TRƯỜNG
ĐAI HỌC
NGOẠI
THÍ/;
?NG
sã KINH 11 m KINH ĨXIANƯ
(ti
ốc tlí
Hin
ẺN
ÉdKếl
KĩNIĨ
TỂ ĐỐT
N«
ị
ẩm
mĩ
lị
IOA LUÂN TÓT
NOHIẸP
•
' '•'Tỉ
•
«**'"'
*
* ái
lệ áp QUY ầXmỀ p
BỉẩỊỊ
«G mị
\
(PHTR)
ẢNH HƯỞNG CỦA QUY CHÊ THƯƠNG MẠI BÌNH THƯỞNG
VĨNH
VIỄN
(PNTRỈ
ĐẾN
QUAN
HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT
-
MỸ
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Đàm Trang
Lớp
:
Anh
16
Khóa
:
K42D - KT&KDQT
Giáo viên hướng dẫn
:
PGS.
TS
Nguyễn
Hữu
Khải
THƯ V Ì Ì N
Ì
HGOAI
J
:
MO'
THƯỜNG
VĨNH
VIỄN
VÀ ẢNH
HƯỞNG
CỦA NÓ TỚI
QUAN
HỆ
THƯƠNG
MẠI SONG
PHƯƠNG
3
ì.
MỘT SỐ NỘI
DUNG
cơ BẢN VỀ QUY CHẾ
THƯƠNG
MẠI
BÌNH
THƯỜNG
VĨNH
VIỄN
3
1.
Khái
niễm
Quy
chế
thương mại bình thường vĩnh
viễn
BÌNH
THƯỜNG
VĨNH
VIỄN
GIỮA
HOA KỲ VÀ
VIỆT
NAM 13
1.
Xu
thế
hội
nhập
kinh
tế
quốc
tế
hiễn
nay
13
2.
Quan điểm và
nguyên
tắc
của
Hoa Kỳ
và
Viễt
Nam
về quan hễ
18
3.
Lợi
ích của
Viễt
Nam
và
Hoa Kỳ
khi
Quy
chế
thương
mại
bình thường
vĩnh
viễn
được
phê chuẩn
19
IU.
MỘT SỐ
TIÊU
CHÍ
ĐÁNH
GIÁ ẢNH
HƯỞNG
CỦA QUY CHẾ
THƯƠNG
MẠI
BÌNH
Quốc
trong
quan
hệ thương mại vói Hoa kỳ
từ
sau
khi
có Quy
chế
thương mại bình thường vĩnh
viễn
25
2.1. Những kinh nghiệm Trung Quốc tận dụng cơ hội do Quy chế thương mại
bình thưởng vĩnh viễn mang lại 25
2.2. Những kinh nghiệm của Trung Quốc khi đối diện với những thách thức,
khó khăn sau Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn 28
CHƯƠNG n: TÁC
ĐỚNG
CỦA QUY CHẾ THƯƠNG MẠI BÌNH
THƯỜNG
VĨNH
VIỄN Đối VỚI
QUAN
HỆ THƯƠNG MẠI
VIỆT
NAM - HOA KỲ 32
ì. KHÁI QUÁT VỀ
QUAN
HỆ THƯƠNG MẠI
VIỆT
chế
thương mại bình thường vĩnh
viễn
38
li.
THỰC
TRẠNG
VÀ Dự BÁO ẢNH
HƯỞNG
CỦA QUY CHẾ THƯƠNG
MẠI BÌNH
THƯỜNG
VĨNH
VIỄN ĐẾN
QUAN
HỆ THƯƠNG MẠI
VIỆT
NAM-HOA
KỲ 41
1.
Thực
trạng
ảnh hưởng của Quy chế thương mại bình thường vĩnh
viễn
đến
quan
hệ thương mại
hai
nước
41
59
2. ỉ.
Khá
năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam
sẽ tăng
mạnh
sau
PNTR
60
2.2. Hoạt động xuất nhập khu hàng
hoa
giữa Việt
Nam
và
Hoa Kỳ
sẽ nhộn
nhịp hơn
61
2.3.
Quan hệ
thương
mại
Việt
Nam
-
Hoa
Kỳ
về hàng
hoa
GIAN
TỚI
66
ì.
