Khóa luận tốt nghiệp ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên quá trình phát sinh hình thái cây hoa huệ hương (polianthes tuberosel) in vitro - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
TP. HCM

Ngành:

CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC THỰC VẬT

Giảng viên hướng dẫn: Th.S. Trịnh Thị Lan
Anh

i


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Sinh viên thực hiện
MSSV: 0811110049

: Lê Ngọc Mỹ
Lớp: 08CSH2

TP. Hồ Chí Minh, 2011

MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................................ii
DANH MỤC BẢNG..............................................................................................................ii


.....................................................................................................
28
Bảng 2.2. Khảo sát ảnh hưởng của việc kết hợp HgCl 2 0,1% và Ca(OCl)2
15%
đến
hiệu
quả
khử
trùng
mẫu
cấy.
.....................................................................................................
29
Bảng 2.3. Khảo sát ảnh hưởng của kinetin lên khả năng phát sinh hình
thái
của
mẫu
cấy
.....................................................................................................
29
Bảng 2.4. Khảo sát ảnh hưởng của BA đến khả năng phát sinh hình thái
của
mẫu
nuôi
cấy.
.....................................................................................................
29
Bảng 2.5. Khảo sát ảnh hưởng kết hợp của BA và các auxin khác nhau
lên khả năng phát sinh hình thái của mẫu cấy.

37
Bảng 3.5. Ảnh hưởng kết hợp của BA và các auxin khác nhau lên khả
năng phát sinh hình thái của mẫu cấy sau 8 tuần nuôi cấy
.....................................................................................................
40

DANH MỤC HÌNH
Hình
1.1.
Polianthes
tuberose
L.
................................................................................................................
13
Hình
2.1.
Hoa
Huệ
Hương
................................................................................................................
26
Hình
2.2.
Củ
hoa
Huệ
Hương
................................................................................................................
26
Hình 3.1. Mẫu phát sinh hình thái trên môi trường MS + 30g/l saccaroza

Hình 3.3. Mẫu phát sinh hình thái trên môi trường MS + 30g/l saccaroza
+ 9 g/l agar + 0,25mg/l IBA + 4mg/l BA
......................................................................................................
41
Hình 3.4. Mẫu phát sinh hình thái trên môi trường MS + 30g/l saccaroza
+ 9 g/l agar + 0,25mg/l 2,4D + 4mg/l BA
......................................................................................................
41
Hình 3.5. Mẫu phát sinh hình thái trên môi trường MS + 30g/l saccaroza
+ 9 g/l agar + 0,25mg/l α-NAA + 4mg/l BA
......................................................................................................
42
Hình 3.6. Mẫu phát sinh hình thái trên môi trường MS + 30g/l saccaroza
+ 9 g/l agar + 0,25mg/l IAA + 4mg/l BA
......................................................................................................
42

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

v


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

MS:
BA:
IBA:
α-NAA:
2,4-D:


thất thu nguồn thu nhập của nông dân. Các triệu chứng bệnh do virus được mô tả bởi
Horner và Person (1988), Chen và Chang (1998) gần giống các biểu hiện ở cây hoa Huệ
Hương ở Nam Trung Bộ. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tạo nguồn giống sạch bệnh
cung cấp cho nhân dân?
Phương pháp nhân giống in vitro với rất nhiều ưu điểm, tạo được cây con trẻ hóa
và sạch bệnh nên tiềm năng sinh trưởng, phát triển và năng suất cao, khắc phục được
nhược điểm của phương pháp nhân giống truyền thống, khôi phục lại phẩm chất vốn có
của giống. Đồng thời hệ số nhân của phương pháp nhân giống này cao đáp ứng được nhu
cầu về số lượng giống có chất lượng cao, ổn định đáp ứng được nhu cầu sản xuất trên
quy mô rộng. Cho đến nay kĩ thuật nuôi cấy mô đã được nghiên cứu ứng dụng rất có hiệu
quả trong việc nhân giống hàng loạt các loại cây trồng tạo ngân hàng cây giống sạch
bệnh, khỏe mạnh cho năng suất cao, phẩm chất tốt cung cấp cho sản xuất.

