Một số thao tác cơ bản
đọc toàn văn KQNC
Sử dụng mục lục đọc nhanh bên phải màn hình
đ
ể đọc ngay Chơng, Mục phù hợp (nháy chuột vào tê
n
Chơng, Mục muốn đọc)
Sử dụng các phím PageUp, PageDown,
E
nter, phím mũi tên trên bàn phím hoặc các biểu tợng
m
ũi tên trên thanh công cụ để lật trang:
Sử dụng các biểu tợng trên thanh công cụ (hoặc
c
họn tỷ lệ hiện hình trang tài liệu trong hộp công cụ)
d
ới đây để phóng to/thu nhỏ trang tài liệu:
1
Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật việt nam
Hội khoa học và công nghệ mỏ việt nam
__________________________________________________________
Báo cáo tổng kết đề tài
Nghiên cứu lựa chọn công nghệ xử lý
nớc thải sinh hoạt làng nghề
và biện pháp thu hồi, sử dụng cặn lắng
Chủ nhiệm ĐT: KS Vũ thị kim chi
Hà nội 2003
SLK: 4470/bc
Đề tài thực hiện trong hai năm (2001 - 2002), sau đây là những kết quả
nghiên cứu của đề tài.
3
I. Kết quả điều tra tình hình tự nhiên, kinh tế, xã
hội của làng nghề Cao Xá Hạ.
Tình hình tự nhiên và kinh tế.
- Thôn Cao Xá Hạ, cổ xa thuộc trang Quách Xá, sau đổi là Cao Xá
(gồm ba thôn: Thợng - Trung - Hạ). Hiện nay Cao Xá Hạ là một
thôn của xã Đức Giang.
- Dân số vào thời điểm đầu năm 2001: 1697 ngời gồm 360 hộ.
- Diện tích đất canh tác nông nghiệp: 440.536m
2
chủ yếu trồng 2 vụ
lúa/ năm.
- Số hộ có nghề làm bún: 200 hộ, tiêu thụ khoảng 14 tấn gạo/ngày.
- Số hộ có nghề chế biến thịt chó: 24 hộ, chế biến khoảng 720kg
chó hơi/ngày.
- Số hộ chăn nuôi lợn: 300 hộ thờng xuyên nuôi từ 5-10 đầu lợn/ lứa.
Hàng năm cả thôn xuất chuồng từ 220 - 240 tấn lợn hơi, trị giá trên 2
tỷ 400 triệu đồng.
- Cao Xá Hạ đợc kế thừa kiến trúc cổ nên có hệ thống ao mơng khá
hài hoà: có kênh thoát nớc chạy dọc thôn đa nớc về tới cho cánh
đồng lúa phía nam; cả làng có 3 giếng trớc đây dùng để tích trữ nớc
phục vụ cho sinh hoạt và làm bún.
- Hiện nay 99% số hộ trong thôn dùng nớc giếng khoan, trớc khi sử
dụng nớc đợc lọc qua bể cát.
- Chăn nuôi và làm nghề phát triển song ngời dân đánh mất thói quen
bón phân hữu cơ cho cây nên kênh thoát nớc đang phải tải lợng thải
chăn nuôi lớn đã và đang gây nhiều bức xúc cho môi trờng .
Tình hình xã hội:
Nguồn gây ô nhiễm: Dân số của làng Cao Xá Hạ hiện có 1697 ngời gồm
360 hộ trong đó 200 hộ chuyên nghề làm bún, lợng gạo tiêu thụ là
14.000kg/ngày; 24 hộ chuyên giết mổ thịt chó với mức chế biến bình quân
là 720kg chó hơi/ngày. Hàng năm số đầu lợn xuất chuồng khoảng 5400
con, lợng phân thải ra ớc chừng 2.000 kg/ngày. Ngoài ra còn có phế thải
nông nghiệp và rác sinh hoạt cũng góp phần làm ô nhiễm làng nghề.
