quan hệ thương mại của người việt với người hoa và người nhật ở hội an thế kỷ xvii - Pdf 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH


PHẠM THỊ BÍCH THẢO

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI CỦA NGƯỜI VIỆT
VỚI NGƯỜI HOA VÀ NGƯỜI NHẬT
Ở HỘI AN THẾ KỶ XVII Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã sỗ : 602254
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ THANH THANH
MỤC LỤC

0TLỜI CAM ĐOAN0T 2
0TMỤC LỤC0T 3
0TPHẦN MỞ ĐẦU0T 5
0T1.Mục đích nghiên cứu khoa học.0T 5
0T2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.0T 6
0T3. Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu.0T 11
0T4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.0T 13
0TCHƯƠNG 1: HỘI AN – ĐIỂM ĐẾN CỦA CÁC THƯƠNG NHÂN0T 15
0T1.1. Điều kiện tự nhiên.0T 15
0T1.1.1.Vị trí địa lý.0T 15
0T1.1.2.Điều kiện tự nhiên và đặc điểm thủy văn vùng cửa biển.0T 17
0T1.1.3. Nguồn sản vật địa phương.0T 20
0T1.2. Điều kiện xã hội.0T 22
0T1.2.1. Lịch sử hình thành thương cảng Hội An.0T 22
0T1.2.2. Đặc điểm cư dân và sinh hoạt kinh tế.0T 24
0T1.2.3.Chính sách của chính quyền Đàng Trong.0T 26
0TCHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA THƯƠNG NHÂN VIỆT - NHẬT - HOA Ở HỘI AN0T 31
PHẦN MỞ ĐẦU

1.Mục đích nghiên cứu khoa học.
Hội An – Faifo từ lâu đã là địa danh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam và được nhắc tới
trong nhiều tài liệu nước ngoài. Từ trước thế kỷ XV, nơi đây là một cảng trọng yếu của
Champa và sau đó, trong khoảng thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Hội An trở thành một trung
tâm giao lưu kinh tế - văn hóa phát đạt bậc nhất của Việt Nam. Thuyền buôn và thương nhân
nhiều nước Á, Âu đã đến đây buôn bán, lập thương điếm, dựng phố xá.
Vào các thế kỷ XV, XVI, XVII, do những điều kiện lịch sử đương thời ở Việt Nam và
thế giới, nhiều thương nhân ngoại quốc đã đến Hội An để trao đổi, buôn bán. Trong số đó, có
thương nhân chỉ đến buôn bán theo mùa nhưng không ít người đến định cư tại đây để làm ăn
sinh sống. Từ đầu thế kỷ XVII, người Nhật, người Hoa đã dựng nhà, lập phố đan xen với
phố xá nhà cửa và xóm chài của người Việt.
Vào thời điểm đó, nước Đại Việt có bốn trung tâm buôn bán lớn với người ngoại quốc
là Kẻ Chợ, Phố Hiến ở Đàng Ngoài và Đà Nẵng (Touran), Hội An (Faifo) ở Đàng Trong.
Trong bốn địa điểm ấy, Hội An là nơi buôn bán sầm uất nhất – nơi vẫn được các thương gia
ngoại quốc đã từng một lần ghé đến ca tụng như là một đầu mối giao thông, thương mại bằng
đường biển quan trọng bậc nhất xứ Đàng Trong. Sức thu hút của Hội An đối với các thương
nhân ngoại quốc trước hết ở vị trí thuận lợi vì Hội An là một trong những cảng thị nằm trên
con đường tơ lụa trên biển và phát triển trong hệ thống thương mại châu Á. Quan trọng hơn,
Hội An là một kho hàng lớn có thể cung cấp nhiều mặt hàng, đáp ứng nhu cầu của thuyền
buôn các nước. Chính vì thế, từ thế kỷ XVII Hội An đã sớm khẳng định được vị trí của một
cảng thị quốc tế, trở thành thương cảng lớn nhất Đàng Trong, mở cửa đón nhận các thuyền
buôn nước ngoài ở phương Đông và phương Tây. Đây được coi là: “hải cảng đẹp nhất, nơi
tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng”. [2, tr. 91]
Bên cạnh đó, để khuyến khích ngoại thương, chúa Nguyễn đã tạo điều kiện thuận lợi
nhất định cho các đoàn thuyền buôn ngoại quốc từ Phúc Kiến, Macao, Nhật Bản, Manila,
Campuchia…đến trao đổi hàng hóa. Nhưng theo C. Borri thì: “Người Tàu và người Nhật là

mảng khác nhau về Hội An đặc biệt là về hoạt động kinh tế. Tuy nhiên chưa có tác phẩm nào
đề cập một cách cụ thể đến mối quan hệ thương mại của người Việt với người Nhật và người
Hoa ở Hội An thế kỷ XVII một cách chi tiết, đầy đủ.
