QUAN HỆ THƯƠNG MẠI ĐÀI LOAN – VIỆT NAM TỪ 1990 ĐẾN 2010 - Pdf 15

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI ĐÀI LOAN – VIỆT
NAM TỪ 1990 ĐẾN 2010
Van Ngoc Thanh
(International Conferece: Viet Nam, ASEAN, Taiwan: Quan he da phong va song
phuong), Hue 2011
1. Từ những năm 50 của thế kỷ XX, Đài Loan đã thiết lập được mối quan hệ khá ổn định
với các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, quan hệ thương mại Đài Loan - Việt Nam mới thực sự
được đẩy mạnh từ những năm 90 đến nay. Dù muộn màng nhưng đây là mối quan hệ phát triển
khá mạnh mẽ. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch đầu tư, trong tổng số 92 quốc gia và
vùng lãnh thổ đã đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, Đài Loan hiện là nhà đầu tư lớn nhất[1].Điều
này xuất phát từ nhiều cơ sở.
Trước hết, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế Đài Loan từ những năm 1980 là nhân tố
quan trọng, làm cơ sở cho sự phát triển quan hệ thương mại với bên ngoài, trong đó có Việt Nam.
Đến cuối năm 2007, GDP của Đài Loan (theo cách tính thông thường là 375 tỷ USD) đứng thứ
36 trên thế giới (theo PPP là 690 tỷ USD, đứng thứ 18), tổng ngoại thương đạt khoảng 466 tỷ
USD, nằm trong nhóm 20 nước đứng đầu và dự trữ ngoại tệ với 274,7 tỷ USD, đứng thứ 4 thế
giới[2]. Đài Loan cùng với Nhật Bản, Trung Quốc lục địa Hàn Quốc, Hongkong và Xingapo trở
thành những đầu tàu kinh tế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Năm 1994, Chính quyền Lý
Đăng Huy của Đài Loan đưa ra “Phương hướng tăng cường quan hệ kinh tế và thương mại với
Đông Nam Á”, thường được biết đến như là chính sách “Hướng Nam”. Tiếp đó, tháng 5-2002,
chính quyền Trần Thụy Biển đã đưa ra kế hoạch “Thách thức năm 2008” kêu gọi các nhà đầu tư
trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của Đài Loan. Chương trình này có mục tiêu là
cải thiện toàn bộ các ngành kết cấu hạ tầng cũng như dịch vụ của Đài Loan. Điều này có nghĩa là
Đài Loan sẽ tập trung nhiều hơn vào các ngành công nghệ cao và nhanh chóng chuyển các ngành
cần nhiều lao động ra nước ngoài. Do vậy, lãnh đạo Đài Loan càng khuyến khích các doanh
nghiệp đẩy nhanh chính sách “Hướng Nam”, góp phần tạo nên “làn sóng” đầu tư và thương mại
ở khu vực.
Ở Việt Nam, bên cạnh việc đối mặt với nguy cơ khủng hoảng và sụp đổ vào giai đoạn
1986-1988, các thị trường chính của Việt Nam tại Liên Xô và Đông Âu hầu như biến mất do cơn
chấn động chính trị diễn ra trong những năm 1989 - 1991. Bối cảnh đó đã làm cho cuộc Đổi mới
trở nên cấp thiết, quyết liệt. Việt Nam nhanh chóng tiến hành những cải cách cơ cấu nền kinh tế,

mối quan hệ của Đài Loan với các nước ASEAN và không được chính trị hóa. Như Rodolfo C.
Severino, nguyên Tổng Thư ký ASEAN đã chỉ rõ: “Mối quan hệ đó muốn được tiếp tục duy trì
thì không nên bị chính trị hóa. Có nhiều cách khác nhau để đạt được các mục tiêu về thương mại
của các hiệp định như vậy mà không làm cho người ta hiểu nhầm công nhận Đài Loan là một
quốc gia độc lập. Trong bất cứ trường hợp nào, cần phải cực kỳ cẩn thận trong việc làm đó, bởi
nó sẽ gây ra nhiều hệ lụy về chính trị…”[4].