Mức độ ô nhiễm
Số liệu phân tích một số mẫu nớc đợc đa ra ở phụ lục 1 (xem phụ
lục1). Chất lợng nớc thải đợc đánh giá dựa theo tiêu chuẩn TCVN 5945 -
1995.
Bảng 1 . Một số chỉ tiêu phân tích nớc thải so với TCVN 5945 - 1995
Nớc trên mơng thải làng Cao Xá
Hạ
Giá trị giới hạnTT Thông số Đơn vị
Đầu nguồn Giữa
nguồn
Cuối
nguồn
ABC
1 Nhiệt độ
0
C 18,1- 30,9 18,6- 29,2 18,3-
29,4
40 40 45
2 PH 6,71- 6,69 6,92- 6,65 6,85-
6,81
6ữ9 5,5ữ95ữ9
3BOD
5
(20
2.600.000
2.200.00
0-
2.800.00
0
5000 10.000 -
Chất lợng bùn cặn trên kênh thải đợc xác định qua một số chỉ tiêu
phân tích trình bày ở bảng 2.
Bảng 2. Một số chỉ tiêu phân tích đánh giá chất lợng bùn cặn trên kênh
thải của làng Cao Xá Hạ.
TT Chỉ tiêu phân tích Mẫu hỗn
hợp
Mẫu lớp bề
mặt
Mẫu phân
lợn
1 PH 6,76 6,41 6,9
2 W% 44,0 26,87 84,0
3 Khoáng tổng số% 81,98 78,82 67,0
4P
2
O
5
dễ tiêu,
mg/100g đất
73,1 79,6 85,1
5P
2
O
5
nớc thải bằng việc tận dụng cặn làm phân hữu cơ bón cho cây trồng.
Theo các kết quả đo đạc, tính toán và phân tích, có thể đánh giá nh sau:
- Tổng số chiều dài mơng cần nạo vét là 859 m.
- Lợng bùn cần xử lý là 8.342 m
3
.
- Mẫu bùn hỗn hợp tơng đơng loại đất giàu dinh dỡng và mùn dùng
để trồng cây rất tốt.
- Bùn lớp bề mặt có chất lợng tơng đơng phân hữu cơ .
III. Đề xuất quy trình công nghệ xử lý nớc thải,
cặn thải làng nghề Cao Xá Hạ.
Quy trình xử lý nớc thải
Cơ sở của việc đề xuất qui trình công nghệ:
Cao Xá Hạ là làng thuần nông với hiện trạng đất chật, ngời đông, hoàn
cảnh kinh tế phân bố không đồng đều nên đòi hỏi công nghệ xử lý nớc
thải phải đơn giản, rẻ tiền và dễ vận hành.
Nớc thải làng Cao Xá Hạ tải một lợng chất thải chăn nuôi khá lớn
(khoảng 730 tấn phân lợn/ năm) có mùi hôi thối do sự phân huỷ cặn thải
trên hệ thống cống rãnh, ao, mơng. Muốn lấy lại sự trong sạch cho môi
trờng, biện pháp triệt để nhất là thu hồi và xử lý cặn thải từ mỗi gia đình
nhằm chặn đứng nguồn gây ô nhiễm đồng thời tạo nguyên liệu chế phân
hữu cơ bón cho lúa và cây trồng.
Do nhu cầu xây dựng nông nghiệp bền vững trên nền tảng sinh thái học
cũng nh chủ trơng cho phép chuyển đổi cơ cấu cây trồng của Nhà nớc,
có thể chuyển 5 ha ruộng trồng lúa cạnh thôn (khu bãi rác hiện tại) thành
vờn sinh thái cấu trúc theo kiểu nhiều tầng để cải thiện môi trờng.
Hệ thống ao (ao Giang) hiện tại có dung tích 7.000 m
3
đủ sức chứa lợng
nớc thải hàng ngày và lu lại trong thời gian 4 - 5 ngày.
đờng đi chung của nhóm gia đình đó.
Tổ chức gom nớc thải: Gồm hai nhóm
Nớc thải từ tắm giặt: nhóm này đợc đa từ cống của từng hộ gia đình
dẫn vào cống nhóm gia đình, đa vào cống nhánh, đổ vào hệ thống ao
mơng trung tâm.
