khóa luận tốt nghiệp tác động của các cam kết gia nhập wto đến dịch vụ chứng khoán tại việt nam - Pdf 13

TRNG I HC NGOI THNG
KHOA KINH T V KINH DOANH QUC T
CHUYấN NGNH KINH T I NGOI

KHO LUN TT NGHIP ti:
TC NG CA CC CAM KT GIA NHP WTO N
DCH V CHNG KHON TI VIT NAM

H v tờn sinh viờn
Lp
Khoỏ
Giỏo viờn hng dn
: Nguyễn Khánh Toàn
: Anh 6
: 44
: TS. Đỗ H-ơng Lan

3.3. Bảo lãnh phát hành chứng khoán 11
3.4. Tư vấn đầu tư chứng khoán 13
3.5. Quản lý danh mục đầu tư 14
3.6. Quản lý quỹ chứng khoán 14
3.7. Lưu ký, bù trừ, thanh toán và đăng ký chứng khoán 15
II. Tự do thƣơng mại dịch vụ chứng khoán trong khuôn khổ WTO 16
1. Vài nét về WTO và hiệp định GATS 16
1.1. Tổ chức Thương mại Thế giới WTO 16
1.2. Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ GATS 17
2. Tự do hóa thƣơng mại dịch vụ chứng khoán trong khuôn khổ
WTO 19
2.1. Cung cấp qua biên giới 21
2.2. Tiêu dùng ngoài lãnh thổ 22
2.3. Hiện diện thương mại 22
2.4. Hiện diện thể nhân 22
2.5. Tính minh bạch của pháp luật 23
CHƢƠNG 2: Tác động của các cam kết gia nhập WTO đến dịch vụ
chứng khoán tại Việt Nam 24
I. Thị trƣờng dịch vụ chứng khoán ở Việt Nam trƣớc khi gia nhập
WTO 24
1. Các nhà cung cấp trên thị trƣờng dịch vụ chứng khoán 240
1.1. Công ty chứng khoán 24
1.2. Công ty quản lý quỹ 26
2. Các loại hình dịch vụ chứng khoán cung cấp trên thị trƣờng 27
2.1. Môi giới chứng khoán 27
2.1.1. Hoạt động môi giới cổ phiếu 29
2.1.2. Hoạt động môi giới trái phiếu 30

2.2. Đánh giá việc thực hiện cam kết khi gia nhập WTO của Trung
Quốc đến thời điểm này 74
3. Bài học từ việc nghiên cứu Hàn Quốc và Trung Quốc 76
II. Giải pháp phát triển dịch vụ chứng khoán ở Việt Nam thời kỳ hậu
WTO 770
1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về chứng khoán, doanh nghiệp và
thị trƣờng chứng khoán 77
2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động của các tổ chức kinh
doanh dịch vụ chứng khoán 80
2.1. Công ty chứng khoán 80
2.1.1. Hoạt động môi giới chứng khoán 80
2.1.2. Hoạt động tự doanh chứng khoán 80
2.1.3. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán 81
2.1.4. Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán 82
2.1.5. Các hoạt động khác 82
2.2. Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ 82
2.2.1. Một số quy định liên quan tới công ty quản lý quỹ 83
2.2.2. Các quy định về ngân hàng giám sát (người thụ ủy) 84
2.2.3. Các quy định khác 85
3. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức kinh doanh dịch vụ
chứng khoán tại Việt Nam 85
3.1. Cải thiện quy mô vốn 86
3.2. Nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô dịch vụ 86
3.3. Nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô nguồn nhân lực 87
3.4. Nâng cao và đổi mới cơ sở vật chất, công nghệ thông tin 88
3.5. Nâng cao khả năng quản trị, giám sát, kiểm soát nội bộ và hiệu
quả tác nghiệp 89