2. Mục đích nghiên cứu

7


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Xác định được ảnh hưởng của các chất đều hòa sinh trưởng thực vật lên quá trình
phát sinh hình thái trong quy trình nhân giống cây hoa Huệ Hương bằng kỹ thuật nuôi
cấy mô tế bào, làm cơ sở cho việc hình thành quy trình nhân giống in vitro cây hoa Huệ
Hương, góp phần giải quyết những khó khăn của thực tiễn sản xuất hoa.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Cây hoa Huệ Hương là đối tượng mới của sản xuất cây giống bằng phương pháp
nuôi cấy mô ở nước ta. Xuất phát từ yêu cầu khó khăn của thực tiễn, nhằm khắc phục
hiện tượng chai bông trên cây hoa Huệ Hương, một giống hoa Huệ quý mang lại hiệu quả
cao cho nông dân. Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống in vitro

Năm 1838, trên cơ sở những nghiên cứu độc lập, hai nhà bác học người Đức là
Schleiden và Schwamn cùng khởi xướng học thuyết tế bào. Học thuyết này cho rằng tế
bào là đơn vị cấu trúc và chức năng của sinh vật, vì vậy có khả năng tồn tại độc lập.
Gottlibe Haberlandt là người đầu tiên đề xuất phương pháp nuôi cấy mô tế bào
thực vật vào năm 1902 để chứng minh học thuyết về tính toàn năng của tế bào. Theo ông
mỗi tế bào của bất kỳ cơ thể nào đều mang toàn bộ hệ thống di truyền cần thiết và đầy đủ
thông tin của sinh vật đó, khi gặp điều kiện thích hợp, mỗi tế bào đều có thể phát triển
thành cơ thể hoàn chỉnh. Ông tiến hành thí nghiệm với tế bào khí khổng và các tế bào đã
được biệt hóa về chức năng khác nhưng không thành công. Điều đó đã giảm sự tin tưởng
của các nhà khoa học đối với phương pháp nuôi cấy mô tế bào trong thời gian dài.
Đến năm 1922 học trò của Gottlibe Haberlandt là Kotte và Robbinss đã làm lại thí
nghiệm của ông. Họ đã lấy đỉnh sinh trưởng của rễ cây hòa thảo nuôi cấy trong môi
trường có khoáng, đường, đầu rễ đã sinh trưởng mạnh và tạo ra hệ rễ nhỏ và cả rễ phụ.
Tuy nhiên sự sinh trưởng chỉ tồn tại trong một thời gian mặc dù chuyển sang môi trường
mới.
Năm 1934, bắt đầu giai đoạn thứ 2 trong lịch sử nuôi cấy mô tế bào thực vật khi
White đã nuôi cấy thành công đầu tiên rễ cà chua trên môi trường lỏng có chứa đường,
muối khoáng, dịch chiết nấm men. Các thí nghiệm tiếp theo ông thay thế dịch chiết nấm
men bằng hỗn hợp 3 vitamin nhóm B : thiamin (B1), nicotinic acid (B3), pyridioxin (B6).
Sau đó ít lâu Went và Thimann tìm ra chất kích thích sinh trưởng đầu tiên là IAA.
Năm năm sau Gautheret đã thông báo về sự tái sinh của cây cà rốt, đây cũng là lần
đầu tiên sự phát triển của mô sẹo không bị giới hạn. Bằng cách thêm IAA vào môi trường
nuôi cấy, ông có thể kích thích sự phát triển của mô đã biệt hóa trên vết cắt của bề mặt
mẫu cấy vô trùng. Sau này người ta mới thấy rằng callus có thể trực tiếp nuôi cấy vô thời
hạn. Đến năm 1948, Steward xác nhận tác dụng của nước dừa trên mô sẹo cà rốt. Trong
thời gian này nhiều chất sinh trưởng thuộc nhóm auxin được tổng hợp như
naphthylacetiic acid (NAA), 2,4-Diclophenoxyacetic acid (2,4D). Nhiều tác giả nhận
9



điều kiện thích hợp, mỗi tế bào đều có khả năng tái sinh và phát triển thành cá thể hoàn
chỉnh. Thực tế đã chứng minh được khả năng tái sinh một cơ thể thực vật hoàn chỉnh từ
một tế bào riêng rẽ. Hàng trăm loài cây trồng đã được nhân giống trên qui mô thương mại

