay bị bệnh đốm
sọc vi khuẩn nên lưu ý cần
bón phân cân đối.
Mật độ trồng: 40 - 45
cây/m2 (khoảng cách
35x6–7cm).
Lượng giống cần
gieo: 55-60 kg/ ha
Có thể làm đất tối
thiểu, gieo hạt theo
rạch, gieo hạt vào gốc
rạ hoặc gieo vãi.
Lượng phân bón cho
một sào:Phân chuồng:
200-300kg, đạm urê:
3 – 4kg, lân Super: 12
– 15kg, kali: 4 – 5kg,
Vôi bột: 10 - 15kg.
Tùy thuộc vào độ
chua của đất để điều
chỉnh lượng vôi bón.
Phân tích
Áp dụng CT luân canh này tuy chưa tận dụng tối đa thời gian sử dụng đất
Năng suất
TB 55 – 60 tạ/ha.
cao 70 – 75 tạ/ha.
1.8-3.2 tấn/ha 30 – 40 tấn/ha.
Đặc tính
giống
Amyloza 21,43%.
Protein 7,82%.
Cơm mềm, ngon, vị
đậm.
Nhiễm khô vằn nhẹ tới
vừa, chống đổ khá.
Hàm lượng pr
42,86%, hàm lượng
lipid 18,34%, hàm
lượng gluxit 29,155
Khối lượng 1000
hạt 190-220g
Kháng tốt với các
bệnh đốm nâu vi
khuẩn gỉ sắt sương
mai virus khảm. Chịu
hạn, chịu lạnh, chịu
nóng tốt.
Hàm lượng chất khô và
tinh bột cao, khi nấu nở
vừa phải, khẩu vị ngon,
khi chiên có màu vàng
đẹp, không có vết thâm
đên hoặc nâu.
cách nhau 15-40cm.
- lượng giống cần
gieo (2,5kg/sào).
- Phân bón (cho
1ha )
- Làm đất :dọn sạch
cỏ, phay tơi xốp, sâu
tối thiểu 25cm. Làm
luống cao 10cm, rộng
1,3m (cả rãnh). Nên
làm luống thấp hơn
rãnh để giữ nước tốt
hơn. Xẻ rãnh trồng
cách nhau 50cm và
cách đều hai mép
luống, rải phân vào
rãnh, đảo đều với đất.
- Phân bón(tính cho
1000m2):
15-20kg vôi bột/sào.
6 tấn phân
chuồng+60kg
đạm+420kg
lân+140kg
kali+300kg vôi bột.
+ Phân chuồng 4m3,
lân vi sinh 25-30kg, vôi
100kg.
+ Phân hoá học: 33kg
urê, 94kg lân super và
Đặc tính cơ
bản
Vỏ quả vàng, hạt màu
vàng rốn hạt màu nâu
nhạt
Hàm lượng pr 41,2 %,
hàm lương lipit 17,4%,
hàm lượng đường bột
24,4% hạt to vàng đẹp.
Khối lượng 1000 hạt là
16-220g
Hàm lượng amylase
20,7%, Hàm lượng pr
10,5-10,7%, độ bạc
bụng cấp 0-1 Khối
lương 1000 hạt 29-
30g
Có khả năng chống
bệnh đạo ôn, bạc lá
nhiễm nhẹ khô vằn
Chiều cao cây 220cm,
chiều cao đóng bắp
100cm, chiều dài bắp
20cm, đường kính bắp
4,7cm, 14-16 hàng hạt,
38 hạt/hàng, tỷ lệ hạt
khô/bắp tươi ở ẩm độ
14% là 77,3%, trọng
lượng 1.000 hạt 300-
Kháng tốt với bệnh
phân vào rãnh hoặc
hốc.
. Bón phân
Lượng phân bón cho 1
ha là: 5-6 tấn phân
chuồng + 20 kgN + 40-
60kg P205 + 40-60 kg
K20
- Đối với sâu bệnh hại
đậu tương cần áp dụng
các biện pháp phòng
trừ tổng hợp
-Làm đất
Đất cần được làm kỹ.
Ruộng cần phải được
san phẳng. Xung
quanh nên đánh rãnh
sâu
cấy khoảng 40
khóm/m
2
.
Khoảng cách 20:12,5
cm.
Cấy nông tay, 1
dảnh/khóm.
Phân bón: Phân
chuồng: 500 kg.
Phân đạm: Urê: 8-10
kg.
bệnh khô vằn và giòi
đục nõn
Phân tích
Việc trồng lúa sau đậu tương sẽ tạo điều kiện về dinh dưỡng cho lúa
phát triển
Công thức này nhờ có sự luân canh cùng với cây đậu tương nên khả
năng tái tạo đất tốt các cây trồng sau nhờ vậy mà có năng suất cao
Lúa trồng vào vụ này có thể tận dụng được khoảng thời gian mưa nên đỡ
tốn công sức và tiền của đầu tư nhiều cho thủy lợi
Ngoài ra công thức này còn thúc đẩy chăn nuôi phát triển từ hai nguồn
ngô và đậu tương.
III. Kết luận
Người dân ở đây thường hay canh tác chủ yếu theo kinh nghiệm và sử
dụng những giống truyền thống , sử dụng thuốc hóa học ồ ạt, phân hóa họa
không theo tính toán dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước. Đất không được
bổ sung dinh dưỡng hữu cơ bạc màu nhanh, cho năng suất thấp. Do vậy việc
chuyển đổi cơ cấu cây trồng đem lại hướng đi mới hướng phát triển mới
hiệu quả hơn, phát triển bền vững hơn.
Trên đây là 3 công thức luân canh em đưa ra khuyến cáo người dân sử
dụng bởi lẽ đó đều là những công thức rất phù hợp với điều kiện của vùng,
mang lại hiệu quả kinh tế cao và khai thác đất bền vững hơn.