chứng khoán tại Việt Nam đều rơi vào tay các tổ chức nước ngoài sau khi thời
gian thực hiện cam kết kết thúc.
Từ những vấn đề này, đề tài “Tác động của các cam kết gia nhập
WTO đến dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam” được thực hiện với mục
đích phân tích tình hình và đưa ra hướng giải quyết phù hợp nhất trong thời
điểm hiện tại. Những hướng giải quyết này không những giúp cho hoạt động 2
dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam có hiệu quả hơn mà thực sự sẽ tạo ra
những biến chuyển mới cho thị trường dịch vụ chứng khoán trong thời gian
sắp tới, tạo nền tảng cho các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán trong
nước có chỗ đứng trong môi trường cạnh tranh gay gắt.
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các khái niệm cơ bản liên quan đến dịch vụ chứng khoán và
vấn đề tự do hoá dịch vụ chứng khoán trong khuôn khổ WTO
- Tìm hiểu về thực trạng dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam trước và sau
khi Việt Nam gia nhập WTO, đánh giá các tác động của các cam kết tới dịhc
vụ chứng khoán ở Việt Nam
- Đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam thời kỳ
hậu WTO
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển của dịch vụ chứng khoán
Việt Nam dưới tác động của các cam kết gia nhập WTO về dịch vụ chứng
khoán. Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi dịch vụ chứng khoán tại Việt
Nam chủ yếu trong khoảng từ năm 2005 đến nay.
Ngoài Lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo,
khoá luận bao gồm 3 chương sau:
- Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về dịch vụ chứng khoán và vấn đề tự
do hóa thương mại dịch vụ chứng khoán trong khuôn khổ WTO
- Chương 2: Tác động của các cam kết gia nhập WTO đến dịch vụ chứng

cổ phiếu) và chứng khoán nợ (như trái phiếu, trái khoán, các công cụ phái
sinh). Ngoài ra còn có loại chứng khoán lai giữa hai loại trên (như các công
cụ chuyển đổi, quyền mua cổ phần). Ở các nền kinh tế phát triển, loại chứng
khoán nợ có tỷ trọng giao dịch áp đảo trên các thị trường chứng khoán. Còn ở
những nền kinh tế kém phát triển, nơi mà thị trường chứng khoán mới được 4
thành lập, thì loại chứng khoán cổ phần lại chiếm tỷ trọng giao dịch lớn hơn.
Điều này giải thích tại sao ở Việt Nam cuối thập niên 1990 và đầu thập niên
2000, thị trường chứng khoán được nhiều người hiểu là nơi trao đổi các cổ
phiếu.
1.1.2. Thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán
chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường
sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát
hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán
đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Như vậy, xét về mặt hình thức, thị
trường chứng khoán bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, và chỉ
là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng
khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán [1, tr45].
Thị trường chứng khoán còn được phân chia thành thị trường tập trung
và phi tập trung. Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch
được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất. Hình thái điển hình là Sở
giao dịch chứng khoán. Tại Sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch được tập
trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia
vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch. Thị trường phi tập
trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter). Trên thị trường này, các
giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán và được nối
với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này được hình thành theo

chứng khoán ở các nước đều có những chức năng và hoạt động dịch vụ giống
nhau. Hiện tại phổ biến nhất ở Việt Nam là hình thức công ty chứng khoán và
công ty quản lý quỹ đầu tư. Mô hình ngân hàng đầu tư cũng được chú ý trong
những năm gần đây. 6
Các chủ thể kinh doanh dịch vụ chứng khoán là một trong những chủ thể
quan trọng bậc nhất của thị trường chứng khoán. Do tổ chức kinh doanh dịch
vụ chứng khoán là một loại hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề xây
dựng mô hình cũng nhiều điểm khác nhau ở các nước. Mô hình tổ chức của tổ
chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán ở mỗi nước đều có những đặc điểm
riêng tùy theo đặc điểm của hệ thống tài chính và sự cân nhắc lợi hại của
những người làm công tác quản lý nhà nước. Tuy nhiên, ta có thể khái quát
lên ba mô hình cơ bản là: ngân hàng đa năng toàn phần, ngân hàng đa năng
một phần và công ty chuyên doanh chứng khoán.
Mô hình thứ nhất là mô hình ngân hàng đa năng toàn phần. Trong mô
hình này không có bất kỳ sự tách biệt nào giữa các hoạt động ngân hàng và
chứng khoán. Trong hệ thống ngân hàng đa năng, các ngân hàng thương mại
cung cấp một danh mục đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, chứng khoán và bảo
hiểm, tất cả trong một pháp nhân duy nhất. Do vậy, các rủi ro phát sinh từ hai
hoạt động này được dồn chung lại và chỉ có một cơ quan quản lý đưa ra quy
định chung về khả năng thanh toán cho cả hai loại hình kinh doanh. Đó là
phương thức hoạt động ngân hàng đa năng cổ truyền mà điển hình là ở Cộng
Hòa Liên Bang Đức. Đây cũng là mô hình tổ chức và hoạt động của các ngân
hàng tại hầu hết các nước thuộc Lục địa Châu Âu trước khi có các quy định
về vốn của EU.
Mô hình thứ hai là hệ thống ngân hàng đa năng kiểu Anh hay còn gọi là
mô hình đa năng một phần, được áp dụng tại Anh và một số nước có quan hệ
gần Anh như Canada và Úc. Các ngân hàng đa năng kiểu Anh tham gia vào