Việc Việt Nam chính thức gia nhập WTO đã tạo ra cơ hội lớn cho sự phát triển quan hệ
thương mại giữa hai bên. Trong con mắt của các quan chức chính quyền và lãnh đạo doanh
nghiệp Đài Loan, Việt Nam là một thị trường rất gần gũi với họ, nhiều cảng biển, chỉ mất hơn 3
giờ bay và đang ngày càng hấp dẫn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng Đài
Loan cũng thừa nhận tình trạng nhập siêu của Việt Nam trong quan hệ thương mại sẽ còn kéo dài
do cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu song phương khó thay đổi trong tương lai gần[5]. Việt Nam
nhập khẩu nhiều máy móc, thiết bị, đồ gia dụng từ Đài Loan trong khi xuất sang chủ yếu là hàng
nông sản hay thủ công mỹ nghệ giá trị thấp. Đây là một thách thức lớn trong quan hệ thương mại
giữa hai bên.
2. Theo thống kê của Tổng cục thuế quan Đài Loan, tổng kim ngạch mậu dịch Đài Loan -
Việt Nam đã tăng lên liên tục và tương đối ổn định qua các năm. Nếu như năm 1990 kim ngạch
hai chiều chỉ đạt 118.3 triệu USD thì 1 năm sau, năm 1991 đã tăng lên gần gấp đôi (232,3 triệu
USD) đạt tỉ lệ tăng trưởng 96,4%. Đến năm 1992, 1993 kim ngạch hai chiều vẫn tiếp tục tăng.
Đến năm 1995, giá trị kim ngạch có sự tăng lên đột biến, đạt 1,283 tỷ USD, tăng 33,5% so với
năm 1994[6]. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng đột biến này là năm 1995 chính phủ Đài
Loan bắt đầu thực hiện “chính sách hướng Nam”[7], trong đó Việt Nam là một trong những thị
trường được các doanh nghiệp Đài Loan chú ý. Mặt khác, năm 1995, Mĩ đã bình thường hoá
quan hệ với Việt Nam. Các doanh nghiệp Đài Loan coi đó là cơ hội lớn để tiếp cận hàng hoá của
mình vào thị trường này. Ngoài ra, thời gian này các hoạt động khác hỗ trợ cho hợp tác kinh tế
giữa hai nước cũng diễn ra rất hiệu quả như tháng 7-1995 Việt Nam đã tổ chức thành công hai
cuộc hội thảo về biện pháp thắt chặt và hợp tác có hiệu quả hơn nữa sự hợp tác kinh tế giữa Việt
Nam và Đài Loan[8]. Nhờ đó hai bên đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc về quan thuế, về hình
thức đầu tư, nguồn lao động… Từ năm 1996 đến 1997, giá trị kim ngạch hai chiều tiếp tục tăng
với các chỉ số tương ứng là 1,492 tỷ USD và 1,688 tỷ USD song có chiều hướng chững lại và

2002 3.342.967 18,8 2.525.578 817.689
2003 3.664.664 10,9 2.915.487 749.157
2004 4.603.874 25,6 3.698.012 905.862
2005 5.265.121 14,4 4.328.966 936.155
2006 5.790.000 9,9 4.822.000 968.700
Số liệu của bảng 1 cũng cho chúng ta thấy một sự tăng trưởng không cân xứng trong cán
cân thương mại của hai bên, trong đó chiều hướng không có lợi nhiều hơn liên tục nghiêng về
phía Việt Nam. Nghĩa là lợi ích thu được của các doanh nghiệp mậu dịch Đài Loan luôn được
nhiều hơn lợi ích của các doanh nghiệp Việt Nam. Sự chênh lệch đó ngày càng cao và thậm chí
là gấp nhiều lần. Nếu như năm 1990, Đài Loan xuất khẩu sang Việt Nam là 62,7 triệu USD và
nhập khẩu từ Việt Nam là 55,5 triệu USD, đó là một sự chênh lệch không đáng kể. Nhưng từ
năm 1995 trở đi, cán cân thương mại giữa Đài Loan với Việt Nam chênh lệch gấp 3 lần. Mức
thâm hụt mậu dịch của Việt Nam so với Đài Loan qua các năm là: 1995: 743,3 triệu USD (70%
tổng giá trị kim ngạch); 2000: 1,194 tỉ USD (85%); 2005: 3,392 tỉ USD (82,2%); 2006: 3,853
tỉ USD (83,3%). Điều này cho thấy tốc độ xuất khẩu của Đài Loan sang Việt Nam ngày càng
mạnh, trong khi đó tốc độ nhập khẩu của Đài Loan từ Việt Nam lại tăng rất chậm. Đó cũng là
thực trạng chung của nền thương mại Việt Nam trong nhiều năm qua, điều này được chứng tỏ qua
số liệu ở bảng sau.