Nhìn lại sau hơn 70 năm, việc nghiên cứu về Hội An có thể chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn I _ Từ 1919 đến 1975. Đó là những công trình đơn lẻ của một số nhà nghiên
cứu ở trong và ngoài nước đã đến khảo sát trực tiếp ở Hội An. Nhưng chủ yếu là những vấn
đề lịch sử Hội An trong hai thế kỷ XVII – XVIII, khai thác tỉ mỉ về phố Khách, Hoa thương
và các công trình kiến trúc của người Hoa. Những vấn đề khác ít được quan tâm hoặc không
được đề cập đến.
Một số giáo sĩ cũng như thương nhân nước ngoài có dịp đặt chân đến đã ghi chép lại
và miêu tả trong một số bản đồ, tư liệu phương Tây từ đầu thế kỷ XVII. Theo các nguồn tư
liệu hiện biết thì có lẽ Hội An lần đầu tiên được vẽ trên bản đồ với tên Faifoo khoảng năm
1666 do Pieter Goos thực hiện.
Bài viết đầu tiên về phố cảng Hội An là Le Vienx Faifo của bác sĩ Sallet đăng trên tập
san BAVH năm 1919. Hơn 30 năm sau, cũng trên tập san BAVH, Nguyễn Thiệu Lâu đã có
sự nghiên cứu về sự hình thành và diễn biến làng Minh Hương ở Hội An. Tác giả đã dựa trên
các văn bia, gia phổ các bài viết chưa công bố và tập tài liệu “Thương Tàu vãn lệ” để xây
dựng bản khảo cứu về Hội An. Tác giả đã làm rõ các vị tiền hiền có danh tính trong “thập
lão”, “tam gia” với quá trình chuyển cư đến Hội An vào các thế kỷ XVI – XVII cùng quá
trình mở rộng diện tích đất của làng Minh Hương.
Năm sau, trên tập san BEFFO, Nguyễn Thiệu Lâu lại chú ý khai thác phố và cảng Hội
An vào thế kỷ XVII trong 5 trang báo. Tác giả đã xác định các bến đỗ của tàu thuyền bên
sông Hội An và giới thiệu quá trình hình thành, diễn biến và xác lập phố Khách của Hoa
thương tại Hội An.
Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa) – Giáo sư Sử học người Trung Quốc đã đăng trên tập
chí Tân Á học báo xuất bản ở Hồng Kông bài khảo cứu dài về Phố Khách ở Hội An và
Thương nghiệp thế kỷ XVII – XVIII

Giai đoạn II _ Từ năm 1975 đến nay, đặc biệt sôi nổi là trong thập niên 1980 – 1990,
nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tổ chức khoa học đã đến với Hội An. Ngoài một số bài công bố
ở các tạp chí, đã có hai cuộc hội thảo quan trọng về đô thị cổ Hội An, quy tụ hầu hết các nhà
khoa học ở trong và ngoài nước có quan tâm nghiên cứu Hội An, để lại những thành tựu
khoa học quan trọng và những tác dụng thực tiễn cho Hội An.
Năm 1985, Hội thảo quốc gia về Hội An được tổ chức ở Hội An nhân dịp thương cảng
này được Chính phủ Việt Nam công nhận là khu di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia.