quyết định và chịu ảnh hưởng lớn từ trình độ phát triển của thị trường tài
chính.
2.2. Cầu
Những đối tượng có nhu cầu về dịch vụ chứng khoán chính là những nhà
phát hành và nhà đầu tư chứng khoán. Các dịch vụ chứng khoán được cung
cấp đóng vai trò cầu nối giữa nhà phát hành và nhà đầu tư, giúp cho các hoạt 8
động trong thị trường chứng khoán diễn ra thuận tiện và nhanh chóng. Các
nhà phát hành cần các dịch vụ chứng khoán để việc đưa chứng khoán của họ
ra với công chúng dễ dàng hơn. Các nhà đầu tư cần các dịch vụ chứng khoán
vì họ cần có thông tin và những sự trợ giúp trong việc đưa ra các quyết định
đầu tư.
3. Các loại hình dịch vụ chứng khoán chính
Có rất nhiều loại dịch vụ chứng khoán khác nhau. Theo thời gian, do đòi
hỏi của thị trường và nhu cầu phát triển của bản thân các tổ chức kinh doanh,
dịch vụ chứng khoán, xuất hiện ngày càng nhiều các loại hình dịch vụ như
cho vay ký quỹ, tư vấn tài chính cá nhân quản lý thu nhập chứng khoán, v.v.
Một số loại hình dịch vụ chứng khoán phổ biến hiện nay là: môi giới, tự
doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, quản lý
quỹ, v.v.
3.1. Môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong
đó một công ty chứng khoán đứng ra làm trung gian đại diện cho khách hàng
tiến hành các giao dịch chứng khoán thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao
dịch chứng khoán hay thị trường OTC [1, tr260].
Trong hoạt động này, công ty chứng khoán được hưởng một khoản phí
môi giới. Khách hàng sẽ phải tự chịu trách nhiệm về mặt kinh tế của việc giao
dịch đó. Rủi ro duy nhất mà nhà môi giới hay công ty chứng khoán gặp phải

khẳng định về tiềm năng lợi nhuận hoặc phao tin đồn nhằm thu hút khách
hàng vào các mục đích riêng.
3.2. Tự doanh chứng khoán
Tự doanh là hoạt động kinh doanh trong đó các công ty chứng khoán tự
mua bán chứng khoán cho chính mình [1, tr287].
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán có thể được thực hiện trên
các thị trường giao dịch tập trung (trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao
dịch chứng khoán), hoặc trên thị trường OTC, v.v. Trên thị trường giao dịch 10
tập trung, lệnh giao dịch của các công ty chứng khoán được đưa vào hệ thống
và thực hiện tương tự như lệnh giao dịch của các khách hàng. Trên thị trường
OTC, các hoạt động này có thể được thực hiện trực tiếp giữa công ty với các
đối tác hoặc thông qua một hệ thống mạng thông tin. Tại một số nước, hoạt
động tự doanh của các công ty chứng khoán còn được thực hiện thông qua
hoạt động tạo lập thị trường (ví dụ như ở Mỹ). Trong hoạt động này, công ty
chứng khoán đóng vai trò nhà tạo lập thị trường, nắm giữ số lượng nhất định
một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán với các khách hàng nhằm
hưởng phí giao dịch và chênh lệch giá.
Mục đích của hoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán là nhằm
thu lợi cho chính mình, nhưng vẫn được xếp vào các ngàng dịch vụ chứng
khoán. Với hoạt động này, công ty chứng khoán cũng là một nhà đầu tư trên
thị trường chứng khoán như những nhà đầu tư khác. Các rủi ro phát sinh từ
hoạt động tự doanh do chính công ty chứng khoán tự gánh chịu. Việc có lãi
hay chịu lỗ sẽ tùy vào chênh lệch giữa giá mua và giá bán chứng khoán và
biến động chung của giá chứng khoán do họ nắm giữ.
Vốn và con người là hai điều kiện cơ bản để thực hiện các nghiệp vụ
trong kinh doanh chứng khoán. Để thực hiện hoạt động tự doanh, các công ty
chứng khoán phải có đủ một sô vốn nhất định theo quy định của pháp luật.