Bảng 2: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ Đài Loan 1990-2006
Đơn vị: nghìn USD
Năm Tổng kim
ngạch
Xuất khẩu Nhập khẩu
Năm Tổng kim
ngạch
Xuất khẩu Nhập khẩu
1990 5.156,4 2.404,0 2.752,4 1998 20.859,0 9.360,0 11.499,0
1991 4.425,2 2.087,1 2.049,0 1999 23.162,0 11.540,0 11.622,0
1992 5.121,4 2.552,4 2.540,3 2000 29508,0 15.200,0 14.308,0
1993 6.909,2 2.952,0 3.924,0 2001 31.100,0 15.100,0 16.00,0

tuy có tăng về giá trị kim ngạch nhưng tăng rất chậm và nếu như so sánh trong sự đối sánh với
10 quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu lớn hàng hoá từ Việt Nam thì Đài Loan không hề cải
thiện được vị trí, trái lại đứng gần như ở vị trí sau chót trong bảng xếp hạng. Đài Loan chỉ đứng
vị trí thứ 9 trong 10 nước có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất từ Việt Nam. Thứ bậc đó đang phản
ánh một sự yếu kém nhiều mặt từ phía Việt Nam, từ khâu tiếp thị, quảng bá cho đến chất lượng
hàng hoá của Việt Nam đối với thị trường Đài Loan.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam thì Đài Loan hiện là bạn hàng lớn
thứ 5 của Việt Nam sau Trung Quốc, Nhật Bản, Mĩ, Singapo. Còn theo số liệu thống kê của Tổng
cục Thuế quan Đài Loan thì kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam - Đài Loan cũng
chiếm một vị trí tương đối trong khu vực Đông Nam Á, chiếm khoảng 5,82%. Thị phần của Việt
Nam hiện xếp thứ 6 sau Singapo, Malaixia, Thái Lan, Inđonexia, Philippin trong tổng kim ngạch
buôn bán giữa Đài Loan với 10 nước Đông Nam Á.
Bảng 3: Kim ngạch mậu dịch của Đài Loan với 10 nước Đông Nam Á năm 1991 và 2006
Đơn vị: triệu USD
Tổng thương mại Xuất khẩu Nhập khẩu
1991 2006 1991 2006 1991 2006
Brunây 66,68 15,92 4,84 13,73 61,84 2,19
Inđônêxia 2,441.53 15,92 1,207.20 2,499.41 1,234.32 5,204.25
Campuchia 0,04 466,30 0,0012 458,49 0,04 7,81
Lào 272 42,03 1,86 2,50 0,86 39,52
Mianma 21,18 116,81 2,68 67,83 18,50 48,98
Malaixia 2,874.20 10,992.85 1,464.84 4,941.33 1,409.35 6,051.51
Philippin 1,083.32 7,259.85 848.01 4,484.34 235.30 2,775.51
Xingapo 3,849.32 14,384.94 2,403.47 9,279.40 1,445.84 5,105.54
Thái Lan 2,030.98 7,893.89 1,444.85 4,576.51 586,12 3,317.37
Việt Nam 232,34 5,719.16 152,28 4,869.22 80,06 849,93
ASEAN 10 12,602.34 54,595.45 7,530.07 31,192.81 5,072.26 23,402.64
Việt Nam chiếm (%) 1.84 10.4 2.02 15.6 1.57 3.63
Nguồn: Bộ Tài chính Đài Loan
3. Hiện Đài Loan là một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam, giá trị kim ngạch

7.373.199.000 USD, trong đó xuất khẩu đạt: 1.120. 643.000 USD, chiếm tỷ trọng cao nhất theo
thứ tự là: hàng Dệt may (215,5 triệu USD); hàng Hải sản (98,616 triệu USD); Gạo ( 81,616
triệu USD); Máy móc, thiết bị phụ tùng khác (62,978 triệu USD); Giấy và các sản phẩm từ giấy
(62,845 triệu USD). Nhập khẩu đạt: 6.252.556.000 USD, chiếm tỷ trọng cao nhất theo thứ tự là:
Xăng dầu các loại (1.001,555 triệu USD); Vải các loại (785,671 triệu USD); Sắt thép các loại
(717,627 triệu USD); Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (648,604 triệu USD); Chất dẻo
nguyên liệu (455,318 triệu USD).