MỘT
SỐ
VẤN
ĐỀ ĐẶT
RA TRONG QUAN HỆ
THƯƠNG MẠI
VIỆT
NAM
-
HOA KỲ SAU QUY
CHẾ
THƯƠNG MẠI BÌNH
THƯỜNG VĨNH
VIỄN
66
1.
Vấn
đề hoàn
thiện
nhận
thức
và hành động của cả
hai
bên
Việt
Nam
tăng
cường
tiếp
xúc để xúc
tiến
các cơ
hội
mới
cho các doanh
nghiệp
Hoa
Kỳ
trong
quan hệ thương mại
giữa
hai
nước
69
li.
QUAN
ĐIỂM,
ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT
TRIỂN
QUAN
HỆ
THƯƠNG
MẠI
VIỆT
NAM
phát
triển
quan
hệ thương mại
Việt
Nam
-
Hoa Kỳ
sau
Quy
chế
thương
mại
bình
thường
vĩnh
viễn
72
HI.
CÁC
GIẢI
PHÁP
Cơ BẢN NHẰM THỨC ĐAY QUAN Hả
THƯƠNG
MẠI
VIảT
NAM
-
HOA KỲ 82
1. Giải
pháp
của
Nhà nước để đẩy
mạnh
phát
triển
quan
hệ thương mại
92
KẾT
LUẬN
97
NHỮNG CHỮ
VIẾT
TẮT
TRONG KHOA
LUẬN
APEC
Asia
-
Pacifíc
Economic
Cooperation
Diễn
đàn hợp
tác
Châu
Á
-
Thái
vê
thuê
quan
và
mậu
dịch
MFN
Most
íavoured
nation
Quy
chế
tối
huệ quốc
NTR
Normal Trade
Relation
Quy
chế
thương
mại
bình thường
PNTR
Permanent Normal Trade
Relation
Quy chê thương
mại
bình thường
vĩnh
viễn
LỜI
MỞ ĐẨU
1.
Tính
cấp
thiết
của
đề
tài
nghiên cứu
Toàn
cầu
hoa
kinh tế
đã
trở
thành xu
thế
tất
yếu của
thòi
đại.
Phù hợp
với
xu
thế này, Việt
Nam
đã và đang
tham
gia
viễn với
Hoa
Kỳ
là những sự
kiện
quan
trọng
và thành
tựu
đáng
ghi
nhận
trong
quan
hệ
thương
mại của
Việt
Nam
vái
thế
giói.
Quy
chế
PNTR
giữa
Việt
Nam
và
Hoa Kỳ ký
các
doanh
nghiệp
hai
nước. Với
Việt
Nam,
việc trở
thành thành viên chính
thức
của
Tổ
chức
thương
mại
thế
giới
(WTO)
cũng
trở
nên
trọn
vẹn
hơn
khi
có dược
PNTR.
Việt
Nam
sẽ
chủ
động,
tích
cực
và
hiệu
quả
hơn
trong hội
nhập
kinh tế
quốc
tế;
và
cụ
thể
hơn,
mau
chóng thoát
khỏi
nghèo
nàn,
lạc
hậu
và
"làm
thuê"
?
Đây
cũng
PNTR
tới
quan
hệ này
thì
chưa
nhiều;
một
trong
những
lí
do
là
tính
từ
thữi
điểm
Hoa
Kỳ
ký
kết
(12
-
2006)
đến
nay, Việt
Nam
mới
chỉ
được
đánh giá ảnh hưởng của
PNTR
tới
quan
hệ
thương mại
Việt
Nam
-
Hoa
Kỳ,
chỉ ra
hiện trạng
và
vấn
đề
đặt ra
đồng
thời
cũng
dưa
ra
một số
ý
kiến
để góp
phần
thúc đọy
quan
hệ này
vọng
ảnh
hưởng
của
nó
trong
những
năm
tới.
