Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch voi Việt Nam - Pdf 13



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐAN
MẠCH ĐẾN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI CỦA ĐAN
MẠCH VỚI VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Bùi Diệu Hƣơng

1.2.2. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến giao tiếp trong kinh doanh 21
1.2.3. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến marketing 23
Chƣơng 2: ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐAN MẠCH ĐẾN
QUAN HỆ THƢƠNG MẠI GIỮA ĐAN MẠCH VÀ VIỆT NAM 26
2.1. Giới thiệu chung về Đan Mạch 26
2.1.1. Đất nước Đan Mạch 26
2.1.2. Hệ thống chính trị 27
2.1.3. Con người 27
2.1.4. Kinh tế 29
2.1.5. Văn hóa 33
2.2. Quan hệ thương mại của Việt Nam – Đan Mạch 40
2.2.1. Các hiệp định thương mại đã ký kết 40
2.2.2. Trao đổi thương mại 41
2.3. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của
Đan Mạch với Việt Nam 42
2.3.1. Đặc điểm văn hóa kinh doanh của Đan Mạch 42
2.3.3. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại
Việt Nam – Đan Mạch 55

Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ VĂN HÓA KINH DOANH NHẰM
TĂNG CƢỜNG QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM – ĐAN MẠCH 61
3.1. Đánh giá nhận thức của thương nhân Việt Nam về văn hóa kinh doanh của
Đan Mạch 61
3.1.1. Thành công 61
3.1.2. Hạn chế 62
3.2. Triển vọng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch 63
3.2.1. Xuất khẩu 64


Biểu đồ 1: Cơ cấu ngành của Đan Mạch năm 2006 30

1
LỜI NÓI ĐẦU
Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế hiện đang là đặc trưng và xu
hướng phát triển phổ biến của nền kinh tế thế giới. Hòa cùng xu hướng chung đó,
quá trình mở cửa hội nhập kinh tế của Việt Nam cũng ngày càng diễn ra mạnh mẽ
và sâu rộng. Có thể nói quá trình này đã và đang mang lại cho Việt Nam nhiều
thành quả tốt đẹp, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Trong các nội dung của quá trình hội nhập kinh tế thì hoạt động
thương mại quốc tế (bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu) là một trong những nội dung
then chốt và mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế. Sau khi Việt Nam gia
nhập WTO, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa đã có nhiều thuận lợi hơn nhờ vào
việc nhiều rào cản trong hoạt động thương mại quốc tế như thuế quan hay hạn
ngạch đã dần dần được dỡ bỏ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rào cản khác mà các doanh
nghiệp Việt Nam phải vượt qua nếu muốn thâm nhập sâu rộng hơn vào thị trường
nước ngoài, trong đó có văn hóa kinh doanh. Đây là yếu tố có tác động rất lớn đến
quan hệ thương mại quốc tế và thay đổi theo từng quốc gia. Vì vậy, việc tìm hiểu
văn hóa kinh doanh của đối tác nước ngoài luôn là việc làm cần thiết đối với các
doanh nghiệp Việt Nam.

VHKD vẫn còn là một đề tài khá mới mẻ ở Việt Nam. Hơn nữa, do giới hạn
về thời gian và trình độ hiểu biết, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những
thiếu sót. Người viết rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình từ phía thầy cô và
các bạn sinh viên để có thể hoàn thiện hơn nữa nghiên cứu này.
Qua đây, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà trường và các thầy
cô trường Đại học Ngoại thương đã giảng dạy và cung cấp những kiến thức bổ ích
trong suốt quá trình học tập tại trường. Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn sâu
sắc đến Tiến Sĩ Nguyễn Hoàng Ánh, người đã hết sức tận tâm giúp đỡ người viết
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

Hà Nội, tháng 5 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Bùi Diệu Hương
3
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH VÀ ẢNH HƢỞNG
CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐẾN THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm về văn hóa kinh doanh
Văn hoá kinh doanh là một bộ phận của văn hoá nói chung nên để có cái nhìn
sâu sắc và toàn vẹn hơn khi nghiên cứu về mảng này chúng ta không thể không đề
cập đến khái niệm văn hoá.
1.1.1. Văn hoá
1.1.1.1. Khái niệm văn hoá
Có thể nói văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn, phong phú và phức tạp, do đó

