báo cáo nghiên cứu khoa học ' nâng cao hiệu quả chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội tại thành phố đà nẵng' - Pdf 15

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

52
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG ƯU ĐÃI
HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
IMPROVING THE EFFICIENCY OF LOW-INCOME HOUSEHOLD FINANCIAL
ASSISTANCE PROGRAMME OF DA NANG CITY’S
BANK FOR SOCIAL POLICIES

Võ Thị Thúy Anh, Phan Đặng My Phương
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT
Giảm nghèo và tiến đến xóa nghèo luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của các cấp
chính quyền và của xã hội. Chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo là một trong những chương
trình phục vụ cho mục tiêu giảm nghèo của chính phủ Việt Nam. Bài viết đánh giá hiệu quả của
chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo tại thành phố Đà Nẵng qua hai phương diện: khả năng
quản lý vốn tín dụ
ng ưu đãi hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội nhằm giảm nghèo và
hiệu quả kinh tế xã hội của chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo đối với hộ nghèo. Từ đó,
chúng tôi đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn cho vay của NHCSXH và các giải
pháp nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của chương trình đối với hộ nghèo.
ABSTRACT
Reducing and eliminating poverty always attract the attention of the Government and
society. The financial assistance program for low-income households is one of the programs
conducted by the Government of Vietnam for the benefit of poverty reduction. In this article, we
evaluate the efficiency of this program in Danang city on two aspects: the management ability of
the financial assistance program and its socio-economic efficiency for low-income households.
Then, the solutions to the improvement of loans management efficiency of Vietnam Bank for
Social Policies (VBSP) and the socio-economic efficiency of this program for low-income

vay đúng đối tượng và khả năng thu hồi vốn. Thứ hai, đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội
của chương trình đối với hộ nghèo thể hiện qua các chỉ tiêu như số hộ nghèo được vay
vốn, số hộ thoát nghèo, tác động của vốn vay đến thu nhập của hộ nghèo. Từ thực trạng
hiệu quả
cho vay hộ nghèo của NHCSXH Đà Nẵng, bài viết đưa ra các giải pháp nâng
cao hiệu quả cho vay hộ nghèo.
2. Hiệu quả quản lý vốn vay trong chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo của
NHCSXH Đà Nẵng
NHCSXH có mạng lưới giao dịch rộng khắp, có trụ sở chính đóng tại quận
Thanh Khê, 5 phòng giao dịch tại các quận huyện và 41 điểm giao dịch lưu động tại các
xã phường thuộc thành phố.
Trong năm 2006, dư nợ cho vay hộ nghèo là 228.776 triệu đồng chủ yếu là
cho vay ủy thác qua tổ chức chính trị xã hội. Qua năm 2007, dư nợ là 274.571,43 triệu
đồng tăng 20%. Việc tăng trưởng dư nợ tiếp tục thể hiện qua số liệu năm 2008 với
299.823,35 triệu đồng tương ứng tăng 9%. Trong năm 2009, dư nợ cho vay hộ nghèo là
327.736 triệu đồng tiếp tục tăng 9% so với cùng kỳ năm 2008. Nguyên nhân của tình
hình tăng trưởng chậm này là do việc xét duyệt cho vay còn chậm, tốc độ thu hồi nợ
lớn, do khủng hoảng kinh tế thế giới, nạn thất nghiệp gia tăng.
Số hộ nghèo hiện còn dư nợ trong năm 2008 là 46.650 giảm 2.855 hộ so với
năm 2007, mức dư nợ bình quân trên mỗi hộ vay là 6,2 triệu đồng/hộ, tăng 1 triệu đồng
so với năm 2007.
Từ quý 3 năm 2009 trở đi việc giải ngân cho vay hộ nghèo ở chi nhánh
NHCSXH Đà Nẵng đã có những bước chuyển biến tích cực. Chi nhánh đã tích cực triển
khai thực hiện chủ trương hỗ trợ lãi suất cho vay hộ nghèo. Qua 7 tháng thực hiện chính
sách hỗ trợ lãi suất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, NHCSXH Đà Nẵng đã phối hợp
với UBND, các hội đoàn thể nhận ủy thác triển khai thực hiện rất tích cực, có hiệu quả.
Đến 31/12/2009 tất cả khách hàng vay vốn tại NHCSXH thành phố từ 01/5/2009 đến
31/12/2009, đều được hưởng chính sách ưu đãi hỗ trợ lãi suất 4%/năm trong 24 tháng,
cụ thể doanh số cho vay hộ nghèo là 91.661 triệu đồng, số lãi được hỗ trợ 1.100 triệu
đồng/7.378 khách hàng.