Tuy
tên dề
tài
là "Ảnh hưởng
của
Quy
chế
thương mại bình thường
vĩnh
viễn
(PNTR) đến
quan
hệ
thương mại
Việt
-
Mỹ",
nhưng
trong
các văn bản
chính
cụm
từ
"
Việt -
Mỹ"
trong
tên
khoa
luận.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề
tài được
tiếp
cận
và
phàn tích
theo
phương pháp duy
vật biện
chứng,
phương pháp phân tích
tổng
hợp và phương pháp
thống
kề,
so sánh.
6. Kết
cấu: Ngoài
Phụ
lục
luận
về
Quy
chế
thương mại bình thường
vĩnh
viễn
và ảnh hưởng
của
nó
tới
quan
hệ thương mại
song
phương
Chương É: Tác động
của
Quy
chế
thương mại bình thường
vĩnh
viễn
đối
với
quan
hệ thương mại
Việt
Nam - Hoa Kỳ
Chương
in:
MỘT
SỐ
VẤN
ĐỂ LÝ LUẬN VỀ
QUY
CHÊ
THƯƠNG
MẠI
BÌNH
THƯỜNG
VĨNH
VIỄN
VÀ
ẢNH
HƯỞNG
CỦA NÓ
TỚI
QUAN
HỆ
THƯƠNG
MẠI
SONG
PHƯƠNG
L MỘT SỐ NỘI DUNG cơ BẢN VẾ QUY CHẾ THƯƠNG MẠI BÌNH
THƯỜNG
VĨNH
VIỄN
1.
Khái niệm
Quy
đổi
hàng hoa thông qua
mua
và bán
các hàng
hoa,
dịch
vụ,
các
chứng từ
có
giá
trị.
Theo
Luật
thương mại của
Việt
Nam,
hoạt
động thương mại
là
thặc hiện
một
hay
nhiều
hành
vi
thương mại của
thương
nhân,
sặ
phát
triến
của
khoa
học,
công
nghệ
và
tiến
trình
hội
nhập,
hình
thái
tổ chức
thị
trường
và
phương
thức hoạt
động thương
mại
cũng
đã
thay
đối.
Ngày
nay,
khái
tố
thương mại liên
quan
đến
sờ
hữu
trí
tuệ.
Quan
hệ
thương
mại
là
hoạt
động
mua
và bán các
loại
hàng
hoa, dịch
vụ
được
diễn ra giữa
các
chủ
thể
của
hoạt
động thương
mại.
tính
chất
của quan
hệ thương
mại giữa
các quốc
gia
vói nhau
có
thể
có
nhiều
cấp
độ.
Ngoài
lợi
ích
kinh
tế
là
điều
quy định căn bản
nhất,
quan
hệ thương
mại
giữa
các
quốc
gia
vận hay được hưởng
những
ưu
đãi )
Điều
này
lại
bị quy định
bởi
pháp
luật
và
quy chế thương
mại.
Đó là
những
còng cụ pháp
lí
mà
một
quốc
gia
này
tạo ra
để
điều chỳnh những quan
hệ
thương mại
với
nước
-
mà
cụ
thể
là
chính sách thương
mại
của một
quốc
gia
cũng
có
thể tạo
nên
những
hỗ
trợ,
khuyến
khích hay
"rào
cản"
và
qua
đó,
tác động manh
mẽ
đến quy
mô và
tính
chất
trị
và
kinh
tế
nêu
trên.
PNTR là chữ
viết tắt
của
Permanent
Nơrmal
Trade
Relation
nghĩa
là
quan
hệ thương mại bình thường
vĩnh
viễn.
PNTR
là
quy chế
ưu
đãi thương
mại
mà
hầu
hết
các nước
có
đưa một nước nào đó
ra khỏi
danh
sách
bị
Hoa Kỳ
hạn
chế
các
hoạt
động
thương
mại.
Như
vậy,
sau
PNTR
tất
cả
hàng hóa
trao
đổi giữa
Hoa
Kỳ
và nước đó sẽ
được
đối
xử bình đẳng
theo
các quy
quan hệ
thương
mại
giữa
Hoa
Kỳ
và
nước
được hưởng
PNTR.
Đây chính là ảnh hưởng
to lớn
và
cũng
không
ít
phức
tạp từ
PNTR
tới
quan hệ
thương
mại
giữa
hai
nước.
2.