2

Nhân loại học và xã hội học là những lĩnh vực có nhiều nghiên cứu sâu sắc và
rộng rãi về văn hoá hơn cả. Định nghĩa về văn hoá đầu tiên được công nhận rộng rãi
là định nghĩa của nhà nhân loại học người Anh Edward Tylor (1832 – 1917) đưa ra
vào những năm 1980. Theo ông, “Văn hoá là một tổng thể phức tạp bao gồm các
kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và bất cứ khả năng, tập
quán nào khác mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên trong xã
hội” (Culture is that complex whole which includes knowledge, belief, art, morals,
law, customs and other capabilities and habits acquired by man as a member of
society).
3
Định nghĩa này đã nêu ra khá đầy đủ những giá trị “vô hình” song vẫn
chưa bao hàm đầy đủ những khía cạnh “hữu hình” - một phần không thể thiếu của
văn hoá. Nhà nhân chủng học người Mỹ Melville Jean Herskovits (1985 – 1963) đã
bù lấp được phần thiếu hụt này của Edward Tylor với định nghĩa “Văn hoá là phần
môi trường do con người tạo nên” (the human made part of the environment).
4
Như
vậy văn hoá là sự kết hợp của cả hai nhân tố khách quan và chủ quan. Nhân tố
khách quan hay còn gọi là mặt “hữu hình” của văn hoá, bao gồm những công cụ,
đường xá, chương trình truyền hình, kiến trúc và những vật chất khác do con người
tạo ra. Còn nhân tố chủ quan hay còn gọi là mặt “vô hình” của văn hoá, bao gồm
những quy tắc, giá trị, tư tưởng, phong tục và những biểu tượng có ý nghĩa khác. Có
thể thấy, hai khái niệm trên của hai nhà nhân loại học đều đi theo con đường cổ điển.
Trong khi đó, giáo sư tâm lý học người Mỹ Harry Triandis lại có cái nhìn khá mới
mẻ. Theo ông, “văn hoá bao hàm những sự tương đồng và khác biệt; các nền văn
hoá đều chứa đựng đồng thời những điểm giống và khác nhau” (views culture as an
interplay of sameness and differences; all cultures are simultaneously very similar


lý người Hà Lan. Ông định nghĩa “Văn hoá là sự chương trình hoá chung của tinh
thần, giúp phân biệt các thành viên của nhóm người này với thành viên của nhóm
người khác… Theo đó, văn hoá bao gồm các hệ thống giá trị và các giá trị là một
trong những yếu tố nền tảng của văn hoá” (Culture is defined as the collective
programming of the mind which distinguishes the members of one human group
from another Culture, in this sense, includes systems of values; and values are
among the building blocks of culture).
6
Một mặt, văn hoá bao hàm những ý niệm
trừu tượng về cái họ cho là đúng đắn và luôn khát khao vươn tới. Mặt khác, văn hoá
còn bao hàm những quy tắc, luật lệ làm hình thành nên cách cư xử của con người
trong những tình huống cụ thể.
Như vậy, có thể thấy trong mỗi định nghĩa, văn hoá lại được nhìn nhận dưới
những góc độ khác nhau, đặc trưng cho từng lĩnh vực nghiên cứu của các học giả.

5
S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy,
Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr. 129.
6
Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 89.
6
Đó là yếu tố tạo nên tính đa dạng và phức tạp đúng với bản chất đa chiều của văn
hoá. Tuy vậy, hiện nay cộng đồng quốc tế cũng đã hầu hết công nhận định nghĩa về
văn hoá của Tổng giám đốc UNESCO, ông Frederico Mayor. Định nghĩa được chấp
nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá năm 1970 họp tại
Venice, Ý và được phát biểu như sau: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho
dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho

doanh ở Việt Nam”, Luận án TS Kinh tế, 2004, tr. 11.
7
- Văn hoá mang tính dân tộc: Mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng, đặc trưng
cho tư duy, cho quan niệm của họ. Chẳng hạn, tặng quà là một truyền thống của
người Việt Nam. Quà tặng biểu thị tình cảm của người tặng đối với người nhận và
là một cách để tăng cường mối quan hệ. Tuy nhiên, đối với nhiều nước phương Tây
như Đan Mạch hay Mỹ, họ rất ít khi tặng và nhận quà, thậm chí những quà tặng có
giá trị lớn lại bị coi là đồ hối lộ.
- Văn hoá có thể học hỏi được: Mặc dù mỗi dân tộc có bản sắc văn hoá riêng
song họ vẫn có thể học hỏi văn hoá của các dân tộc khác. Trong bối cảnh giao lưu
và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, việc học hỏi những tinh hoa của các nền văn
hoá tiến bộ đã trở nên ngày càng phổ biến. Một ví dụ dễ thấy là trước đây, người
Việt Nam chỉ quen ăn cơm thì giờ đây đồ ăn nhanh đã được chấp nhận rộng rãi.
- Văn hoá mang tính chủ quan: Đặc điểm này của văn hoá được biểu hiện ở
chỗ, người dân thuộc các nền văn hoá khác nhau có những suy nghĩ, thái độ và cách
nhìn nhận khác nhau đối với cùng một sự việc, hoàn cảnh. Ở Việt Nam, việc đưa
cha mẹ vào viện dưỡng lão là không chấp nhận được trong khi đó ở các nước
phương Tây thì bố mẹ về già vào sống ở viện dưỡng lão là hoàn toàn bình thường.
- Văn hoá mang tính khách quan: Văn hoá được hình thành trong quá trình
sống và lao động của con người. Nó là kết quả của quá trình con người thích nghi
với môi trường cho nên nó tồn tại khách quan, độc lập với ý muốn chủ quan của
từng thành viên trong cộng đồng. Chúng ta với tư cách là các cá nhân chỉ có thể học
hỏi và chấp nhận nó chứ không thể biến đổi nó.
- Văn hoá mang tính lịch sử: Từ những giai đoạn đầu xuất hiện của loài người,
những mầm mống của văn hoá cũng bắt đầu được hình thành và nó không ngừng
được củng cố và phát triển theo từng bước phát triển của con người. Bởi vậy văn
hoá mang tính lịch sử cao và những quan niệm của nó rất khó bị phá vỡ.

Ngôn ngữ là phương tiện truyền đạt thông tin và ý tưởng giúp con người có thể
làm việc cùng nhau, giao lưu trao đổi kiến thức với nhau. Ngôn ngữ chính là công
cụ để xây dựng và duy trì các giá trị văn hoá. Ngôn ngữ bao gồm hai thành phần
chính là ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời.
Ngôn ngữ chính là chìa khoá mở ra những cánh của mới cho nền văn hóa của
từng dân tộc, từng quốc gia.
10
Nếu không có ngôn ngữ, con người sẽ tự khoá mình
trong cái phạm vi văn hoá nhỏ hẹp của họ mà không có sự giao lưu, mở rộng với
văn hoá bên ngoài. Đồng thời, khi học tiếng của một quốc gia khác, người ta sẽ

9
Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh
doanh ở Việt Nam, Luận án TS Kinh tế, tr. 14.
10
Donald Ball, Wendell McCulloch, Michael Geringer, Paul Frantz, Michael Minor (2007), International
Business: The Challenge of Global Competition, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 9, tr.313.
9
không thể hiểu được những sắc thái, những nghĩa khác của từ và những từ lóng nếu
họ không am hiểu về thói quen sử dụng ngôn ngữ của đất nước đó. Ngôn ngữ cũng
là công cụ giúp định hình những nét đặc trưng, tạo ra ranh giới phân cách của từng
nền văn hoá giống như một ranh giới vật chất. Thật vậy, không gì có thể phân biệt
một nền văn hoá này với một nền văn hoá khác tốt như ngôn ngữ. Một đất nước có
bao nhiêu ngôn ngữ thì sẽ có bấy nhiêu nền văn hoá tách biệt. Một ví dụ điển hình
là đất nước Thuỵ Sỹ. Tại đây có đến bốn ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng
Đức, tiếng Pháp, tiếng Ý và tiếng Rôman - và tương ứng với nó là bốn nền văn hoá
khác nhau.