10


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

bằng cách nuôi cấy trong môi trường nhân tạo vô trùng và tái sinh chúng thành cây với
hệ số nhân giống vô cùng lớn (Murashige, 1980).
Quá trình phát sinh hình thái trong nuôi cấy in vitro thực vật thực chất là kết quả
của các quá trình phân hóa và phản phân hóa. Tất cả các tế bào trong các cơ quan khác
nhau của cơ thể thực vật đều bắt nguồn từ tế bào phôi sinh. Sự chuyển tế bào phôi sinh
thành các tế bào chuyên hóa để đảm nhiệm các chức năng khác nhau được gọi là sự phân
hóa tế bào. Còn quá trình phản phân hóa thì ngược lại với quá trình phân hóa, có nghĩa là
tế bào đã phân hóa thành mô chức năng không hoàn toàn mất đi khả năng phân chia mà ở
điều kiện thích hợp chúng có thể trở về dạng phôi sinh và tái phân chia.
Bản chất của quá trình này là một quá trình hoạt hóa, ức chế các gen. Trong quá
trình phát triển cá thể, ở từng thời điểm nhất định đều có một số gen nhất định được hoạt
hóa cho ta tính trạng mới, một số gen khác lại bị đình chỉ hoạt động. Điều này xảy ra theo
một chương trình đã được mã hóa trong cấu trúc phân tử DNA của mỗi tế bào khiến quá
trình sinh trưởng phát triển của cơ thể thực vật luôn được hài hòa. Mặt khác, khi nằm
trong khối mô bình thường, tế bào luôn bị chi phối bởi các tế bào xung quanh. Khi tế bào
được tách riêng rẽ, tác dụng ức chế của các tế bào xung quanh không còn nữa thì các gen
được hoạt hóa và quá trình phân hóa sẽ xảy ra theo một quá trình định sẵn.

1.4. Ưu, nhược điểm của phương pháp nhân giống in vitro
Phương pháp nhân giống in vitro có khả năng khắc phục được nhiều trở ngại mà
những phương pháp nhân giống khác thường gặp. Sau đây là những ưu điểm chính :

cuộc cách mạng về hệ số nhân.
Nhược điểm chính của phương pháp nuôi cấy in vitro là đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền và
kỹ thuật cao nên chỉ có hiệu quả đối với những cây có giá trị cao hoặc khó nhân giống
bằng phương pháp khác (Nickell, 1973). Ngoài ra, phương pháp này còn có những bất lợi
sau:
- Mặc dù số lượng cây giống thu được có thể rất cao nhưng cây con có kích thước nhỏ,
đòi hỏi phải có chế độ chăm sóc đặc biệt ở giai đoạn sau ống nghiệm.
- Cây có thể có những đặc tính không mong muốn.
- Khả năng tạo đột biến tăng.
- Khả năng tái sinh có thể bị mất đi do cấy truyền callus hay huyền phù tế bào nhiều lần.
- Cây giống có thể bị nhiễm bệnh đồng loạt.
Tuy vậy phương pháp nhân giống in vitro ngày càng được sử dụng rộng rãi để
phục vụ cho những mục đích sau:
- Nhân nhanh và duy trì các cá thể đầu dòng tốt để cung cấp hạt giống các loại cây trồng
khác nhau như cây lương thực có củ, cây rau, cây hoa, cây cảnh và cây dược liệu thuộc
nhóm cây than thảo.

12


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

- Nhân nhanh và kinh tế các kiểu gen quí hiếm của giống cây lâm nghiệp và gốc ghép
trong nghề trồng cây ăn quả, cây cảnh thuộc nhóm than gỗ.
- Nhân nhanh ở điều kiện vô trùng và cách ly tái nhiễm kết hợp với làm sạch virus.
- Bảo quản và lưu giữ các tập đoàn giống nhân giống vô tính và các loài giao phấn trong
ngân hàng gen.