Tiếp đó, năm 1990 Hội thảo quốc tế về phố cổ Hội An ở Đà Nẵng đã mở ra một bước
ngoặt trong nghiên cứu về Hội An. Với sự tham gia của nhiều nhà khoa học thuộc nhiều
chuyên môn khác nhau như địa lý, địa chất, khảo cổ học, sử học, kiến trúc đến văn hóa, nghệ
thuật….Hội thảo đã nâng cao tầm hiểu biết về các giá trị của Hội An và đặt ra nhiều vấn đề
mới cuốn hút các nhà khoa học.
Hội thảo quốc tế về phố cổ Hội An năm 1990 là cơ hội để các nhà khoa học Việt Nam
và nước ngoài trao đổi những kết quả nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành. Các nhà khoa
học nước ngoài đem đến hội thảo nhiều nguồn tư liệu mới liên quan đến Hội An như: Ogura
Sadao với bức tranh “Giao chỉ quốc mậu dịch hải đồ” và “Thác kiến quan thế âm”, Chihara
Daigaro với những công trình kiến trúc mô tả trong “Giao chỉ quốc mậu dịch hải đồ” nói lên
được một phần tình hình buôn bán của thuyền Châu ấn (Shuinsen) thời Tokugawa. Các công
trình nghiên cứu của Shigeru Ikuta với “Vai trò của các cảng thị vùng ven biển Đông Nam Á
từ đầu thế kỷ II đến đầu thế kỷ XIX”, “Hội An và cư dân Nhật trước đây” của Yoshari, “Tìm
hiểu mối quan hệ Nhật – Việt qua gốm sứ” của Hasebe Gakyji… Đặc biệt, rất nhiều báo cáo
của các học giả trong nước và nước ngoài tại Hội thảo đã cung cấp nguồn sử liệu có giá trị
khác như: “Người Nhật, phố Nhật và di tích Nhật Bản ở Hội An” của Vũ Minh Giang,
“Quan hệ và phương thức buôn bán giữa Hội An với trong nước” của Đỗ Bang…Các bài
viết của các tác giả tham gia hội thảo đem lại nhiều nguồn tư liệu mới về mặt khảo cổ học và
văn hóa, về lịch sử hình thành cũng như quá trình phát triển của đô thị cổ Hội An.
Năm 1999, Hội thảo quốc tế Quan hệ Việt – Nhật qua giao lưu gốm sứ được tổ chức

XVI, XVII” đã đề cập chi tiết về hoạt động trao đổi, buôn bán của người Nhật với chính
quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Không những thế, Hội An còn được nhìn nhận một cách tổng thể qua bài viết của
Nguyễn Phước Tương trong “Hội An – Di sản văn hóa thế giới” hay “Hội An” của Nguyễn
Văn Xuân…
Tuy nhiên, tìm hiểu về mối quan hệ thương mại của người Việt với người Nhật và
người Hoa còn liên quan đến vấn đề ngoại thương Việt Nam thế kỷ XVII, phản ánh sự trao
đổi, buôn bán giữa Việt Nam với các nước. Một số tác giả như Thành Thế Vỹ với cuốn
“Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX”, Nguyễn Thế Anh với
“Kinh tế xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn” cho chúng ta thấy tình hình kinh tế
hàng hóa của Việt Nam hồi thế kỷ XVII cũng như thái độ của nhà nước đối với các lái buôn
nước ngoài, đặc biệt là địa vị của thương gia Hoa kiều trong nền ngoại thương Việt Nam.
Tác phẩm “Xứ Đàng Trong Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII”của
LiTana cung cấp rất nhiều tư liệu về vùng đất Đàng Trong, các thương gia nước ngoài và
hoạt động thương mại.
Tác giả Đỗ Bang trong “Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII – XVIII” đã dành
một chương về Hội An, giúp chúng ta có cái nhìn bao quát hơn về Hội An với các cảng thị
cùng thời.