12
Phong tục tập quán tặng
quà và ý nghĩa của nó thay đổi theo từng quốc gia, song vẫn có những món quà
được coi là “an toàn” trong hầu hết các trường hợp là sôcôla, hoa hồng và rượu
whiskey E-cốt loại hảo hạng.
 Tôn giáo (Religion)
Tôn giáo có thể được hiểu là một hệ thống các niềm tin vào các lực lượng siêu
nhiên, thiêng liêng hay thần thánh và những nghi lễ liên quan đến niềm tin đó. Hiện
nay trên thế giới có năm tôn giáo chính là:
13

- Đạo Thiên Chúa
- Đạo Hồi
- Đạo Hindu
- Đạo Phật
- Đạo Khổng
Tôn giáo là một thành tố quan trọng của văn hoá, bao gồm rất nhiều những thái
độ và niềm tin chi phối hành vi ứng xử của con người trong tất cả các lĩnh vực. Trong
lĩnh vực kinh doanh, tôn giáo cũng đóng một vai trò quan trọng bởi nó chi phối đến tư
duy, đến giao tiếp, đến hành vi tiêu dùng của mỗi cá nhân và nhiều vấn đề khác. Xét về
ảnh hưởng của tôn giáo đến kinh doanh phải kể đến cả ảnh hưởng tích cực lẫn ảnh
hưởng tiêu cực. Một điển hình cho ảnh hưởng tích cực của tôn giáo là Đạo Tin Lành
(một trong hai nhánh chính của Thiên Chúa Giáo). Đây là đạo giáo đề cao sự cần cù lao
động, tạo ra của cải vật chất và sự tiết kiệm. Sự lao động chăm chỉ kết hợp với sự tích
luỹ để mở rộng sản xuất đã mở đường cho sự ra đời của Chủ nghĩa Tư Bản. Ảnh hưởng
tiêu cực của tôn giáo tới kinh doanh thể hiện rõ nhất qua tác động của Đạo Hồi. Giáo lý
của Đạo Hồi rất khắt khe như cấm tiêu thụ đồ uống có cồn, cấm đánh bạc, cấm cho vay
nặng lãi và phụ nữ phải ăn mặc rất kín đáo. Những điều cấm kỵ này đã gây ảnh hưởng
nhiều đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực như đồ uống


Nhật Bản trong khi đó nó lại không phải là giá trị truyền thống ở những nước Trung
Đông và Châu Phi. Do đó, trong khi những người Bắc Mỹ, Bắc Âu và Nhật Bản coi
thời gian là tiền bạc và đánh giá thấp những người trễ hẹn thì những người Trung
Đông và Châu Phi lại có thể chấp nhận việc trễ hẹn, thậm chí là chậm đến vài tiếng
đồng hồ.
Đối với những người làm kinh doanh thì việc tìm hiểu các giá trị cũng như thái
độ của đối tác trong giao thương quốc tế cũng là một vấn đề hết sức quan trọng, đặc
biệt là trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sôi động như hiện nay vì nó sẽ giúp
họ tránh được những sai lầm đáng tiếc.
 Các phong tục tập quán và chuẩn mực đạo đức (folkways and mores)

14
S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy,
Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr. 141.
15
S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy,
Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr. 139.
16
S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy,
Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr. 139.
12
Phong tục tập quán (folkways) là những thói quen được đưa vào nếp sống
hàng ngày.
17
Nhìn chung phong tục tập quán không liên quan nhiều đến những hành
động mang tính đạo đức mà nó là những quy ước xã hội liên quan đến các vấn đề
như: cách ăn mặc thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, thế nào là hành vi xã hội

18
Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 90.
19
Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 90.
13
biểu hiện qua đời sống vật chất và là kết quả của sự phát triển công nghệ.
20
Do đó,
nó ảnh hưởng rất lớn đến trình độ nhận thức và lối sống ở quốc gia đó. Ở những
quốc gia có trình độ công nghệ cao, các hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông vận
tải, thông tin liên lạc, hệ thống giáo dục, tài chính… rất phát triển. Đó là động lực
cho sự mở mang giao lưu kinh tế quốc tế. Vì thế, ở những nước này, thương mại
quốc tế đóng vai trò quan trọng. Ngược lại, ở những nước nông nghiệp nghèo, việc
buôn bán với thương nhân nước ngoài hầu như không mấy được quan tâm.
 Mỹ học (Aesthetics)Mỹ học gắn liền với nhận thức và thưởng thức cái đẹp trong thiên nhiên, trong
nghệ thuật, trong xã hội và thường được biểu hiện trong mỹ thuật, âm nhạc, kịch,
văn hoá dân gian và khiêu vũ.