1.5. Kỹ thuật nuôi cấy in vitro
Kỹ thuật nuôi cấy in vitro có thể chia thành các bước sau:

lý, không gây ức chế sinh trưởng và hiệu quả diệt khuẩn tốt. Nồng độ của Calcium
hypoclorit và natri hypoclorit tương ứng thường là 5 - 15% và 0,5 - 2% trong thời gian 15
- 30 phút. Tuy nhiên, những chất này không bền nên trong thực tế HgCl 2 cũng hay được
dùng để thay thế.
- Xác định điều kiện nuôi cấy (môi trường dinh dưỡng, nhiệt độ, ánh sáng) để điều khiển
quá trình phát triển nuôi cấy theo định hướng.
Thành công của phương pháp nuôi cấy in vitro phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện
nuôi cấy. Nhu cầu dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát triển tối ưu của các loài là
không giống nhau, ngay cả giữa các bộ phận trong cùng một cơ thể cũng ít nhiều khác
nhau. Sự lựa chọn môi trường nuôi cấy bao gồm cả chất lượng và số lượng hóa chất sử
dụng đóng vai trò quyết định đối với bản thân sự phân hóa và chiều hướng phân hóa của
tế bào.
Cho đến nay, đã có nhiều loại môi trường dinh dưỡng được tìm ra : môi trường
Murashige và Skoog (1962), môi trường Linsmaer và Skoog (1963), môi trường
Gamborg (1968), môi trường Knop (1974)… Đây là những môi trường cơ bản và sẽ được
cải tiến thành nhiều loại môi trường khác nhau phù hợp với mỗi đối tượng nghiên cứu và
mục đích thí nghiệm. Trong số đó, môi trường MS (Murashige và Skoog, 1962) được
đánh giá là phù hợp nhất cho đa số các loài thực vật và chính Murashige (1974) đã dung
môi trường này để nuôi cấy nhiều loài cây trồng.
Thành phần chủ yếu của tất cả các loại môi trường gồm những nhóm chất sau :
muối khoáng đa lượng và vi lượng (muối chloride, nitrate, sulphate, chất tham gia điều
chỉnh sự phân hóa của rễ, chồi…
Các auxin đều có hiệu quả sinh lý ở nồng độ thấp, thường được sử dụng với nồng
độ từ 10-1 M đến 10-6 M tùy theo từng chất, mục đích và đối tượng nghiên cứu. Auxin
được thêm vào môi trường nuôi cấy sẽ kết hợp với auxin nội sinh để điều khiển chiều
hướng và cường độ các quá trình sinh trưởng. Hàm lượng auxin thấp sẽ kích thích sự
phân hóa rễ, ngược lại ở hàm lượng cao sẽ phát động sự tạo mô sẹo.
Các auxin thường được sử dụng trong nuôi cấy mô là IBA (indol butyric acid), αNAA (a-naphtylacetic acid), 2,4-D (2,4 diclorophenoxy acetic acid), IAA (indool acetic
acid).
14

ngủ nghỉ (chồi nách).

15


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trong nhân giống in vitro, cây non có thể được tái sinh từ các điểm sinh trưởng có
sẵn trong các bộ phận (phôi, đỉnh chồi, chồi nách) hoặc từ những mô có khả năng hình
thành điểm sinh trưởng phụ. Có hai phương pháp tái sinh cây con:
+ Tái sinh trực tiếp từ đỉnh sinh trưởng, phôi, ngọn, chồi hay chồi nách.
+ Tái sinh cây gián tiếp thông qua giai đoạn hình thành mô sẹo.
Tái sinh trực tiếp từ mẫu nuôi cấy là quá trình phát động những điểm sinh trưởng
đã tồn tại sẵn trong mô nuôi cấy phân chia và tái sinh thành cây. Các điểm sinh trưởng
này bao gồm các tế bào phôi sinh chứa 2n nhiễm sắc thể đặc trưng cho loài. Cây con tạo
ra theo con đường này hoàn toàn đồng nhất về mặt di truyền và duy trì được những tính
trạng của cây mẹ.
Trong hướng tái sinh gián tiếp, mẫu nuôi cấy không tái sinh thành cây ngay mà
phát triển thành khối mô sẹo (callus). Có thể thấy ngay là hệ số nhân của hướng này vô
cùng lớn. Từ một khối mô sẹo có thể tạo ra khối lượng lớn cây giống trong một thời gian
ngắn thong qua kỹ thuật tạo phôi soma hoặc chế ra hạt giống nhân tạo. Nhiều cây tái sinh
từ mô sẹo có thể rất khác với cây mẹ về mặt di truyền. Nguyên nhân của hiện tượng này
là do trong quá trình phát sinh và phát triển của mô sẹo, thường xuất hiện những tế bào
đột biến mang số nhiễm sắc thể không giống với tế bào ban đầu hoặc chứa những đột
biến gen do hiện tượng nội nguyên phân. Nội nguyên phân là hiện tượng nhân đôi nhiễm
sắc thể không kèm theo sự phân bào trong thực tế và là hiện tượng tự nhiên trong cơ thể
thực vật, nhưng tăng lên dưới ảnh hưởng của các thành phần của môi trường dinh dưỡng
và điều kiện cũng như phướng pháp nuôi cấy, nhất là khi cấy chuyển nhiều lần. Đột biến
tuy không có lợi cho việc duy trì nguyên trạng những đặc tính di truyền trong quá trình
tạo giống nhưng lại chính là đối tượng tìm kiếm trong quá trình cải tạo giống. Ngoài việc