Bên cạnh đó, qua kiểm tra, giám sát các phường, cho thấy một số Ban giảm
nghèo phường làm việc chưa đều tay, cán bộ chuyên trách giảm nghèo chưa nắm chắc
số liệu, tình hình vay vốn, trả nợ của các hộ nên làm hạn chế
việc tham mưu cho Trưởng
ban giảm nghèo, một số thành viên Ban chỉ đạo giảm nghèo thay đổi, thiếu tính ổn định,
cũng làm giảm hiệu quả hoạt động với NHCSXH, do chưa nắm được các văn bản chỉ
đạo từ Chính phủ và của Hội đồng quản trị, NHCSXH.
Đồng thời, ban quản lý Tổ TK&VV chưa tổ chức sinh hoạt tổ đúng quy chế.
Công tác thu lãi phần lớn dồn vào t
ổ trưởng, ít tổ có đủ ban quản lý tổ hoạt động trong
khi có người đủ điều kiện tham gia. Việc lưu giữ hồ sơ pháp lý của các Tổ TK&VV
tại Hội đoàn thể các phường được kiểm tra chưa liên tục, gọn gàng, thiếu tính hệ
thống. Một số Hội công tác theo dõi, quản lý vốn ủy thác tập trung vào Chủ tịch hội,
đến khi Chủ tịch hội đi vắng, thì phó ch
ủ tịch còn lúng túng, nắm không vững tình
hình thực tế. Công tác kiểm tra sử dụng vốn vay chưa được Hội đoàn thể quan tâm
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

55
đúng mức, chưa phát huy được hiệu quả cho công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý các
Tổ TK&VV, sau khi kiểm tra chưa gửi báo cáo kết quả cho NHCSXH trên địa bàn để
phối hợp xử lý.
Qua kiểm kê, đối chiếu nợ còn nhiều trường hợp chưa xác nhận được nợ, chủ
yếu là các khoản nợ cũ trước đây do Chủ tịch phường cũ đứng tên, do bị chiếm dụng
xâm tiêu… Một số địa bàn do trình độ dân trí thấp, do đặc thù người dân làm nghề biển
phải đi dài ngày… nên ít nhiều ảnh hưởng đến tiến độ triển khai công tác đổi sổ vay
vốn.
Quy trình cho vay của NHCSXH được đánh giá là đơn giản, phù hợp với trình
độ của hộ nghèo. Có tới 84,99% số hộ cho rằng quy trình cho vay là rất đơn giản,
12,14% cho rằng đơn giản và 2,43% đánh giá là phù hợp với trình độ của họ. Bên cạnh

1
Theo khảo sát của Võ Thị Thúy Anh và cộng sự với mẫu điều tra 461 hộ nghèo tại thành phố Đà Nẵng,
trong “Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của chương trình tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo của ngân
hàng chính sách xã hội Việt nam - Khảo sát trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ, mã số B2009-ĐN04-36.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

56
3. Hiệu quả kinh tế xã hội của chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo đối với hộ
nghèo tại thành phố Đà Nẵng
2