Mỹ học cũng là một yếu tố văn hoá có ảnh hưởng đến
các hành vi ứng xử và những quan niệm trong đời sống xã hội cũng như trong kinh
doanh. Một biểu hiện cho tác động này là quan niệm khác nhau về ý nghĩa biểu
trưng của màu sắc ở những quốc gia khác nhau. Ví dụ, màu biểu trưng cho sự tang
tóc ở Mỹ và Mêhicô là màu đen, trong khi đó ở Viễn Đông là màu trắng và đen, còn
ở Brazil là màu tía. Hay như ở các nước theo đạo Hồi, màu xanh lá cây được xem là

về tự nhiên, xã hội. Bên cạnh đó, những chuẩn mực đạo đức như sự kính trọng,
vâng lời, tính trung thực, sự ngăn nắp, đúng giờ… cũng dần được hình thành trong
mỗi học sinh một cách gián tiếp qua đời sống học đường. Còn giáo dục không chính
quy chính là sự giáo dục của gia đình và xã hội - đây cũng là môi trường có tác
động không nhỏ đến việc hình thành tư duy và nhận thức cho con người.
Trình độ giáo dục của một quốc gia sẽ quyết định đến trình độ dân trí của quốc
gia đó. Thước đo trình độ giáo dục của một xã hội chủ yếu là tỷ lệ mù chữ, chất
lượng và số lượng trường học, số lượng học sinh và có thể là cả tỷ lệ kinh phí Nhà
nước chi cho giáo dục. Với những người hoạt động trong lĩnh vực marketing, tỷ lệ
người biết chữ là rất được quan tâm bởi nó sẽ ảnh hưởng đến quyết định của họ
trong việc lựa chọn phương tiện, loại hình quảng cáo, địa điểm bán hàng… Ví dụ, ở
Pakistan, tỷ lệ mù chữ lên tới 70% nên đây sẽ không thể là thị trường tốt cho việc
kinh doanh sách báo và những hình thức quảng cáo sử dụng sách báo hay tờ rơi
cũng không thể hữu dụng ở quốc gia này.
23
Trong trường hợp này, tốt nhất các nhà
làm quảng cáo nên sử dụng những hình thức quảng cáo có hình ảnh.
Như vậy, tìm hiểu trình độ giáo dục của một quốc gia sẽ giúp cho việc quyết
định lựa chọn phương thức thâm nhập vào một thị trường mới đạt được hiệu quả.
 Cấu trúc xã hội (social structure)
Cấu trúc xã hội được hiểu là cách thức tổ chức xã hội cơ bản của xã hội đó.
Mọi xã hội đều có cấu trúc riêng của nó và từ đó hình thành nên các mối quan hệ có
ảnh hưởng tới hành vi ứng xử của các thành viên trong xã hội đó. Tuy cấu trúc xã
hội bao gồm nhiều phương diện khác nhau nhưng để thấy sự khác biệt trong văn
hoá giữa các xã hội thì người ta dựa trên hai phương diện chính.
2422
Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 105.

25
Trong khi đó, Mỹ lại là nước
điển hình cho những xã hội có sự phân biệt giai cấp thực sự không rõ nét. Và sự
chuyển đổi giữa các giai cấp là hoàn toàn có thể.
Hai khía cạnh trên có ảnh hưởng rất lớn đến tư duy trong kinh doanh và do đó
sẽ ảnh hưởng đến phong cách làm việc cũng như phương thức hoạt động của các tổ
chức kinh doanh. Trong quan hệ thương mại quốc tế, cấu trúc xã hội là yếu tố quan
tâm hàng đầu của các nhà quản lý bởi họ phải lãnh đạo những người đến từ những
nền văn hoá khác biệt với văn hoá của họ.

25
Charles W.L. Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 102.
16
1.1.2. Văn hoá kinh doanh
1.1.2.1 Khái niệm văn hoá kinh doanh
Trong kinh doanh, những sắc thái văn hoá cũng được thể hiện rõ nét qua toàn
bộ quá trình tổ chức và hoạt động của một tổ chức. Cụ thể, nó được biểu hiện từ
cách chọn và bố trí máy móc và dây chuyền công nghệ, từ cách tổ chức bộ máy về
nhân sự và hình thành quan hệ giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức
cho đến những phương thức quản lý kinh doanh mà chủ thể kinh doanh áp dụng sao
cho có hiệu quả nhất. Bản thân hoạt động kinh doanh có mục đích là lợi nhuận chứ
không lấy các giá trị văn hoá làm mục tiêu trực tiếp song từ những hoạt động cụ thể
trên đã dần dần hình thành nên các giá trị văn hoá trong kinh doanh. Chính vì vậy
mà đã hình thành nên một khái niệm khá mới mẻ: văn hoá kinh doanh.
Cả văn hoá và kinh doanh đều đã xuất hiện từ rất lâu song mối quan hệ giữa
văn hoá và kinh doanh mới chỉ được đi sâu nghiên cứu sau khi Hofstede cho xuất
bản công trình nghiên cứu mang tên “Văn hoá và tổ chức - phần mềm của ý thức”