Những
nội dung
cơ
là
đối thủ
nay đã
trở
thành
đối tác,
và để
đi
tới
PNTR,
cả
hai
nước đã cùng
vượt
qua
nhiều
chặng
phát
triển
trong
quan
hệ
ngoại
giao,
kinh
tế
Năm
1974,
theo
đạo
Ngày
12-7-1995,
Việt
Nam
và Hoa
Kỳ
thiết
lập
quan hệ
ngoại
giao.
Đây
được
coi
là sự
kiện
lịch
sử
trong
quan hệ
ngoại
giao
hai
nước.
Đi đôi
với việc
bình thưậng hóa
quan hệ
ngoại
giao,
4 năm
với
lo
phiên đàm phán.
Ngày
13-7-2001,
hai
bên
ký
được
Hiệp
định Thương mại
Việt
Nam -
Hoa
Kỳ
(BTA)
và có
hiệu
lực
kể
từ
ngày
10-12-2001.
Đây
là
một
Hiệp
định
Thương
tài sản trí
tuệ, thứ
ba
là
về
thương
mại dịch
vụ và
thứ
tư
là
hoat
đông đẩu
tu.
Các nôi
dung
này đuơc cu
thể
hoa
bằng
các
hiệp
định:
Chẳng
hạn,
tháng 7-2003
Việt
Nam
ký
Hiệp
cung
cấp
bảo hộ
pháp
lý cho
người
sờ hữu bản quyền
(ký ngày
16-4-1997)
V.V
Song
muốn
có được
PNTR,
phía Hoa Kỳ yêu cầu
Việt
Nam
phải
đáp
ứng "cả
gói".
Bao gồm: một
là thực
hiện
đầy
để
Hiệp
định
Thương
mại, hai
cầu
kết
thúc đàm phán
song
phương
gia
nhập
WTO,
ngày
31-5-2006,
Việt
Nam và Hoa Kỳ đã chính
thức kết
thúc đàm phán
song
phương.
Việt
Nam đã mờ thêm cho Hoa Kỳ 3 ngành
dịch
vụ và 30 phân
ngành
dịch
vụ so
với
Hiệp
định Thương
mại.
về
thuế,
Việt
Kỳ đồng ý bỏ hạn
ngạch
và chúng
ta phải
chấp nhận
bỏ
trợ
cấp ngành
dệt
may,
trợ
cấp
công
nghiệp
liên
quan
đến các dự án
đầu
tư
trong
nước và nước
ngoài đã
cấp
phép có
thời
kỳ quá độ 5
năm.
Thời
kỳ quá độ dành
cho
Việt
Nam đã
giải
thích:
Trung
Quốc
là
cường
quốc
thứ
4
thế
giới
về
kinh
tế,
về thương
mại,
Trung
Quốc
là
cường
quốc
đứng
thứ
3,
trong
khi
Việt
Nam mới đứng
9-12-2006,
cả Thượng
viện
và Hạ
viện
Hoa Kỳ thông qua
PNTR
cho
Việt
Nam
với
số
phiếu thuận
ờ Hạ
viện
là 212, phiếu
không
thuận
là
184;
Thượng
viện
79
phiếu thuận
trên 9
phiếu
chống.
Ngày
20-12-2006,
Tổng
bỏ
việc
áp
dụng
đạo
luật
bố
sung
Jackson
-
Vanik
áp
đặt
đối
với
Việt
Nam
từ
năm
1974,
đưa
Việt
Nam
ra
khỏi
danh
sách các nước
bị
Hoa
Kỳ
của
WTO.
Việc
thông qua
Quy
chế
PNTR
đã dẫn đến bình thường hóa hoàn toàn
và
tạo
cơ
hội
phát
triển
cho quan hệ
thương
mại
giữa
Việt
Nam
và Hoa
Kỳ.
2.2.
Nội dung
chính
của
Quy chế
thương
mại
bình thường vĩnh viễn
gọi
MEN
là
NTR-
Normal Trade
Relation,
nghĩa
là
quan
hệ thương mại bình
thường).
Có
thể
xem
việc
đạt
đưủc
những
quy chế
này
là
các
bước
cần
thiết
dể đi
tới
PNTR.