Ngoài ra, rất nhiều bài nghiên cứu có đề cập đến mối quan hệ kinh tế của người Việt
với người Nhật, người Việt với người Hoa được đăng trên các tạp chí như Tân Á học báo,
Việt Nam khảo cổ tập san, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông
Bắc Á. Trong đó có một số bài viết đề cập khá chi tiết về mảng kinh tế ở Hội An như “Đô thị
cổ Hội An – mấy đặc điểm kinh tế - xã hội” của Phan Đại Doãn, “Phố người Đường cùng
nền thương nghiệp của họ vào thế kỷ XVII – XVII ở Hội An” của Trần Kinh Hòa đã phản ánh
phần nào nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Như vậy, việc nghiên cứu Hội An khá phong phú song chưa có một tác phẩm nào đề
cập mối quan hệ thương mại giữa ngườiViệt với người Nhật và người Hoa ở Hội An thế kỷ

diện mang tính chủ quan của giới thương nhân, giáo sĩ, sư sãi, quan chức…nhưng tập hợp lại
thì đó là bức tranh đa dạng, phong phú, phản ánh nhiều mặt của đời sống xã hội ở Đàng
Trong. Đây là nguồn tài liệu quan trọng cần được khai thác triệt để như Cristoforo Borri
(1618 – 1621), Alexandre de Rhodes (1624 – 1627, 1640 – 1654), Thích Đại Sán (1695 –
1696)….
Ngoài ra tôi còn chú ý tới nguồn tư liệu đã được công bố trong các công trình khoa
học ở nhiều nước, đặc biệt được giới thiệu và trích đoạn trong hai cuộc hội thảo quốc tế ở
Việt Nam: Hội An (1990), Phố Hiến (1992). Thêm vào đó, tôi còn tham khảo các công trình
khoa học như các luận án Phó tiến sĩ, Tiến sĩ có liên quan như:
- Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII – XVIII của Đỗ Bang, 1993.
- Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản thế kỷ XVI – XVII của Trịnh Tiến Thuận, 2002.
- Tìm hiểu các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam trong bối cảnh lịch sử Đông Nam Á
của Châu Thị Hải, 1989.
- Phố cổ Hội An và việc giao lưu văn hóa của Việt Nam của Nguyễn Quốc Hùng, 1993.
Đề tài cũng sử dụng một số hình ảnh trên internet. Tuy đây là nguồn tư liệu vô cùng
phong phú nhưng cần có sự so sánh, đối chiếu với các nguồn tư liệu khác để thẩm tra. Có
như vậy mới đảm bảo tính chính xác và khoa học cho đề tài.
Nguồn tài liệu nói trên đã cung cấp những thông tin hết sức quý giá giúp cho luận văn
được hoàn chỉnh. Tuy nhiên, một số vấn đề do tư liệu hiện có còn hạn chế nên chưa được
giải quyết thấu đáo. Mong rằng trong thời gian tới, với những phát hiện mới của các nhà
nghiên cứu, những vấn đề này sẽ được sáng tỏ hơn.
Trong quá trình hoàn thành đề tài, tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
1. Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đặt Hội An trong hệ thống cảng biển Việt Nam
cũng như tình hình thương nghiệp Đàng Trong thế kỷ XVII để nghiên cứu. Coi Hội An là
thương cảng lớn nhất Đàng Trong, ra đời và thịnh đạt trong thế kỷ XVII trên một vị trí địa lý
và bối cảnh lịch sử trong nước cũng như khu vực có nhiều thuận lợi.
2. Phương pháp liên ngành: Trong quá trình thực hiện đề tài, việc kết hợp hai loại tài


Vào thế kỷ XVI – XVII, Hội An là một trong những trung tâm kinh tế thương mại
quan trọng của nước ta. Trong quá trình đi tìm thị trường, thương nhân các nước đã chọn nơi
đây làm đầu mối trao đổi hàng hóa, khiến nó trở thành một trung tâm buôn bán của khu vực
miền trung và cả nước. Hội An đã hội đủ những nhân tố khiến cho nó có vị trí quan trọng
trong hệ thống thương mại với nước ngoài và là nơi hấp dẫn đối với những thương nhân
ngoại quốc vào thế kỷ XVI, XVII.
1.1. Điều kiện tự nhiên.
1.1.1.Vị trí địa lý.
Là một quốc gia nằm ở vùng bán đảo, Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.200
km. Bằng đường biển và giao thương trên biển, Việt Nam có quan hệ với nhiều quốc gia
trong khu vực và mối quan hệ đó đã trở nên rộng mở vào thế kỷ XVI – XVIII khi các tuyến
thương mại thế giới chạy qua vùng lãnh hải Việt Nam.