Định nghĩa này đã nêu bật được sự khác biệt giữa VHKD và kinh doanh có văn hoá
song lại mắc phải một nhược điểm là không chỉ rõ chủ thể kinh doanh là một quốc
gia hay một doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, cũng có những quan điểm coi VHKD chính là văn hoá doanh
nghiệp bởi chủ thể của VHKD chính là các doanh nghiệp. Tiêu biểu cho quan điểm
này là định nghĩa về VHKD của Edgar H.Schein, chuyên gia nghiên cứu về các tổ
chức. Theo ông, “Văn hoá doanh nghiệp (hay văn hoá công ty) là tổng hợp những
quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải
quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh”.
28
Cách
hiểu này được các nhà nghiên cứu về kinh doanh chấp nhận, xuất phát từ quan niệm
coi kinh doanh là hoạt động đặc thù của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cách hiểu này có
phần hạn hẹp vì mặc dù doanh nghiệp là chủ thể chính của mọi hoạt động kinh
doanh nhưng kinh doanh cũng là một hoạt động phổ biến liên quan mật thiết đến
mọi thành viên trong xã hội.
Có lẽ nhóm quan điểm tiến bộ và đúng đắn nhất là nhóm coi kinh doanh là
hoạt động có liên quan đến mọi thành viên trong xã hội. Theo các nhà nghiên cứu
trong Viện Kinh doanh Nhật Bản – Hoa Kỳ thì “Văn hóa kinh doanh có thể được
định nghĩa như ảnh hưởng của những mô hình văn hoá của một xã hội đến những
thiết chế và thông lệ kinh doanh của xã hội đó”.
29
Đây là một định nghĩa khá ngắn
gọn và đầy đủ, đã bao trùm lên mọi khía cạnh của đời sống kinh doanh.
Cũng theo quan điểm tiến bộ trên, TS Nguyễn Hoàng Ánh, đã đưa ra một định
nghĩa tương đối cụ thể và bao quát về VHKD. Đó là “Văn hóa kinh doanh là sự thể
hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc. Nó bao gồm các nhân tố rút ra từ văn

27
Đỗ Minh Cương (2001), Văn hoá kinh doanh và Triết lý kinh doanh, NXB Chính trị Quốc Gia, tr. 69.

- Tính cá nhân/ Tính tập thể: Đặc điểm này liên quan đến các mối quan hệ
giữa các cá nhân với những người xung quanh. Theo Hofstede, những thành viên
trong các xã hội mang tính tập thể cao như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,
thường gắn bó với nhau trong một tổ chức. Do đó, những công ty ở những nước này
thường ra quyết định dựa trên ý kiến tập thể. Trong khi đó, ở những xã hội mang
đậm tính cá nhân như Mỹ, Canada, Đan Mạch… thì sự liên kết ràng buộc giữa các
cá nhân là hết sức lỏng lẻo và những quyết định dựa trên ý kiến cá nhân là phổ biến.
- Sự phân cấp quyền lực: Đây là yếu tố phản ánh mức độ chấp nhận sự phân
chia quyền lực bất bình đẳng giữa các cá nhân. Ở những nước có sự phân cấp quyền
lực cao như Malaysia, Goatemala, Philipin… những nhân viên tin rằng những người
lãnh đạo luôn luôn đúng. Do đó, họ không hề chủ động đưa ra những quyết định bất