Quy chế
Tối
dùng hàng rào
mậu
dịch
(Trade
barrier)
nhằm đánh
thuế
cao
vào hàng
hoa nhập khẩu của
nước ngoài và
nhiều
biện
pháp khác
để
bảo
vệ nền
sản
xuất
trong
nước. Với những
nước
có
quan
hệ trên
mức
bình
thường,
người
ta
của
tổ
chức
này
phải
tôn
trọng
vô
điều
kiện
một nguyên
tắc
rất
căn
bản là
Quy
chế
tối
huệ quốc (MFN). Lịch sử
hình
thành và phát
triển
chế độ
Tối
huệ
quốc
đã có
trên
200
năm.
trao
Quy
chế
Tối
huệ
quốc
(MFN)
cho
tất
cả các
quốc
gia
thành viên
7
khác.
Quy
chế
này
cũng
được
trao
cho một
số quốc
gia
không
phải
là
thành
viên của
GATT:
kỳ
"Chiến
tranh lạnh",
hầu
hết
các nước xã
hội
chủ nghĩa
phải
đứng trước
hai lựa
chọn:
hoặc
là không
được
trao
MFN
hoặc
là phải
đáp ứng một
số điều
kiển
nhất
định
để được
trao
quy
chế này.
Tính
tới
năm.
Năm
1984,
quy
chế
MEN
chính
thức
được
GATT
(Hiểp
định
chung
về
thuế
quan
và mậu
dịch)
dưa vào
điểu Ì của
GATT
(nay tổ
chức
này
đổi
tên là
Tổ
chức
Mậu
dịch quốc
thương
mại
phát
triển
giữa
các
nước
thành viên.
MFN
là một
phần của
nguyên
tắc
"không phân
biểt
đối xử".
Nghĩa là
các bên
tham
gia trong
quan
hể
kinh tế
thương mại sẽ dành cho
nhau những
điều
kiển
ưu
đãi
mà mình
thương
mại quốc
tế
đã hoặc
sẽ
dành
cho
bất
kỳ
một
nước
thứ
ba
nào, thì cũng
dành cho bên
tham
gia kia
được hưởng một cách không
điều
kiển.
+ Cách
2:
hàng
hoa
di
chuyển
từ
một
bên
tham
hàng
hoa nhập khẩu
từ
nước
thứ
ba
khác.
8
MFN
là
một nguyên
tắc
điều
chỉnh
các
mối
quan
hệ
thương
mại
và
kinh
tế
giữa
các nước trên cơ
sở
các
hiệp
định,
hiệp
giữa
các
quốc
gia
có chủ
quyền
về các
cơ
hội
giao
dịch
thương
mại
và
kinh
tế.
Mục đích
của việc sử
dụng
nguyên
tắc
MEN
trong
thương mại
quốc
tế
là
nhằm
chống
phân
MEN
phụ thuộc
vào mức độ
quan
hệ
thân
thiện
giữa các
nước
với
nhau.
Cách áp
dụng
nguyên
tắc
MEN:
Nguyên
tắc
MFN được các nước
tuy
vào
lợi
ích kinh
tế
của
mình mà áp
dụng
rất
khác
nhau,
và
chính
trị
do
chính
phủ của
quốc
gia cho
hưởng
đòi
hỏi.
Hai là,
áp
dụng
chế
độ
tối
huệ
quốc
không điều
kiện:
là nguyên
tắc
nước
này cho nước khác hưởng
chế
độ MEN mà không kèm
theo diều kiện
ràng
buộc.
giới
(WTO).
Luật
của WTO quy
định
tất
cả thành viên của WTO dành cho
nhau
quan
hệ thương mại bình
thường,
Quy
chế đối
xử
tối
huệ
quốc
vô
điều
kiện
và
ngay
lập tức.
Như
vậy, đạt
được MFN có
thể
được
coi là
bước
bản sau:
Một là
tuân
thủ theo
các
điều khoản
Jackson-Vanik
của
Bộ
Luật
Thương
mại
năm
1974.
Bộ
Luật
nay bao
gồm
thẩm quyền
thương
lượng
ký
hiệp
đinh
với
các
nước
khác,
việc
lập
đó còn
liên
quan
tới
việc
thực
thi
các
quyền
buôn bán
của
Hoa Kỳ
theo
các
hiệp
định buôn bán
tại
điều 301.