Thế kỷ XV – XVII được coi là thời đại thương mại (the Age of Commerce). Ở
Châu Á, từ thời cổ đại và trung đại, ngoài những con đường giao thương trực tiếp giữa các
quốc gia, đã sớm hình thành hai hệ thống giao lưu kinh tế - văn hóa lớn là “con đường tơ lụa
trên bộ” và “con đường tơ lụa trên biển”. Từ thế kỷ VIII – IX do thuận tiện của đường biển
và do những tiến bộ của kỹ thuật hàng hải, “con đường tơ lụa trên biển” ngày càng chiếm ưu
thế. Hệ thống thương mại Á châu này có quan hệ và tác động đến quan hệ giao thương của
các nước châu Á, nhất là những nước ven bờ đại dương như Việt Nam.
Từ khoảng thế kỷ VII – VIII, Đàng Trong đã trở thành địa chỉ hấp dẫn các thuyền
buôn Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập…đến trao đổi buôn bán. Trong Tân Đường thư, Địa lí chí, ở
thế kỷ VII – X, trên con đường từ Quảng Châu đến Bagda (Ả Rập), thuyền bè quốc tế Trung
Hoa, Ba tư, Ả Rập, Srivijaya (Giava) bao giờ cũng ghé qua Chiêm Bất Lao (Cù lao Chàm –
cửa Đại – cửa Hàn ). Có thể nói, người Chăm đã có cái nhìn về biển đúng đắn, biết tham dự
và dấn thân tích cực vào luồng thương mại quốc tế trên biển.[46, tr.5]
Với một vị trí địa – thương mại được xác lập từ sớm trong lịch sử, thương nhân các
nước Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập… cũng đã quen thuộc với thị trường này. Đến thế kỷ XV –
Nam nói riêng và Đàng Trong nói chung.
Nếu cả miền Trung là một ngôi nhà thì mặt tiền của nó mở ra biển và cửa chính là
Hội An – Đà Nẵng. Điều này tự nó đã nói lên yếu tố “thị” và vai trò của nó trong sự đi lên
của các tỉnh miền Trung. Vào thời chúa Nguyễn đã có nhiều điểm thương mại dọc theo ven
biển miền Trung nhưng vị trí trung tâm vẫn là Hội An – Đà Nẵng. Hội An là trung độ của cả
nước, đồng thời có đường biển nối liền các nước ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vì
thế thật dễ hiểu khi từ thế kỷ XVI – XVII thương nhân nước ngoài đến đây thường xuyên với
số lượng nhiều nhất như người Trung Quốc, người Nhật, người Hà Lan….
Tất cả tình hình thế giới và khu vực trên đều tác động đến nền ngoại thương Việt
Nam nói chung và đời sống của thương cảng Hội An nói riêng. Với vị trí gần bên con đường
hàng hải quốc tế sôi động đương thời, với những bến cảng tốt và với sự trù phú của xứ
Quảng, Hội An đã nhanh chóng gia nhập vào các hoạt động mậu dịch quốc tế trong khu vực.
1.1.2.Điều kiện tự nhiên và đặc điểm thủy văn vùng cửa biển.
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, Hội An mang tính chất một thành phố sông với đặc
điểm vừa hội nhân vừa hội thủy, vừa cận thị lại vừa cận giang. [45, tr. 51 – 61]
Dưới sự tác động tự nhiên của sông, biển và một phần của con người, từ đầu Công
nguyên đến nay đã làm cho vùng cửa sông Thu Bồn phát triển nhanh chóng theo phương
thức delta lấp đầy, hình thành các cồn cát với đồng lầy.
Vào khoảng đầu Công nguyên, lúc biển tiến đạt tới mức cực đại thì vùng cửa sông
Thu Bồn là một vụng biển, cửa sông loe như hình phễu. Dấu vết rõ rệt của vụng biển cổ đó là
vùng đầm lầy Trà Quế (Cẩm Châu). Sau đó, biển rút dần và các địa hình có nguồn gốc khác
nhau được tạo thành. Những địa hình cao con người có thể sinh sống được lúc bấy giờ là ven
bờ vụng biển, là các thềm tích tụ biển rải rác và thành một dải dọc theo chân bờ xói lở. Thềm
tích tụ biển tương đối cổ và cao là doi cát từ Hội An đến Cồn Tàu. Hai bên bờ bắc và nam
cửa Thu Bồn, hai dải tích tụ cát nhô lên khỏi mặt nước, biến vùng nước phía trong thành các
đầm phá.