Nớc thải sau thu hồi cặn lắng: Nớc thải này đợc dẫn từ bể phốt, bể
biogas, bể lắng nhóm gia đình dẫn vào cống nhóm gia đình và hoà chung
với nớc tắm giặt đổ vào ao chứa.
Làm sạch nớc thải và sử dụng nớc đã làm sạch:
8
Nớc thải sau thu gom chảy về ao chứa. Tại đây nớc đợc xử lý bằng
phơng pháp sinh học (ao sinh học) để đạt tiêu chuẩn nớc tới cho nông
nghiệp.
Ao sinh học có dung tích 7.000 m
3
đủ sức chứa nớc thải hàng ngày của
cả làng và lu khoảng 4 - 5 ngày. Trên ao đợc trồng 3 loài cây: ven bờ là cây
ngổ dại, mặt ao có lớp bèo Nhật Bản xen với lớp bèo cái. Nớc từ ao sinh học
đợc sử dụng làm 4 hớng:
- Một phần dẫn vào ao cá
- Một phần dùng để tới ruộng
- Một phần dùng tới vờn cây
- Một phần hoà vào hệ thống thủy lợi của vùng.
Tổ chức gom và chế biến cặn lắng.
Cần hình thành một nhóm vệ sinh môi trờng và chế biến phân bón.
Nhóm này đợc trang bị xe chuyên dụng hàng ngày thu gom cặn lắng từ các
bể lắng và phân từ các gia đình, định kỳ gom cặn lắng từ bể phốt và bể biogas.
Phân và cặn lắng chuyển ra khu chế biến đợc bố trí gần kề với khu vờn sinh
thái. Biomas lấy từ hồ sinh học (thân cây ngổ dại, thân bèo nhật bản và bèo
cái) đợc ủ lẫn với các loại cặn lắng thu gom và các chất bổ sung cần thiết để
Ga
lắng
Nớc thải
tách cặn
Cặn lắng
Thu gom
Chế biến thành
phân bón
Hồ sinh học
Nớc tới
Vờn
s
inh
t
h
á
i
Ruộng
lúa
Hồ
sinh học
Nớc
tới
Ao cá
Ruộng lúa
Vờn cây
Hệ thống
thủy lợi
Chế phẩm
EM
chính với nguyên liệu phụ và ủ thành phân.
Phối trộn các loại cặn tạo nguyên liệu chính.
Các loại cặn thu về đợc trộn đều với nhau để tạo ra nguyên liệu chính
(thành phần cơ bản của phân) có độ đồng đều theo yêu cầu.
Nguyên liệu phụ
Nguyên liệu phụ là chất độn. Chất độn có tác dụng cân bằng tỷ lệ C/N để
thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ trong thành phần của nguyên liệu tạo
ra chất mùn. Bản thân nguyên liệu phụ cũng bị phân huỷ để tạo thành mùn và
11
các chất dinh dỡng ở dạng dễ tiêu. Nguyên liệu phụ gồm rơm rạ và biomas
thu hồi từ hồ làm sạch sinh học (bèo Nhật bản, bèo cái, ngổ dại).
Phụ gia.
Phụ gia góp phần hạn chế bớt sự mất đạm và góp phần cân đối thành
phần dinh dỡng của phân sản xuất ra. Phụ gia thúc đẩy quá trình phân huỷ
trong đống phân ủ. Phụ gia cơ bản ở đây là supe lân chiếm 2% tổng khối
lợng nguyên liệu.
Phối trộn
Nguyên liệu chính đợc tạo ra bằng cách trộn đều các thành phần của
cặn lắng. Nguyên liệu phụ đợc cắt nhỏ theo kích thớc tối u: rơm rạ cắt theo
độ dài 10 cm, các loại bèo cắt theo kích thớc 5cm. Hai loại nguyên liệu này
đợc trộn đều cùng với nguyên liệu chính và phụ gia đồng thời ủ sơ cấp trong
bể ủ phân khoảng 5 - 7 ngày để chất độn hút nớc từ nguyên liệu chính tạo ra
phân sơ cấp.