Trong năm 2007 số lượt hộ nghèo được vay vốn tăng 36% so với năm 2006
tương ứng với 5,762 lượt. Tuy nhiên trong năm 2008 số lượt hộ nghèo được tiếp cận với
vốn vay tại chi nhánh có sự giảm sút chỉ còn lại 11031 và con số này chỉ còn lại 7098
trong năm 2009. Vốn vay đã có những tác động tích cực đến đời sống của các hộ nghèo.
Tác động giảm nghèo
Vốn tín dụng Ngân hàng đã đến 100% xã, phường, hầu hết hộ nghèo và các đối
tượng chính sách có nhu cầu vay đều được đáp ứng vốn, góp phần giảm nhanh số hộ
nghèo năm 2009 từ 19,26% xuống còn 13,68% (giảm 5,58% so với đầu năm- tương ứng
giảm 10.737 hộ nghèo).
Sau khi được vay vốn tại NHCSXH, các hộ gia đình đều rất lạc quan khi có tới
94,46% trong mẫu điều tra cho rằng gia đình mình sẽ thoát nghèo nhờ việc sử dụng tiền
vay cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình.
Thúy Anh (2010) đã vận dụng mô hình Tobit, Logit trong nghiên cứu tác động
của chương trình tín dụng ưu đã hộ nghèo đến xác suất thoát nghèo kỳ vọng. Kết quả
ước lượng cho thấy, số tiền vay có tác động tích cực đến xác suất thoát nghèo kỳ vọng.
Tác động đến việc làm và thu nhập của hộ gia đình
Theo kết qua thu thập được từ 461 hộ nghèo vay vốn, số người tham gia vào các
phương án sản xuất kinh doanh sử dụng vốn vay từ NHCSXH ở các hộ chủ yếu là từ 1

2.11%
0.94%
4.68%
14.29%
0%
5%
10%
15%
20%
25%
0% 0% - 5% 5%-10% 10%-15% 15%-20% 20%-25% 25%-30% 30%-35% 35%-40% trên 40% không xác
định được

Hiệu quả do vốn vay mang lại là rất đáng kể. Theo số kết quả có được từ cuộc
điều tra thì chỉ có 2,11% các hộ không thể cải thiện được thu nhập của mình; các hộ còn
lại đều đã tăng được thu nhập của mình, đặc biệt có tới 0,94% các hộ tăng thu nhập
trên 40%.

2
Trong phần này, bên cạnh nguồn dữ liệu do NHCSXH cung cấp, chúng tôi còn sử dụng dữ liệu từ khảo
sát trực tiếp 461 hộ nghèo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

57
Cùng với việc tăng thu nhập, đời sống của các hộ gia đình cũng được cải thiện
đáng kể. Theo kết quả điểu tra thì có tới 73,29% các hộ cho rằng đời sống của mình
được cải thiện, 13,02% cho rằng cải thiện nhiều và 6,4% cải thiện rất nhiều. Bên cạnh
đó, có 75,82% các hộ cho rằng việc sản xuất kinh doanh của mình phát triển hơn trước,
8,57% cho là phát triển nhiều hơn trước và 5,27% đánh giá công việc phát triển rất
nhiều so với trước khi vay vốn.

- NH cần có sự
phối hợp tốt hơn với các hội đoàn thể, các trưởng thôn, phụ trách
khối phố để đáp ứng tốt nhu cầu vốn của các hộ nghèo, đưa ra mức cho vay và thời hạn
cho vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn của hộ nghèo về thời điểm, mức vay, thời hạn
cho vay, tránh tình trạng phân bổ mang tính bình quân như hiện nay.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