30
Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá
kinh doanh ở Việt Nam, Luận án TS Kinh tế, tr. 54.
31
S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy,
Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr. 137
19
thường. Trong khi đó, ở những nước có sự phân cấp quyền lực thấp như Đan Mạch,
Thuỵ Điển…những quyết định có sự tham gia của nhân viên là cực kỳ phổ biến và
mang lại hiệu quả cao.
- Tính cẩn trọng: Đặc điểm này phản ánh mức độ dám chấp nhận và đương
đầu với những tình thế không rõ ràng hoặc bất ổn của các thành viên trong xã hội.
Nhân viên ở những nước có tính cẩn trọng cao như Nhật Bản, Hy Lạp và Thổ Nhĩ
Kỳ có xu hướng gắn bó lâu dài với một công ty. Ngược lại, những nhân viên ở
những nước có tính cẩn trọng thấp như Mỹ, Singapore và Đan Mạch lại linh hoạt

quyết định đến tư duy trong kinh doanh, đến giao tiếp trong kinh doanh và đến tâm
lý tiêu dùng của người dân trong từng nền văn hoá.
1.2.1. Ảnh hƣởng của văn hoá kinh doanh đến tƣ duy trong kinh doanh
Nói đến tư duy trong kinh doanh quốc tế là nói đến lối nhận thức, quan niệm
và thói quen kinh doanh của các thương nhân. Việc nắm bắt được tâm lý, thái độ
của đối tác, đặc biệt là đối tác nước ngoài là cực kỳ quan trọng để có thể đưa ra
những ứng xử và quyết định phù hợp. VHKD của mỗi quốc gia khác nhau sẽ hình
thành nên những cá tính và hành vi khác nhau của các nhà kinh doanh.
Ảnh hưởng đầu tiên cần quan tâm là sự khác nhau trong quan niệm về thời
gian. Trong kinh doanh, có những quốc gia luôn hướng tới những sự phát triển
trong tương lai, có những quốc gia chú trọng tới những thành quả trong quá khứ và
cũng có những quốc gia lại chú trọng tới hiện tại. Chẳng hạn Nhật Bản là nước chú
trọng tới sự phát triển cho tương lai. Cái họ quan tâm không phải là kế hoạch để
phát triển trong quý tới mà là trong 10 năm tới. Còn các nước Châu Âu lại chú trọng
tới quá khứ cho nên họ cho rằng những kế hoạch phải của họ phải phù hợp với các
truyền thống và giá trị nền tảng đã hình thành trước đó. Cho nên, các công ty Nhật
Bản thường có kế hoạch chiến lược cho một giai đoạn khá dài, có khi lên tới hàng
thập kỷ, trong khi đó, ở các công ty Châu Âu thì chỉ là vài năm. Mỹ là nước tiêu
biểu cho việc chú trọng tới hoạt động kinh doanh trong hiện tại. Do đó, họ rất quý
trọng thời gian. Với họ, thời gian là tiền bạc nên họ rất nghiêm ngặt trong việc thực
hiện đúng lịch trình, đúng hẹn, đặc biệt là trong các cuộc gặp gỡ làm ăn. Trong khi
đó, các nước Châu Mỹ La Tinh thì lại khá linh hoạt về mặt thời gian. Họ thường có
xu hướng đến muộn hơn so với đối tác trong các cuộc gặp.
33

Ngoài ảnh hưởng tới nhận thức của người kinh doanh về vấn đề thời gian,
VHKD còn ảnh hưởng đến cá tính và thói quen kinh doanh của doanh nhân, từ đó
ảnh hưởng đến các hành vi của thương nhân trong kinh doanh. Thương nhân ở
những nước chịu ảnh hưởng của nền văn hoá La tinh (Châu Âu, Châu Mỹ) - những
nước có tính cẩn trọng thấp - có xu hướng ưa thích sự thay đổi và dám mạo hiểm

hiểu và biết cách sử dụng thành thạo ngoại ngữ là một lợi thế trong giao tiếp với
thương nhân nước ngoài. Ngược lại, nó cũng có thể trở thành rào cản hoặc gây ra
những hiểu lầm đáng tiếc khi đàm phán hoặc trao đổi ý tưởng kinh doanh nếu năng
lực ngoại ngữ của thương nhân hạn chế. Những rào cản này càng lớn khi họ gặp
những biệt ngữ kinh doanh chỉ được sử dụng ở một nền văn hoá nào đó. Ví dụ,
doanh nhân Mỹ thường sử dụng rất nhiều những thành ngữ bắt nguồn từ thể thao
hoặc quân đội như “The bottom line – điểm mấu chốt”, “to beat around the bush –
nói vòng vo”, “get down to brass tacks – đi sâu vào bản chất vấn đề”, hay “feather

34
S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy,
Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr. 140.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status