Phân sơ cấp.
Sự kết hợp, phân huỷ sơ cấp của các loại nguyên liệu trong bể ủ tạo ra
phân sơ cấp. Đây là phân chuồng song giá trị sử dụng của nó còn rất thấp.
ủ nóng.
Phân sơ cấp đợc chất thành đống cao 0,8 - 1m không nén có bổ sung
chế phẩm EM. Phân đợc phân giải trong điều kiện háo khí, chất hữu cơ phân
giải mạnh làm nhiệt độ đống phân tăng cao đến 60 - 70
h
ế
b
i
ế
n
Phối trộn các
loại cặn
Nguyên
liệu chính
Nguyên
liệu phụ
Phụ gia
Cắt nhỏ
Phối trộn ủ sơ
cấp trong bể ủ
ủ nóng
Phân sơ
chế
ủ nguội
Kiểm tra
Phân thành
phẩm
Vờn sinh
thái
Ruộng
l
úa
Chế phẩm
IV. Các mô hình trình diễn:
Thiết bị sản xuất khí sinh học.
Hớng dẫn vận hành thiết bị khí sinh học nắp cố định.
(Bản hớng dẫn của Phòng Khí sinh học - Viện Năng lợng)
1. Yêu cầu về nguyên liệu nạp.
a) Lợng nguyên liệu cần nạp là 10kg/ngày/m
3
phân huỷ.
b) Thành phần nguyên liệu:
- Các loại phân động vật hoặc phân ngời (dạng tơi) không lẫn đất
cát.
14
- Các loại cây xanh (bèo, cây đậu, lạc, rơm rạ, lá rau ) đợc bỏ rễ
và băm nhỏ ủ trớc với phân và tới ẩm từ 5 - 15 ngày tuỳ thời tiết
(trời lạnh phải ủ lâu hơn).
2. Nạp nguyên liệu
a) Kiểm tra áp kế nạp vào lúc áp kế chỉ 10 - 20 cm cột nớc.
b) Bịt miệng ống lối vào ở đáy bể nạp lại.
c) Đổ nguyên liệu vào bể nạp.
d) Đổ thêm nớc theo tỷ lệ: 1lít nớc / kg nguyên liệu. Nếu bể phân
huỷ nối với hố xí cần kể tới cả lợng nớc dội hố xí để bảo đảm tỷ lệ
nớc/ nguyên liệu đã qui định.
e) Trộn đều, đánh tan các cục phân, vớt bỏ rác.
f) Nhấc nắp đậy miệng ống lối vào cho nguyên liệu chảy ào xuống bể
phân huỷ.
g) Dùng sào khuấy trộn nguyên liệu mới nạp qua ống lối vào khoảng 5
- 10 phút bằng cách kéo sào lên xuống.
h) Lấy hết lắng cặn ở đáy bể nạp đi.
3. Lấy bớt dịch đã phân huỷ đi.
a) Hằng ngày phải múc dịch đã phân huỷ ở bể điều áp.
sạch ở phía trên. Thờng xuyên theo dõi để phát hiện chỗ xì khí, nếu
có phải xử lý kịp thời.
b) Không cho nớc xà phòng, các loại thuốc trừ sâu, thuốc khử trùng
hoặc các loại kháng sinh chảy vào bể phân huỷ.
c) Không nạp quá nhiều nguyên liệu một lúc (3- 4 lần lợng nạp hằng
ngày)
d) Không nạp quá nhiều nớc (tỷ lệ 1- 1,5 lít nớc cho 1kg phân)
e) Thờng xuyên giữ cho bếp, đèn sạch sẽ, không bị tắc.
f) Ngọn lửa cháy chập chờn, cột nớc ở áp kế không ổn định là đờng
ống bị tắc vì đọng nớc, cần dốc cho nớc thoát ngợc lại bể phân
huỷ.
g) Chỉ sửa chữa đờng ống khi áp suất khí thấp.