Bảng 4: Số liệu kim ngạch nhập khẩu của Đài Loan từ Việt Nam năm 2010[17]
Tên hàng Đơn vị tính Kim ngạch
Ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống USD 5,040
Đá quý, kim loại quý và Sản phẩm USD 15,277,649
Bánh, kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc USD 15,814,892
Cà phê Tấn 2,315,036
Cao su Tấn 102,645,085
Chất dẻo nguyên liệu Tấn 3,588,949
Chè Tấn 26,484,473
Dây điện & dây cáp điện USD 7,405,660
Gạo Tấn 142,704,502
Gỗ và Sản phẩm từ gỗ USD 48,889,501
Giày dép các loại USD 45,417,119
Giấy các loại USD 17,158,501
Hàng rau quả USD 19,981,236
Hàng thủy sản USD 110,725,330
Hạt điều Tấn 10,991,665
Hạt tiêu Tấn 820,481
Hóa chất USD 5,874,244
Hàng hóa khác 285,679,160
Hàng hóa khác 41,462
Hàng hóa khác 1,208,666
Hàng hóa khác 43,868

Nguyên nhân của tình trạng này là do: Trước hết, về chủ quan, Việt Nam đi lên từ một nền kinh
tế thấp kém, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu dẫn đến chất lượng hàng hoá khó có được điều kiện để
cạnh tranh với một nền kinh tế phát triển cao hơn. Hơn nữa, trình độ tổ chức quản lý kinh tế của Việt
Nam còn yếu, từ khâu tiếp thị, đến phân phối hàng hoá… Việt Nam chưa thể tạo lập và hình thành
được những mạng lưới phân phối đủ mạnh có hệ thống và có thương hiệu ở thị trường Đài Loan; chưa
nắm bắt được thị hiếu tiêu dùng của người dân Đài Loan như các doanh nhân Đài Loan đã nắm bắt ở
thị trường Việt Nam. Kinh tế Việt Nam vốn đang trong giai đoạn chuyển đổi, các tiêu chuẩn về chất
lượng hàng hoá còn hết sức mập mờ, chưa minh bạch, rõ ràng. Với Đài Loan, Việt Nam là một thị
trường “dễ tính” cho nên hàng hoá của Đài Loan khi nhập vào Việt Nam được dễ dàng chấp nhận hơn
nhiều so với chiều ngược lại. Hai là, hàng hóa của Việt Nam khi xâm nhập vào thị trường Đài Loan
gặp phải trở ngại lớn từ một đối thủ khổng lồ Trung Quốc. Họ không chỉ thuận lợi hơn ta về mặt
giao thông vận tải, về tình “máu mủ ruột rà” mà về cả quy mô, chủng loại, đặc biệt là về giá cả
cũng đều vượt trội so với hàng hoá của Việt Nam. Đây là một thực tế trong cuộc cạnh tranh không
khoan nhượng của “luật chơi” thị trường tự do vốn rất “lạnh lùng”. Giải quyết được các vấn đề này
là không đơn giản, một sớm một chiều.
TÓM TẮT
Quan hệ thương mại Đài Loan - Việt Nam mới thực sự được đẩy mạnh từ những năm
1990 đến nay nhưng đây là mối quan hệ phát triển khá mạnh mẽ.Điều này xuất phát từ nhiều cơ
sở. Đó là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế Đài Loan từ những năm 1980 và chính sách ưu tiên
mở rộng quan hệ với khu vực Đông Nam Á; công cuộc đổi mới ở Việt Nam; sự thay đổi của tình
hình thế giới cũng như sự trỗi dậy của Trung Quốc lục địa.