Thế kỷ XVII, cửa sông Thu Bồn đổ ra biển qua hai cửa: Đại Chiêm hải khẩu (cửa Đại)

Một yếu tố nữa cũng tác động không nhỏ tới hoạt động và diện mạo đô thị thương
cảng vì vùng thượng nguồn sông Thu Bồn nằm lọt vào một trong những trung tâm mưa lớn ở
nước ta. Tâm mưa được xác định tại khu vực Trà Mi, nên lượng nước sông Thu Bồn rất lớn
và lớn nhất ở miền Trung Việt Nam. Hàng năm, sông Thu Bồn đổ ra biển gần 80 km
3
nước.
Lượng nước trên tập trung tới 80 – 90 % vào các tháng 9 – 12. Do cửa sông Thu Bồn hẹp,
lượng nước lớn lại dồn dập vào một thời gian ngắn nên vùng Hội An thường hay lũ lụt. [6, tr.
90 – 91] Ảnh hưởng của điều kiện địa lý và khí hậu địa phương, cộng với hoạt động kinh tế
trở thành đòi hỏi tất yếu kiến trúc dựng trên địa dư Hội An phải có một tầng gác xếp phía
trên.
Hơn nữa, Hội An nằm lọt giữa vùng đồng bằng duyên hải phủ đầy cồn cát phía
nam Đà Nẵng. Sau những cồn cát này tồn tại đầm hồ và đài nguyên, vết tích của vụng biển
cũ. Sông thường chảy song song với đường bờ biển, hợp thành mạng lưới giao thông nội địa
quan trọng. Sử dụng hệ thống sông ngòi tự nhiên đó, người ta có thể đi thuyền từ Đà Nẵng
đến Quảng Nam theo các sông Vĩnh Điện, sông Hội An, sông Thu Bồn rồi sông Trường
Giang.
Bờ biển Hội An là một bờ biển hội tụ. Những gioi cát chắn ngoài cửa biển tạo nên
vũng vịnh. Vùng cửa sông có mực nước sâu lại được dãy Cù lao Chàm chắn sóng nên rất an
toàn cho việc đỗ tàu thuyền. Cảng ăn sâu vào đất liền cách cửa Đại Chiêm 5km, đủ sâu và
rộng cho nhiều thuyền cùng cập bến. Địa hình đó vô hình chung tạo điều kiện thuận lợi cho
tàu thuyền quốc tế neo đậu.
Lùi xa vào đất liền, cách Hội An không đầy 10km, xuất hiện dãy núi Ngũ Hành
Sơn – những ngọn núi đá vôi cuối cùng của dãy Trường Sơn. Một dải đất cao 200 – 600m,
vốn gốc phù sa cổ, bên trên cây mọc thành vùng cây gỗ và cây ăn quả.
Thêm vào đó, một hệ thống đất đai bao quanh thị xã cùng với mạng lưới sông
tương đối phát triển đảm bảo cho việc trồng cây lương thực, cây ăn quả và cây công nghiệp

đường thủy bộ, đi thuyền, đi ngựa, đều tập hợp ở phố Hội An, cho nên rất đông thương
khách phương Bắc tới đó để mua, đem về
nước Đường.Trước đây, hóa vật nhiều lắm, dẫu có
trăm
chiếc thuyền lớn chở đi một lúc cũng không hết được. Hỏi tên các hóa vật và giá mua
bình thường thì y nói: Ở Quảng Nam tục gọi 100 cân là 1 tạ, cau giá 3 quan 1 tạ, hạt tiêu 20
quan, đậu khấu 5 quan, tô mộc 6 quan, sa nhân 12 quan, thảo quả 10 quan, ô mộc (gỗ mun) 6
tiền, hoa lê mộc (gỗ trắc) 1quan 2 tiền, tê giác 500 quan, yến sào 200 quan, gân hươu 15
quan, vây cá 14 quan, tôm khô 6 quan, rong biển 6 quan, ốc hương 12 quan, đồi mồi 180
quan, ngà voi 40 quan, đường phèn 4 quan, đường trắng 2 quan, còn các thứ hoạt thạch sắt,
phấn kẽm, hải sâm và mấy trăm vị thuốc Nam không thể kể xiết; còn kỳ nam lượng một cân
giá 120 quan, vàng 1 hốt giá 180 quan, nhục quế, trầm hương, trân châu rất tốt thì giá lên
xuống nhiều ít không nhất định…"[ 23, tr. 234 – 235 ]
Điều đó cho thấy sự dồi dào của nguồn sản vật địa phương cũng như sự phong phú
của các luồng hàng tập trung ở Hội An như hàng thủ công, nguyên liệu, lâm thổ sản và
không ít những mặt hàng nông phẩm.