7. Bảo đảm an toàn
a) Phòng chống cháy nổ: hỗn hợp khí sinh học và không khí có thể nổ.
Để phòng nổ cần chú ý:
- Không đốt trực tiếp ở đầu ống dẫn khí. Khi khí bị thoát ra không
khí do đờng dẫn khí hoặc van khí bị hở (phát hiện khi ngửi thấy
mùi hăng) cần tránh đa ngọn lửa tới gần nơi có khí thoát ra.
Nhanh chóng tìm nơi hở để khắc phục. Quạt thông khí cho khí
thoát ra phân tán vào không gian.
- Khi châm bếp, đèn, phải đảm bảo đa lửa tới gần mặt bếp hoặc
mạng đèn mới mở van khí. Nếu làm ngợc lại khí sẽ lan toả trong
không khí và bùng cháy khi gặp lửa, có thể dẫn tới hoả hoạn hoặc
bỏng.
b) Phòng chống ngạt.
Khí sinh học không duy trì sự sống nên có thể gây ngạt. Khi sửa chữa,
làm vệ sinh bể chính cần mở nắp: đợi cho khí thoat hết ra, lấy dịch phân
huỷ ra khỏi bể, quạt thông gió cho thoáng rồi mới đa ngời xuống bể xử
lý. Đảm bảo có thể cấp cứu đa ngời trong bể ra ngoài nhanh chóng nếu
bị ngạt.
.
- Số nhân khẩu trong gia đình: 5 ngời.
- Số đầu lợn hiện có : 10.
- Thiết bị xử lý toàn bộ lợng phân lợn, phân ngời thải ra hàng
ngày. Dự tính lợng phân đa vào xử lý là 1,4kg/đầu lợn x 10lợn =
14kg/ngày
- Bã từ bể điều áp đợc thải trực tiếp ra cống rãnh của xóm.
Theo đánh giá từ phía chuyên gia, thiết bị của gia đình Ông Chiến thiết
kế theo kinh nghiệm chắp vá nên các thông số không ở mức tối u và có một
vài chi tiết sai quy cách.
Chế biến phân hữu cơ từ chất thải.
Hớng dẫn chế biến phân hữu cơ từ phân lợn, phế thải nông nghiệp và làm
nghề.
Hiện nay có ba cách ủ phân chuồng đợc công nhận là thích hợp:
(
I. P. MAMCHENCOP [4])
1. ủ tơi hay còn gọi là ủ nóng:
Trong quá trình ủ đống phân luôn ở trạng thái tơi xốp, thoáng khí, do đó
các vi sinh vật háo khí hoạt động rất mạnh làm cho nhiệt độ trong đống phân
có lúc nóng lên đến 60
0
C. Nhờ nhiệt độ cao nên các chất hữu cơ mau mục,
phân chóng đợc sử dụng, các mầm bệnh và hạt cỏ dại bị tiêu diệt. Cách ủ
theo phơng pháp này nh sau:
- Chọn chỗ đất bằng phẳng, khô ráo, nện nền thật chặt để cho nớc phân
không thấm xuống đất và mất đi, nếu có nền gạch hoặc ximăng càng tốt.
17
- Lót một lớp chất độn ở dới, tốt nhất là rơm rạ, cây cỏ, bèo tây đã đợc
cắt nhỏ và phơi cho bớt nớc. Sau đó đổ một lớp phân lợn, phân trâu bò hoặc
các chất thải làm nghề nh lông và phân chó dày 20 - 30cm. Tiếp tục xếp lớp
phân nên có rãnh và đào một cái hố bên cạnh để chứa nớc phân chảy ra (theo
các rãnh), dùng nớc đó tới lại cho đống phân sẽ rất tốt).
18
Trong phân chuồng trộn ủ, chất lân so với đạm và kali có ít hơn; do đó
khi ủ nên trộn thêm phân lân vào để tăng lợng lân trong phân. Đồng thời trộn
nh vậy đạm trong phân chuồng đỡ bị mất hơn và giúp cho một số vi sinh vật
hoạt động mạnh hơn, nhờ vậy nó phân giải chất hữu cơ nhanh hơn. Lợng ủ từ
20 - 30kg supe lân với 1 tấn phân chuồng (tỷ lệ trộn 2- 3%).