Luật
này
điều chỉnh quan hệ
buôn bán
với
các
nước
có nền
kinh
tế
phi
thị
phải
khẳng
định
một
quốc
gia
không
từ
chối
hoặc cản
trờ
quyền
hoặc
cơ
hội
di
cư
của
công
dân
nước
mình.
Hai là
đã
ký
kết
Hiệp
định
thương
mại song
Nam
tiếp
cận những
chương trình
hỗ
trợ
của
Chính phủ Hoa Kỳ và
chỉ
cấp Quy
chế quan
hệ thương mại bình
thường
với
một
số điều
kiện.
Một điều khoản
trong
Jackson
-Vanik
cũng cho
phép
Tỉng
thống
hàng
năm
ra quyết
định
ngưng áp
và Quốc
hội
đều
phải
bày
tỏ
thái
độ
về
việc
áp
dụng
Tu chính án
Jackson
-
Vanik đối
với
Việt
Nam.
Ke
từ 1998,
năm nào Mỹ
cũng
ra quyết
định
miễn
trừ
Tu chính án
Jackson-
Vanik đối với
Việt
Nam
ra
khỏi
danh
sách các nước
buộc
phải
tái
gia
hạn
việc
miễn
trừ
điều
luật
bổ
sung
Jackson-Vanik.
Quy chế
thương
mại
bình thường vĩnh viễn (PNTR)
*
PNTR
là
quy
chế
un
đãi
Kỳ
coi
là
thù
địch
hoặc
bị
coi
là
chưa có
nền
kinh tế thị
trường
thực thụ.
Quan
hệ
này
vốn bị hạn chế, nay
được
trỳ
lại
bình
thường
nhờ
PNTR.
Trước
hết theo
quy định
của
WTO,
Đến
lượt
mình,
quy
chế
MFN,
về bản
chất
lại
đòi hỏi
các nước thành viên
phải đối
xử
bình
đắng,
không được phân
biệt
đối với
những
hàng
hoa
và
dịch
vụ tương
tự
được
nhập
khấu
từ bất cứ
thành viên
sự
chấp
thuận của
ít
nhất
3/4
tổng số
thành
viên.
WTO
cũng
quy
định,
một thành viên
của tổ
chức
này có
thể vì
lý do chính
trị,
hoặc
lý
do
kinh tế,
kỹ
thuật
nào
khác, không
áp
dụng
tuyên bố các
nghĩa
vụ và cơ
chế, nhất là
cơ
chế
xử lý
tranh
chấp,
không được áp
dụng
trong
quan
hệ
thương
mại đối với
thành viên
mới
gia
nhập
đó.
Hiện
nay
Hoa Kỳ
đã dành
Quy
chế
tối
huệ
quốc
hội
chủ nghĩa hoặc
có
nền
kinh tế phi thị
trường.
*
PNTR
gồm
các
nội
dung
cơ
bản
như
sau:
- Hoa
Kỳ
húy
bỏ áp dệng đạo
luật
Jackson
-Vanik
1974
đối
với Việt
Nam;
-
Quy
định
tham
vấn
của
các bên liên
đới
trong
các
vệ
điều
tra
về các
trợ
cấp
không
được
phép;
-
Quy
định
về
công
tác
trọng
tài
và áp
đặt
hạn ngạch
đối với
những
mặt
Kỳ
- Việt
Nam
về
kết
thúc
đàm phán
WTO
lên
Hạ
viện
dưới
dạng một
dự
luật.
Bước
2:
Dự
luật
này
sẽ
được
giới
thiệu
tại
ủy
ban Chính sách thương
mại của cả
Hạ
viện
biệt
hay "quyền
đàm phán
nhanh" của
tồng thống
đối
với
các
thỏa thuận
thương
mại
với
các
đối
tác
khác
của
Hoa Kỳ.
Sau
khi thủ tệc
này
được thông
qua, cũng
đồng
nghĩa
với
việc
chính
thức
hủy bỏ
ký
và ban hành
việc
thực
hiện việc
dành
Quy
chế
PNTR
bằng
một công
báo.