Tơ sống và các hàng dệt tơ với nhiều chủng loại là quan trọng bậc nhất, đứng hàng
đầu danh mục xuất khẩu. Cả vùng Thăng, Điện bắc xứ Quảng vào tới Quảng Ngãi, Quy
Nhơn, ven các dòng sông hầu như làng nào cũng trồng dâu nuôi tằm. Ghi chép của P. Poivre
cho biết: “tơ lụa ở Đàng Trong so với Trung Quốc thì hơn hẳn về phẩm chất và tinh tế. Tơ
đẹp nhất là của Quảng Ngãi, người Trung Quốc mua rất nhiều và kiếm lãi từ 10 – 15%” [38,
tr. 236.]
Một nông phẩm quan trọng xuất khẩu từ Hội An là đường. Thương nhân P. Poivre
trong chuyến đi Đàng Trong 1774 cho biết ở Đàng Trong có khoảng 20.000 tạ đến 60.000 tạ,
cần 80 thuyền chở mới hết. Việc dùng đường và bán đường phát triển mạnh đã khiến cho
nghề trồng mía và nấu đường phát triển theo.
Yến sào cũng là mặt hàng đặc sản, độc đáo của Đàng Trong. Yến sào từ Cù lao

Đại, kể cả một số giếng Chăm cổ ở Cẩm Phô, Sơn Phô, Cù Lao Chàm và Trung Phường. Có
thể đi đến kết luận đã khá vững chắc rằng: Hội An cổ vốn đã là một cảng – thị phồn vinh từ
thời đại Champa. Đấy có thể là Lâm Ấp Phố được ghi lại trong Thủy Kinh Chú thế kỷ VI mà
Cù lao Chàm (Chiêm Bất Lao) là bức bình phong ngoài cửa biển và Bến Cồn Chăm (Bàn
Thạch) là cảng cuối từ cửa biển vào, trước khi ngược sông Bà Rén để lên kinh đô Trà Kiệu
Simhapura. [45, tr.58]
Khảo cổ học đã phát hiện và khai quật nhiều di tích văn hóa Sa Huỳnh muộn (khoảng
một vài thế kỷ TCN đến thế kỷ I SCN) trên các cồn cát bên tả ngạn sông Thu Bồn thuộc xã
Cẩm Hà như An Bang, Hậu Xá, Thanh Chiêm. Rõ ràng cư dân Sa Huỳnh đã cư trú trên một
số cồn cát, doi đất cao hạ lưu sông Thu Bồn. Văn hóa Champa cũng để lại dấu tích ở xã Cẩm
Hà, Cẩm Thanh qua những di vật gốm sứ Trung Quốc có niên đại thế kỷ IX (Hậu Xá I – II,
Cẩm Hà), XII – XIII (Bàu Đá, Cẩm Thanh),
XIV (Tràng Sỏi, Cẩm Hà). Đặc biệt, kết quả
thám sát và khai quật địa điểm Bãi Làng trên Cù lao Chàm đã tìm thấy gốm Chăm thô, gốm
Trung Quốc thế kỷ IX – X, gốm Islam thế kỷ IX, thủy tinh nguyên liệu có nguồn gốc từ
Funstat (Ai Cập), một số đồ thủy tinh gia dụng sản xuất từ Ai Cập, Iran khoảng thế kỷ IX.