Mô hình cống rãnh hợp vệ sinh và trình diễn chế tạo phân hữu cơ từ
cặn thải làng nghề Cao Xá Hạ.
Phần lớn chất thải chăn nuôi và làm nghề của làng Cao Xá Hạ
không đợc thu gom hoặc xử lý. Đề tài đã chọn một nhánh cống rãnh ô
nhiễm điển hình để xây dựng trình diễn giúp bà con cảm nhận đợc sự
hợp lý của việc làm kín cống rãnh và thu gom chất thải.
Một số đặc điểm các mẫu phân chế tạo từ cặn lắng nớc thải trên mô
hình thí nghiệm.
Bảng 4. Thí nghiệm chế tạo phân hữu cơ từ cặn lắng nớc thải làng
nghề Cao Xá Hạ. (Xem bản hớng dẫn sử dụng EM trang)
TT Mẫu Thành phần Thời
gian ủ
nóng
Thời
gian ủ
nguội
Hiện tợng ban
đầu
1 Mẫu 1 -Cặn lắng: 75-80%
-Bèo tây: 20-25%
10 50 Cặn lắng có mùi
hôi thối nồng nặc,
không đáng kể,
giòi bọ rất ít.
5 Mẫu 5 -Cặn lắng: 72,5-
77,5%
-Bèo tây: 20-25%
-Supe lân: 2,5%
-Tới dung dịch EM
thứ cấp 25% vào
rãnh thải, bể lắng,
bể chứa phân
Mùi hôi thối còn
không đáng kể,
giòi bọ ít.
6 Mẫu 6 -Cặn lắng: 50-55%
-Bèo tây: 20-25%
-Đất bột: 25%
-Tới dung dịch EM
thứ cấp 25% vào
rãnh thải, bể lắng,
bể chứa phân
7 13 Mùi hôi thối còn
không đáng kể,
giòi bọ ít
ứng dụng công nghệ em trong xử lý nớc thải
và chế tạo phân hữu cơ.
Hiệu quả tác dụng của EM.
Hiện nay ngời ta đã phát hiện đợc những hiệu quả tác dụng sau
đây của chế phẩm EM (Trờng ĐHNN 1 Hà Nội, 2001 [10]):
- Bổ sung vi sinh vật cho đât
- Cải thiện môi trờng lý, hoá, sinh của đất và tiêu diệt tác nhân gây
cm lại phun EM.
3. Dùng EM thứ cấp để khử mùi ao tù nớc đọng.
1 mét khối nớc dùng khoảng 50 - 100 ml EM thứ cấp. Đổ EM thứ cấp
đều lên ao, khua nớc cho đều, 1 tháng cho 2 lần.
4. Dùng EM thứ cấp để khử mùi hố tiêu.
Hố tiêu của các gia đình nông dân khoảng 1 mét khối dùng 50 ml (cc)
dung dịch EM thứ cấp pha loãng với khoảng 2 - 3 lít nớc đổ đều trên mặt và
thành hố, sau 3 ngày đổ tiếp lần 2, sau đó cứ khoảng 7 - 10 ngày cho 1 lần
5. Dùng EM thứ cấp pha loãng 500 - 1000 lần phun cho các loại cây
trồng.
Cách 10 ngày phun một lần tăng khả năng chống sâu bệnh, tăng năng
suất của cây. Dùng EM1 pha loãng 0,1% hoặc EM thứ cấp pha loãng khoảng
300 lần ngâm ủ hạt giống hạn chế rất nhiều sâu bệnh của cây trồng.
6. Dùng EM để phòng bệnh cho gia súc, gia cầm.
Dùng EM1 cho vào nớc uống hàng ngày của gà hoặc lợn với tỷ lệ 0,1%,
cũng có thể dùng EM thứ cấp cho vào nớc uống của gà hoặc lợn tỷ lệ khoảng
0,3 - 0,5% (3 - 5 ml EM thứ cấp pha vào 1 lít nớc lã) để cho gia súc, gia cầm
uống tự do sẽ phòng đợc các bệnh đờng ruột do vi sinh vật gây ra và lớn
nhanh, tăng sản lợng trứng.