Từ năm 1990 đến nay, quan hệ thương mại Đài Loan - Việt Nam phát triển nhanh chóng, mạnh
mẽ, thể hiện rõ qua kim ngạch xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, do trình độ kinh tế còn thấp nên Việt
Nam là nước chịu thiệt thòi hơn. Điều này thể hiện cả trong cán cân cũng như cơ cấu mặt hang
xuất nhập khẩu của hai bên.
[1] Theo Đài Loan là nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam,http://www.tinkinhte.com/tai-chinh-dau-
tu/tin-dau-tu-viet-nam/dai-loan-la-nha-dau-tu-lon-nhat-vao-viet-nam.nd5-dt.137663.123126.html
: Sau hơn 20 năm kể từ khi có Luật đầu tư ra nước ngoài, tính đến hết năm 2010, Việt Nam có
12.213 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 192,92 tỷ USD. Sau khi rà soát lại toàn bộ
nguồn vốnFDI này, Đài Loan đã vượt lên trở thành nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất vào

Chính phủ Trung Quốc và Đài Loan, Tập đoàn sẽ không ngần ngại tập trung đầu tư thêm vốn vào
Trung Quốc, và sẽ chậm tiến độ đầu tư tại một số thị trường khác. Mặc dù không nói rõ là thị
trường nào, nhưng có thể hiểu đó là thị trường Đông nam Á, trong đó có Việt Nam.
4. Tập đoàn Formosa sẽ tập trung nguồn vốn (291,8tỷ đài tệ = 9,1 tỷ USD) để liên doanh với
Sinopec Trung Quốc xây dựng cơ sở hóa dầu, sản xuất các loại sản phẩm nhựa. Như vậy, dự kiến
ban đầu của Formosa xây dựng cơ sở lọc dầu tại Việt Nam sẽ bị đình hoãn và tiến độ đầu tư tại
Hà Tĩnh Việt Nam sẽ bị chậm lại do thiếu vốn.
5. Chủ tịch Tập đoàn Foxconn Quách Đài Minh đã được Bí thư Thành ủy thành phố Trùng
Khánh, ông Bạc Hy Lai (nguyên Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc) mời chào và đã quyết định
đầu tư 4 tỷ USD vào Trùng Khánh…
[4] Rodolfo C. Severino, Phát biểu tại Diễn đàn An ninh Châu Á-Thái Bình Dương, Đài Loan,
30/8/2007 (Dẫn theo Tạ Minh Tuấn,Vai trò của Đài Loan đối với việc phát triển kinh tế của các
thành viên ASEAN mới: Trường hợp của Việt Nam, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 9, 2008).
[5] Đài Loan điều chỉnh chiến lược đầu tư vào VN, http://vnexpress.net/gl/kinh-
doanh/2006/12/3b9f1c64/
[6] http://www.cus.trade.gov.tw
[7] Chính sách hướng Nam của Đài Loan xem mở rộng và phát triển kinh tế ra bên ngoài là mũi
nhọn cho chiến lược phát triển kinh tế lâu dài và Đông Nam Á được coi là thị trường trọng tâm
trong chính sách xuất khẩu.
[8] Phạm Quyền, Lê Minh Tâm, Hướng phát triển thị trường XNK Việt Nam tới năm 2010, NXB
Thống kê, Hà Nội 1997, tr. 153.
[9] Kim ngạch XNK giữa Việt Nam - Đài Loan năm
2009,http://www.ttnn.com.vn/country/265/news/25810/kim-ngach-xnk-viet-nam-dai-loan-nam-
2009.aspx(26/02/2010)
[10] Kim ngạch xuất nhập khẩu 11 tháng năm 2010 giữa Việt Nam và Đài Loan đạt gần 7,6 tỷ
USD,
http://www.ttnn.com.vn/country/265/news/29180/kim-ngach-xnk-11-thang-nam-2010-giua-viet-
nam-va-dai-loan.aspx (23/12/2010)
[11] Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam,
http://fia.mpi.gov.vn/Default.aspx?ctl=FIAs&TabID=4&mID=237


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status