gian chiếu sáng lên 16 giờ/ngày, cường độ ánh sáng tối thiểu là 1000 lux. Ánh sáng tím là
thành phần kích thích phân hóa mạnh, nhiệt độ thích hợp từ 20 - 30oC.
1.7.4. Tái sinh rễ
Khi chồi đạt đến một kích thước nhất định, mẫu được chuyển sang môi trường tạo
rễ. Môi trường này thường được bổ sung auxin (IBA, α-NAA, 2,4-D) ở liều lượng thích
hợp. Tuy nhiên, ở một số cây như chuối thì sự hình thành rễ tốt hơn ở môi trường không
có chất điều hòa sinh trưởng.
1.7.5. Đưa cây in vitro ra vườn ươm
Ở giai đoạn này, cây được chuyển từ trạng thái dị dưỡng sang tự dưỡng. Vì vậy
cần phải huấn luyện cho cây thích nghi với sự biến đổi của môi trường, đồng thời thay
đổi những đặc điểm sinh lý và giải phẫu của cây con.

1.8. Sơ lược về đối tượng nghiên cứu
1.8.1. Nguồn gốc

17


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Cây hoa Huệ Hương có tên khoa học là Polianthes tuberose L. Đây là loài hoa cắt
cành, thuộc nhóm cây thân thảo, cho hoa quanh năm, nở hoa vào ban đêm, có nguồn gốc
chủ yếu từ Mexico và hiện đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới.
Loài hoa này đã được du nhập vào nước ta từ rất lâu và được trồng phổ biến tại
một số tỉnh thuộc vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
1.8.2. Phân loại
Trong hệ thống phân loại thực vật học, cây

hoa


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Cây hoa huệ có lá đơn mọc quanh gốc, xanh và dài, cuống lá gốc rộng và to thành
hình như cái bao bao lấy củ, giữa phiến lá và bẹ lá không phân biệt rõ ràng. Chiều dài lá
khoảng 20 - 30cm, bề rộng của lá từ 0,5 - 1cm.
1.8.3.3. Hoa
Cây hoa huệ là cây cho hoa quanh năm, nhưng hoa nở chủ yếu vào mùa hè còn
mùa đông tỷ lệ ra hoa ít, hoa nhỏ và bông nắng hơn.
Hoa huệ có màu trắng, bao hoa hình phễu, thường tỏa hương vào ban đêm. Hoa có vị
ngọt, hơi chát, thơm, không độc. Cành hoa thường dài, ở nách mỗi lá có 2 hoa màu trắng,
có tràng đơn hay tràng kép, nhị gắn giữa ống, bầu dưới 3 ô.
1.8.3.4. Củ và rễ
Cây huệ có bộ rễ chùm phát triển mạnh, rễ phân bố chủ yếu ở lớp đất mặt 1-15cm.
Có 2 loại rễ: rễ mọc từ củ mẹ ban đầu gọi là rễ sơ cấp và rễ mọc từ củ con gọi là rễ thứ
cấp, củ huệ thực chất chính là thân ngầm của cây huệ.
1.8.4. Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa Huệ Hương
1.8.4.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố vật lý có ảnh hưởng lớn đến thời gian sinh trưởng, phát triển
cũng như khả năng phân hóa hoa của cây hoa Huệ Hương.
Cây hoa Huệ Hương là cây ưa nhiệt độ mát mẻ (20 - 25 oC), nhưng chịu nóng tốt,
phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, cho hoa tốt vào mùa hè. Tuy vậy, khi
nhiệt độ mùa hè quá cao kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng sinh trưởng của
cây, chất lượng hoa và nhất là sâu bệnh phá hại mạnh.
Trước khi phân hóa hoa và lúc cây có 5 - 6 lá cần nhiệt độ mát mẻ (15 - 22 oC) nếu không
tỷ lệ nở hoa sẽ rất thấp và chất lượng hoa kém.
1.8.4.2. Ánh sáng
Cây hoa Huệ Hương là cây ưa sáng mạnh. Giai đoạn đầu sau khi trồng, cây sống
chủ yếu nhờ vào nguồn dinh dưỡng từ củ. Khi cây ra lá, cây sử dụng chất dinh dưỡng từ
quá trình quang hợp. Trong thời kỳ phân hóa mầm hoa nếu không cung cấp đủ ánh sáng
thì tỷ lệ ra hoa thấp, hoa nhỏ.