Đến
đây,
có
thể coi
PNTR
đã chính
thức
có
hiệu lực.
12
lĩ.
TÍNH
TẤT YÊU CỦA
VIỆC
PHÊ CHUẨN QUY CHẾ
THƯƠNG
MẠI
BÌNH
toàn
cầu hoa
kinh
tế thế giới.
Có
những
mối liên hệ khách
quan
quy định
xu
thế
này.
Toàn cầu hoa
kinh
tế khởi
nguồn
từ sự phát
triển
của
lực
lượng
sản
xuất
tiên
tiến,
mà
lực
lượng
sản
xuất
tin
hục,
sinh hục,
công
nghệ hạt
nhân, công
nghệ
vũ
trụ
và
công
nghệ vật
liệu
mới.
Tiến
vào
thế
kỷ XXI
các
công
nghệ
trên
còn
phát
triển
vũ
bão, đạt
nhiều
thành
tựu
những
tính năng mới cho
thiết
bị,
công
nghệ
và
sản phẩm tiêu dùng. Toàn
bộ
sự
phát
triển
đó làm
cho
lực
lượng
sản
xuất
tiên
tiến
xuất hiện
và
nó
buộc
các
nền kinh tế phải
quan
hệ
với
nhau.
vi
toàn
thế
giới.
Quá
trình toàn cầu hoa
diễn
ra
trên mụi khâu
của
quá trình tái sản
xuất
từ
đầu tư đến sản
xuất, kinh
doanh,
thương mại
và
tiêu dùng. Toàn cầu hoa
từ
luật
lệ,
thể chế,
chính sách đến
nghiệp
vụ,
kỹ
thuật
sản xuất, kinh
doanh, từ
công
nghệ
hiện đại.
Tuy
Việt
Nam
chưa
phải
là
đối
tượng
hàng đầu
trong
chính sách Châu
Á
-
Thái Bình Dương
của
Hoa Kỳ,
song
một nước
Việt
Nam
đổi
mới,
mở
cửa,
đa phương hoa
quan
hệ
triển
nhanh
chóng của
Trung
Quốc
đã làm
cho
Hoa Kỳ
phải lo ngại
và tìm
cách
củng
cố
vai
trò của mình
tại
khu vực này.
Như
vậy,
Việt
Nam
không
nằm
ngoài
mục
tiêu
mở
rộng
ảnh
hưởng
xuất
khẩu
lớn"
của
Hoa
Kỳ.
Mặt
khác,
chính sách
mở
cửa
và
đổi
mới của
Việt
Nam đã làm
cho
lợi
ích
của cả
hai
phía
từng
bước xích
lại
gần
nhau.
Hoa Kỳ tìm
thấy
ở
thương mại
với
Việt
Nam,
Hoa
Kỳ
cũng
có
lợi
ích cả về
kinh tế lẫn
chính
trấ trong
các
vấn
đề an
ninh
khu
vực và phát
triển
quan
hệ thương mại
giữa hai
nước.
-
Xu
thê
toàn
cầu hoa
kinh
kinh
tế quốc
tế
và
đấnh hướng
xã
hội
chủ
nghĩa
là
những
bài
toán
lớn,
khó
khăn
mà
Việt
Nam
phải
tìm
được
lời
giải
hợp
lý. Hai mươi
năm
đổi
mới,
Đảng,
theo
con đường xã
hội
chủ nghĩa.
Cùng vói
việc
khẳng
đấnh xu
thế
khách
quan
của
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế
cũng
phải thấy
rằng
hội
nhập
diễn
ra nhanh
hay chậm,
với
mức độ nào là
phụ
thuộc
vào
lộ
trình,
hình
thức
và
nội
dung
hội
nhập
thích hợp cho nền
kinh tế đất
nước.
Kinh
tế Việt
Nam đang
thực
hiện
công
cuộc
đổi mới,
chuyển
từ nền
kinh tế
kế
hoạch
tập trung
bao cấp
sang
nền
kinh tế thị
lập
các cơ sở nền
tảng
cho sản
xuất
hàng hoa đến
việc
hình thành đầy
đủ,
đồng bộ các yếu
tố tạo
dựng
nền
kinh tế
thị
trưởng.