Những di tích và di vật trên chứng tỏ khi kinh đô Trà Kiệu và thánh địa Mỹ Sơn của
Champa xây dựng trên thượng lưu sông Thu Bồn thì vùng cửa sông và Cù lao Chàm hẳn có
một vị trí trọng yếu trong sự phòng vệ đất nước và là cửa ngõ giao thương với thế giới bên
ngoài. Trên mặt đất, vùng quanh Hội An cũng còn để lại một số dấu tích và di vật có nguồn
gốc Chăm như di tích kiến trúc ở Lùm Bà Yàng (Thanh Chiêm – Cẩm Hà), tượng thờ ở lăng
Bà Lồi, giếng Chăm rải rác nhiều nơi nhất là ở Trung Phường. Những chứng tích này cho
phép đi đến một nhận xét khái quát: người Chăm đã từng là chủ nhân khá sớm trên mảnh đất
Hội An. Hội An một mặt kế thừa những thành quả khai phá của Chiêm cảng xưa, mặt khác
được trực tiếp chuẩn bị từ thế kỷ XV khi người Việt vào tụ cư ở đây.
Bối cảnh lịch sử ra đời của thương cảng Hội An, xét trong tình hình trong nước và thế
giới lúc bấy giờ có những đặc điểm riêng của nó.

cảng, một cửa ngõ mậu dịch đối ngoại mà còn là một trung tâm giao tiếp văn hóa. Hai mặt
văn hóa và kinh tế đó có quan hệ mật thiết với nhau và tạo nên sắc thái rất riêng của Hội An.
1.2.2. Đặc điểm cư dân và sinh hoạt kinh tế.
Về mặt văn hóa – lịch sử, Hội An là tâm điểm, nơi giao thoa giữa Bắc – Nam, Đông –
Tây nên được nhiều lớp cư dân sớm muộn khác nhau chọn làm địa bàn cư trú. Cư dân văn
hóa Sa Huỳnh, sau đó cư dân Chàm, rồi thế kỷ XIV dân Đại Việt tiếp cư và sự cộng cư của
những lớp người khác nhau từ nguồn cội, nhân chủng, đặc điểm truyền thống văn hóa như
người Việt, người Nhật, người Hoa trên mảnh đất này.
Kể từ năm 1307, Hội An thuộc về đất Hóa Châu của Đại Việt, nhưng những cuộc
chiến tranh giữa Chăm và Đại Việt diễn ra liên tiếp. Việc chinh phục Hội An phải đến năm
1403 mới thực hiện được. Sự kiện đó được đánh dấu bằng việc nhà Hồ mở thêm đất Thăng
Hoa – Tư Nghĩa và Hồ Hán Thương đưa dân đến chiếm cứ lập nghiệp tại vùng này. Dần dà
trên đất Hội An xuất hiện một số làng mang tên Cẩm Phô, Hoài Phố, Thanh Hà…của người
Việt.
Qúa trình cộng cư thông qua hoạt động kinh tế nông nghiệp, đặc biệt qua trao đổi
thương nghiệp đã tạo ra những mối giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân ở đây với
nhau, giữa họ với các vùng khác của Việt Nam, đồng thời giữa Việt Nam với các nước khác
trong khu vực Đông Nam Á.
Nông nghiệp thường được coi là gốc, rễ hoặc là nền móng của các xã hội cổ truyền
Việt Nam. Nhưng tại Đàng Trong, trong hai thế kỷ XVII, XVIII, họ Nguyễn đã lấy số tàu,
thuyền tới Đàng Trong buôn bán làm tiêu chuẩn đánh giá mức thịnh vượng của vương quốc
mình. Bên cạnh đó, một đặc điểm rất khác của nền kinh tế Đàng Trong dưới thời các chúa
Nguyễn là phần lớn các mặt hàng được đem ra trao đổi lại không phải là sản phẩm của nông
thôn người Việt tại đồng bằng mà là những sản phẩm của miền núi. Vào thời kỳ đầu của lịch
sử Đàng Trong, n
gười Việt không chiếm đa số và chỉ là một trong số dân tộc chính, định cư
trên một vùng đất trước đây có người khác sinh sống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status