Chế biến thức ăn gia súc (thức ăn bokashi): các loại tinh bột trộn đều, cứ
1 kg thức ăn tinh cần 1 ml EM1, 1 - 5g rỉ đờng, khoảng 200ml nớc; pha rỉ
đờng, EM1 vào nớc, sau đó trộn đều vào thức ăn, ủ 3 - 5ngày cho gia súc ăn
7. Dùng EM - Bokashi để khử mùi chuồng gà, vịt
Cách làm bokashi: - 1kg cám gạo - 2 - 5g rỉ đờng hoặc đờng phên
21
- 1kg mùn ca - 2ml EM thứ cấp (0,1%EM1)
Hoà tan đờng vào khoảng 400 ml nớc rồi cho EM1, trộn đều cám với
mùn ca, cho
dung dịch trên đảo đều. Khi trộn xong nắm thử lại thành nắm,
dùng tay chạm nhẹ sẽ tan là độ ẩm vừa. Nếu quá khô cho thêm nớc trộn đều
11. Chế biến EM dịch chiết lá cây.
- 2,5% EM1
- 2,5% rỉ đờng
- Khoảng 20- 30% lá cây cỏ xanh non
- Phần còn lại (65- 75%) là nớc.
Cho các vật liệu trên vào can để 3-5 ngày dùng phun cho cây. Nếu trộn
lẫn 50% EM thứ cấp với 50% EM dịch chiết lá cây là tốt nhất. Dung dịch này
pha loãng 500-1000 lần với nớc để phun cho cây.
12. Xử lý rác thải gia đình bằng EM- Bokashi
22
Xử lý rác hữu cơ trong thùng rác 25 lít có vỉ đỡ, có vòi xả nớc ra theo
qui trình chặt chẽ. Hàng ngày bỏ rác vào thùng, san đều và rắc đều lên bề mặt
nớc rác một lớp EM- Bokashi cám khoảng 20- 40 gr rồi ấn chặt rác xuống.
Thể tích rác trong thùng ngót rất nhiều.
Rác gần đầy thùng đợc ủ tiếp 4- 6 tuần sẽ tơi thành mùn và có mùi thơm
đem trộn với phân gia súc, gia cầm để ủ phân; nớc rác cũng có mùi thơm,
nớc rác có thể dùng để khử mùi cống rãnh Nớc rác cần lấy hàng ngày,
không để nớc ngập đến rác, các gia đình có ghi chép hàng ngày vào bảng
theo dõi.
Thí nghiệm dùng EM xử lý nớc thải và chế tạo phân hữu cơ.
Để ứng dụng công nghệ EM trong xử lý môi trờng làng nghề Cao Xá
Hạ, đề tài nghiên cứu thử nghiệm tại hố xí tự hoại của gia đình Ông Đặng Tài
Hà. Bể tự hoại xây 3 ngăn và có dung tích là 3m
3
: cứ 10 ngày cho vào hố 50cc
EM - TC (gồm 5% EM1, 5% mật mía hoặc đờng các loại, 90% nớc), lấy
mẫu theo dõi kết quả thí nghiệm.
Trong chế biến phân hữu cơ : Đề tài sử dụng ruộng nhà Ông Nguyễn
Đức Tự để trình diễn mô hình ủ phân hữu cơ có sử dụng chế phẩm EM.
Các mẫu thí nghiệm đợc mô tả ở bảng 10. Quá trình triển khai công
, sâu 2,5m nên thuộc kiểu ao sinh vật tuỳ tiện. Trong ao sinh vật tuỳ
tiện, theo chiều sâu lớp nớc có thể diễn ra hai quá trình: ôxy hoá hiếu khí và
lên men yếm khí các chất hữu cơ. Trong ao sinh vật tuỳ tiện vi khuẩn và tảo có
quan hệ tơng hỗ và đóng vai trò cơ bản đối với sự chuyển hoá chất ô nhiễm.