Huệ Hương. Nếu đất quá ẩm, rễ rất dễ bị thối, vì thế vào mùa mưa cần chống úng, tháo
nước kịp thời không để ruộng bị ngập úng.
Mặc khác hoa Huệ Hương cũng là cây rất mẫn cảm với các loại muối kim loại
nặng. Đặc biệt là loại đất có hàm lượng chì cao, rễ cây sinh trưởng kém, cây phát triển
chậm và khả năng ra hoa kém. Chính vì vậy trước khi trồng hoa huệ cần chú ý đến các
biện pháp canh tác đất.
1.8.5. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1.8.5.1. Chuẩn bị giống

20


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Theo phương pháp canh tác truyền thống, cây huệ trồng bằng củ, vì vậy khi cây có
nhiều lá úa vàng thì bới củ, tách nhẹ nhàng từng củ, chọn những củ có kích thước đạt tiêu
chuẩn sau đó cắt bỏ lá và rễ tiến hành phơi nắng 2 - 3 ngày cho lá héo rồi đem bảo quản
nơi thoáng mát, cao ráo, sau 2 - 3 tháng có thể đem trồng trở lại. Trong thời gian bảo
quản nên thường xuyên kiểm tra tránh hiện tượng củ bị thối.
Trong những năm gần đây, xuất hiện bệnh chai bông trên diện rộng, vì vậy để
phòng trừ bệnh chai bông trên cây hoa Huệ Hương cần tiến hành các bước sau:
- Không sử dụng củ bị nhiễm bệnh hoặc lấy củ từ những ruộng đã bị nhiễm bệnh trước đó
làm củ giống.
- Phơi củ trong vòng 1 - 1,5 tháng trước khi đem ra trồng.
- Nên thay đổi chân đất sau mỗi vụ trồng hoặc luân canh cây hoa Huệ Hương với một
loại cây trồng khác.
- Khi phát hiện thấy có triệu chứng bệnh cần loại bỏ cây bệnh ra khỏi ruộng, phơi khô và
đốt bỏ. Khi không có củ giống sạch bệnh, có thể chọn củ ở cây không có triệu chứng
bệnh và tiến hành phơi nắng kĩ từ 1-1,5 tháng, sau đó xử lý củ với nước nóng khoảng 56 57oC.
Quy trình xử lý củ Huệ Hương bằng nước nóng để phòng trừ bệnh chai bông gồm

Trong thời gian trồng và thu hoạch cần tiến hành trừ cỏ, xới đất, bón phân, tưới
nước, phun thuốc…, thường xuyên để tránh lây lam nguồn sâu bệnh hại.
Khi trừ cỏ phải tiến hành theo nguyên tắc trừ sớm, trừ khi cỏ còn non và trừ sạch,
có thể trừ cỏ bằng tay hoặc bằng thuốc.
Trong quá trình trồng, nên bón phân với số lượng ít và chia thành nhiều đợt như
bón lót, bón thúc. Ngoài cách bón vào đất còn có thể phun lên lá để bổ sung dinh dưỡng,
hỗ trợ cho quá trình ra hoa và chống rụng nụ hoa. Trong thời kì phân hóa mầm hoa cần
bón thêm phân đạm, khi ra nụ và sau khi ra hoa cần bón thêm lân và kali.
1.8.6. Vấn đề sâu bệnh trên cây hoa Huệ Hương
Trên cây hoa Huệ Hương, sâu thường gặp là rệp sáp, nhện đỏ và nhất là tuyến
trùng.
Bệnh gây hại trên cây hoa Huệ Hương được chia thành hai nhóm:
- Nhóm bệnh không truyền nhiễm, do ngoại cảnh không phù hợp thường gặp nhất là thối
xám, thối gốc, đốm lá, gỉ sắt… có thể phòng trị bằng các loại thuốc hóa học.
- Nhóm bệnh truyền nhiễm chủ yếu là do vi sinh vật ký sinh gây ra bao gồm : vi khuẩn,
xạ khuẩn, nấm, mycoplasma, virus,… thường rất khó trị, nhất là bệnh do virus gây ra rất
dễ lây lan và phát tán thành dịch, gây hại nghiêm trọng và truyền từ đời này sang đời
khác, đặc biệt là ở nhóm cây nhân giống vô sinh (bằng củ) như cây huệ. Virus không thể
phòng chống hay tiêu diệt bằng hóa chất như vi khuẩn, nấm,, sâu bệnh, cách duy nhất để
loại bỏ virus là phải tách chúng ra khỏi cây bị bệnh, trả lại cho cây cuộc sống bình
22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