Vì vậy
đổi
mới và mở cửa
hội
nhập
có
quan
hệ gắn bó
chặt
chẽ,
thúc đẩy
lẫn
nhau
cùng phát
trình
hội
nhập
của
Việt
Nam. Điển
hình là quá trình
Việt
Nam
gia
nhập
WTO.
Trong
lộ
trình
ấy,
PNTR
chính là
cái "cánh cửa
cuối
cùng".
Điều đó
lại
liên
quan
tới
quan
hệ chính
trị - kinh tế
khá đặc thù
hệ khá đặc
biệt
bởi lịch
sử
quan
hệ
giữa hai
nước vốn là
đối thủ
gần đây mói
trở
thành
đối
tác.
Hai nước còn khá
nhiều
khác
biệt
về trình độ,
kiểu
tổ
chức
kinh tế thị
trưởng
và cả
những
khác
biệt
về ý
thức
Hoa Kỳ như
sau:
15
"Nguyên
tắc
quan hệ buôn bán
bình thường
- NTR
(Normal
Trade
Relations)
hay còn
gọi
là Quy chế
Tối
huệ
quốc
- MFN
(Most
Favoured
Nation). Giải
thích về nguyên
tắc
này ở
Khoản
Ì
Điều Ì
Chương
Ì của
Hiệp
hơn
sự
đối
xử dành
cho
hàng hóa tương
tự
có
xuất
xứ
tại
hoặc
được
xuất
khẩu
tổ
lãnh
thổ
của
bất
cứ nước
thứ
ba nào khác
trong
tất
cả các
vấn
đề có
liên
quan
và
xuất
khẩu,
và
việc
chuyển
tiền
quốc
tế
của các khoản
thanh
toán
đó;
c. Những
quy
định
và
thủ tục
liên
quan đến
xuất
nhập
khẩu,
kể cả những
quy
định
về
hoàn
tất
thủ tục
cầu
khác có ánh
hường
đến
việc
bán,
chào
bán,
mua, vận
tải,
phân
phối,
lưu kho và sử đụng hàng hóa
trong
thị
trường
F. Việc áp dụng các hạn chế định lượng và cấp giấy phép.
Nguyên
tắc đối
xử
quốc
gia
là
nguyên
tắc
nhằm
tạo ra
môi trường
kinh
doanh
tiếp
dùng các
loại
thuế
và phí
nội
địa
đánh vào
sản
phẩm
nhập khẩu tổ
Bên
kia
cao
hơn
so
với
mức
thuế
và
phí
mà
sản
phẩm
nội
địa
phải
chịu.
ló
B. Hàng
dụng
hàng.
c. Bên phía
Việt
Nam
cũng
như Bên phía Hoa Kỹ không được
soạn
thảo
thêm
những
quy định và tiêu
chuẩn
kỹ
thuật
áp
dụng
riêng
đối với
hàng
nhập
khấu
từ đối tác,
nhằm
tạo ra trở ngại
cho
hoạt
động
nhập
khẩu
phẩm
.quy
định
với
hàng
nhập
khẩu
phải
phù họp
với
các quy định của Tổ
chức
WTO và các quy định này không
mang
tính
chất
hạn
chế thương
mại,
không quy định cao hơn so
với
quy định cho sản phẩm
nội
địa" [27].
- Ngoài
ra,
còn có một số
quan
điểm
khác
chính sách thương mại vói
Việt
Nam trước
hết
là vì
lợi
ích
của
Hoa Kỹ và qua dó tác động dể gây ảnh
hưởng,
lôi kéo
kinh tế Việt
Nam
theo
hướng
thị
trường tư bản chủ
nghĩa.
Việt
Nam là "một
thị
trường
lớn
đang
nổi
lên" và
thu
hút sự
quan
tâm không chỉ của Hoa Kỹ.
cũng
có
thể
lợi
dụng
những
lỏng
lẻo
của
Việt
Nam
trong
quản
lý
kinh tế
để
trục
lợi
cho các
doanh
nghiệp
nước
này.
ÍTMưvTỊĩl
ItSiíí"
DA
1
Hạc!
haaai
i