Thời gian nớc lu lại trong ao sinh vật khoảng 2 ngày đêm. Về mặt lý
thuyết, trong hồ sinh vật các loại vi khuẩn gây bệnh thờng bị tiêu diệt tới 95 -
99%. Ngời ta thờng tính toán hồ sinh vật theo tải trọng thủy lực. Đối với các
hồ sinh vật tuỳ tiện dùng để xử lý nớc thải có BOD
5
dới 250 mg/l, điều kiện
nhiệt độ không khí 20
0
C, tải trọng thủy lực là 300 - 500 m
3
/ ha.ngđ. Tuy nhiên
trên thực tế lợng nớc thải của làng Cao Xá Hạ khoảng 1000m
3
/ ngày đêm,
ao sinh học có tải trọng thuỷ lực lớn nên việc xử lý chắc chắn không đợc nh
mong muốn mà chỉ có vai trò cải thiện chất lợng nớc thải mà thôi.
Mô hình vờn sinh thái
Muốn bảo vệ hệ sinh thái làng quê Việt Nam theo hớng phát triển nông
nghiệp bền vững thì sản lợng chăn nuôi phải cân đối với trồng trọt. ở làng
nghề Cao Xá Hạ đang thiếu mảng cây xanh; mặt khác nghề chăn nuôi phát
triển rộng khắp gây mất cân bằng và làm bùng phát ô nhiễm. Muốn giải quyết
tận gốc vấn đề này đề tài chủ trơng chuyển 5ha ruộng cấy lúa ở cuối làng
thành mô hình ao vờn theo tỷ lệ 40% ao và 60% vờn với hệ thống khép kín.
Hệ thống ao nuôi các loài cá nớc ngọt: cá rôphi lai, rôphi đơn tính, cá trôi ấn
Độ, cá trê lai. Trên vờn trồng những cây lâu năm xen với cây ngắn ngày có
hiệu quả kinh tế cao nh: bởi, táo, khế, nhót ngọt, nhãn, tre măng, các loài
(200lít/giờ x 8giờ/ngày): 36kg nguyên liệu=44,4lít/kg nguyên liệu, ngày.
Nh vậy, bể xây đúng quy cách không những lợi thế về mặt xử lý cặn
thải mà còn đem lại nguồn chất đốt phong phú phục vụ sinh hoạt gia đình và
làm nghề.
Khả năng xử lý nớc thải và nguồn lợi từ ao sinh học.
Các chỉ tiêu phân tích mẫu nớc từ hai ao sinh học thí nghiệm cho thấy:
- Các mẫu lấy trên ao sinh học khi đang nuôi bèo có giá trị BOD
5
,
COD, cặn lơ lửng, coliform thấp hơn rất nhiều (gần đạt tới giá trị cho
phép) so với mẫu đối chứng (lấy ở thời điểm trớc khi nuôi bèo).
- Các thông số khác (nhiệt độ, pH, chất rắn lơ lửng, photpho tổng, nitơ
tổng ) đều nằm trong giá trị giới hạn cho phép.
- Nếu muốn nớc thải đạt tiêu chuẩn loại B thì phải có phơng án xử lý
tiếp theo (xử lý nhiều bậc) hoặc hoà với nớc thuỷ lợi để nuôi trồng
thuỷ sản và làm nớc tới cho vờn cây, ruộng lúa.
- Ngoài tác dụng làm sạch nớc, việc nuôi cá và thả bèo trên ao cũng
mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngời nông dân.
Khả năng xử lý nớc thải nhờ công nghệ EM.
- Kết quả phân tích mẫu nớc thải lấy từ bể tự hoại cho thấy tác dụng
của chế phẩm EM đã làm cho chỉ tiêu coliform giảm đi hàng trăm lần
so với mẫu đối chứng.
- Cống rãnh xử lý bằng EM đã giảm mùi hôi thối, ít ruồi nhặng.