thường khỏe mạnh. Vì vậy, biện pháp làm sạch virus phải luôn được kết hợp với biện
pháp duy trì tính sạch bệnh.
Sau khi trồng khoảng 1 tháng, ở cây hoa Huệ Hương thường bị nhện đỏ phá hại
nặng trên lá, từ 3 - 4 tháng trở đi cây dễ bị rệp sáp phá hại nên có thể phòng trị bằng các
loại thuốc sau : Nissorun, Kelthan 20 EC, Comite, Basudin 10H. Khoảng tháng 9 - 10,

một số bệnh đơn giản. Ở Ấn Độ người ta đã dùng củ phơi khô, tán thành bột để làm thuốc
trị liệu, hoặc ở Vũng Tàu người dân nơi đây đã dùng củ để chữa bệnh sốt rét.
Ở một số nơi, dân gian còn dùng củ để chữa bệnh hóc xương bằng cách đem giã
nát củ, vắt lấy nước rồi nhỏ vào họng của người bị hóc xương sau 1 - 2 phút sẽ khỏi.

1.9. Tình hình sản xuất hoa huệ trong nước
Du nhập vào nước ta từ rất lâu và được trồng rộng rãi trong cả nước, nhưng cây
hoa Huệ Hương được trồng phổ biến hơn cả ở miền Nam và Nam Trung Bộ. Trong
những năm gần đây, diện tích canh tác cây hoa Huệ Hương ngày càng được mở rộng và
đem lại thu nhập cao cho người trồng.
Theo thống kê hiện nay, trên địa bàn các tỉnh Đồng bằng song Cửu Long có diện
tích trồng huệ lớn hơn cả. Trung bình các tỉnh có khoảng 500 - 1000 ha canh tác cây hoa
Huệ Hương, khi thu hoạch có thể thu nhập từ 150 - 200 triệu/ha.
Do cây này dễ trồng, chi phí đầu tư thấp, ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết và
đặc biệt hơn là hoa huệ cho thu hoạch tới 14 tháng/vụ nên trong điều kiện thuận lợi
thường cho thu nhập cao.
Trong những năm gần đây, trên địa bàn các tỉnh vùng Nam Trung Bộ bắt đầu đẩy
mạnh canh tác cây hoa Huệ Hương, đặc biệt là ở Bình Định và Khánh Hòa. Ở Bình Định,
cây hoa Huệ Hương dần trở thành cây trồng chính. Theo đánh giá của người dân nơi đây,
trong điều kiện thuận lợi mỗi ha bình quân cho thu nhập trên 80 - 120 triệu đồng.
Mặc dù vậy, hiện nay việc canh tác cây huệ đang gặp nhiều khó khăn, do bị sâu
bệnh hại phá hoại nhiều, trong đó có một bệnh rất khó trị là bệnh chai bông. Hiện nay
bệnh phá hoại rất mạnh, có thể làm giảm đến 60% năng suất cây trồng. Chính vì vậy,
năng suất hoa Huệ Hương trên nhiều vùng có xu hướng không ổn định và chất lượng hoa
thì giảm đáng kể.
Hiện nay, bệnh chai bông đang là nguyên nhân chính làm cho giảm năng suất và
phẩm chất hoa trên các vùng chuyên canh, đặc biệt ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Triệu
chứng bệnh thể hiện:
- Trên lá: trước khi ra hoa, trên lá của cây con bị nhiễm bệnh thường xuất hiện các đường
gân sọc màu nâu đỏ kéo dài từ bẹ lá đến chóp lá, lá có thể bị xoắn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status