58
- NH cần thực hiện kiểm tra chéo đột xuất giữa các cán bộ tín dụng phụ trách
các khoản vay nhằm tránh tình trạng cán bộ tín dụng “quên” khoản vay.
- NHCSXH phải phối hợp với các hội đoàn thể, tổ vay vốn để kiểm tra tình hình
sử dụng vốn với nhiều hình thức như kiểm tra tại chỗ, kiểm tra định kỳ, kiểm tra chéo,
kiểm tra đột xuất… nhằm có biện pháp xử lý kịp thời những sai sót để uốn nắn, sửa
chữa kịp thời.
- Nâng cao chất lượng nâng cao hoạt động các điểm giao dịch lưu động tại xã,
phường, chất lượng hoạt động ủy thác và chất lượng hoạt động của các Tổ TK&VV.
Đảm bảo 100% giao dịch (giải ngân, thu nợ, thu lãi) được thực hiện tại các điểm giao
dịch. Củng cố và duy trì cuộc họp giao ban theo định kỳ với các tổ chức chính trị xã hội.
Tại điểm giao dịch phải công khai số dư nợ của từng hộ, đặc biệt là số hộ có nợ quá
hạn. Ngoài ra chi nhánh nên thường xuyên phát động các phong trào thi đua: xã,
phường, cán bộ tín dụng không có nợ quá hạn.
- Đối với Tổ TK&VV:
Cần tuyên truyền và hướng dẫn cụ thể về nghiệp vụ, thủ tục lập hồ sơ vay vốn,
cũng như cách quản lý và phương pháp theo dõi trên sổ sách cho các tổ trưởng Tổ
TK&VV. Tùy từng tình hình thực tế của các xã, phường mà các tổ trưởng Tổ TK&VV
thực hiện củng cố, sáp nhập, thành lập tổ mới… Khi hướng dẫn thủ tục vay vốn và tiến
hành bình xét phải tuyên truyền nâng cao nhận thức của nguời vay trong trách nhiệm sử
dụng vốn đúng mục đích và hoàn trả vốn. Định kỳ kiểm tra đối chiếu, theo dõi việc ghi
chép sổ sách của Tổ TK&VV. Xử lý dứt điểm và nghiêm minh trước pháp luật các tổ
trưởng xâm tiêu, chiếm dụng vốn. Hàng tháng duy trì và nâng cao chất lượng các cuộc

4.3. Kiến nghị với NHCSXH Việt Nam
Như đã phân tích ở phần trước, mức cho vay và thời hạn cho vay có tác động
tích cực đến hiệu quả cho vay hộ nghèo. Tuy nhiên, hiện nay hoạt động cho vay của NH
mang tính bình quân với mức cho vay 30 triệu đồng, thời hạn là 2 năm. Mức cho vay
bình quân 30 triệu đồng này đối với một số trường hợp là quá lớn so với nhu cầu nhưng
có trường hợp lại quá nhỏ. Tương tự như vậy, có những dự án vay vốn có thời gian
hoàn vốn dài. Do đó, NHCSXH cần nâng mức cho vay và thời hạn cho vay tối đa và
linh hoạt hơn trong cho vay.
Mô hình cho vay vốn đối với hộ nghèo hiện nay là mô hình cho vay có sự tham
gia của bên thứ 3 của các hội đoàn thể. Tuy nhiên, các tổ chức này tham gia với tư cách
hỗ trợ cho ngân hàng chính sách chứ không tham gia trực tiếp vào quy trình cho vay.
NHCSXH Việt Nam có thể tham khảo mô hình cho vay có sự tham gia của bên thứ 3 là
trạm lâm nghiệp hoặc doanh nghiệp của Trung quốc (SHAO Xi, SU Pingping và TONG
Yunhuan (2009). Trong các mô hình này, trạm lâm nghiệp, trạm khuyến nông, khuyến
ngư doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quy trình cho vay với tư cách là người xác
nhận khả năng sử dụng vốn cho hộ nghèo. Trong trường hợp bên thứ 3 là doanh nghiệp,
doanh nghiệp còn đóng vai trò là người tiêu thụ sản phẩm của hộ nghèo.
5. Kết luận
Chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo đã đạt những thành công nhất định trong
việc góp phần giảm nghèo tại thành phố Đà Nẵng. Vốn vay đã góp phần tăng thu nhập,
cải thiện đời sống, tạo công ăn việc làm, cải thiện hoạt động kinh doanh của hộ nghèo.
Vốn vay đã đến được với hộ nghèo ở các quận huyện trên đại bàn Đà Nẵng. Tuy nhiên,
hiệu quả quản lý vốn vay còn chưa tốt thể hiện qua nợ xấu cao, tình trạng xâm tiêu của
tổ trưởng vẫn còn, mức cho vay, thời hạn cho vay, giải ngân, quy trình thu hồi vốn còn
bất cập. Bài viết đã đề ra các giải pháp đối với NHCSXH Đà Nẵng cũng như đưa ra các
kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, với các hội đoàn thể, với
NHCSXH nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn vay, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay
với hộ nghèo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status