một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua
số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết [3, tr11].
Bảo lãnh phát hành là một hoạt động dịch vụ rất quan trọng của công ty
chứng khoán do đây là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu nhập
và cơ sở khách hàng lớn nhất cho công ty. Về bản chất, bảo lãnh phát hành là
việc công ty chứng khoán hỗ trợ cho các đơn vị phát hành huy động vốn bằng
cách bán chứng khoán trên thị trường. Sự hỗ trợ đó giúp đơn vị phát hành
nắm chắc khả năng huy động vốn và có kế hoạch sử dụng vốn huy động.
Thông thường, khi thực hiện bảo lãnh phát hành, công ty chứng khoán sẽ áp
dụng một trong ba hình thức bảo lãnh sau: 12
- Bảo lãnh chắc chắn: là hình thức bảo lãnh mà công ty bảo lãnh phát hành
nhận mua toàn bộ số chứng khoán trong đợt phát hành của công ty phát
hành, sau đó sẽ bán ra công chúng, hoặc công ty bảo lãnh phải nhận mua
toàn bộ số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của đợt phát hành.
Giá mua của công ty bảo lãnh là một giá đã được ấn định, thường là thấp
hơn giá thị trường. Giá bán của công ty bảo lãnh là giá thị trường. Đây là
hình thức công ty bảo lãnh hoạt động tự doanh, hoạt động cho chính họ và
sẵn sàng chịu mọi rủi ro.
- Bảo lãnh cố gắng tối đa: là hình thức bảo lãnh mà công ty bảo lãnh phát
hành hứa sẽ cố gắng đến mức tối đa để bán hết số chứng khoán cần phát
hành cho công ty phát hành. Trường hợp không bán hết, số chứng khoán còn
lại được trả về cho công ty phát hành. Người bảo lãnh được hưởng hoa hồng
trên số chứng khoán đã được bán ra.
- Bảo lãnh bảo đảm tất cả hoặc không: đây là trường hợp áp dụng khi công
ty phát hành chứng khoán cần một số vốn nhất định để giải quyết một mục
tiêu nhất định. Nếu huy động được đủ số vốn cần thiết đó thì sẽ thực hiện
phát hành, nếu không huy động đủ thì sẽ hủy bỏ. Cũng có thể, để cho việc

đức nghề nghiệp nhằm tránh gây ra những tổn hại về vật chất cho khách hàng,
không được phép đưa ra những cam kết hoặc dụ dỗ khách hàng về kết quả của
khoản đầu tư khi thực hiện những ý kiến tư vấn. Do đặc điểm riêng của ngành
là giá cả luôn biến động nên việc tư vấn về giá trị chứng khoán là rất khó
khăn, có thể xảy ra nhiều mâu thuẫn về lợi ích. Các nhà tư vấn có thể gây ra
những hiểu lầm đáng tiếc về giá trị và xu hướng giá cả của các loại chứng
khoán – việc này có thể do khả năng của họ hoặc do họ cố tình gây hiểu lầm
để kiếm lợi. Do vậy, hoạt động nghiệp vụ này cần được quản lý chặt chẽ và
đòi hỏi phải có những giới hạn nhất định trong khi thực hiện công việc.
Vì hoạt động tư vấn là hoạt động kinh doanh hiểu biết nên yêu cầu về
vốn tối thiểu là không lớn, chỉ cần đủ để duy trì các hoạt động bình thường 14
như thuê băn phòng, trả lương nhân viên, chi phí hành chính khác… Nhưng
những yêu cầu về nhân sự lại rất chặt chẽ. Nhân viên tư vấn phải có kiến thức
chuyên môn rất sâu trong lĩnh vực của mình và thường phải có giấy phép
hành nghề tư vấn chứng khoán với các yêu cầu cao hơn những người làm môi
giới thông thường.
Tùy theo quy định của từng nước, các công ty quản lý quỹ cũng có thể
được phép tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách
hàng.
3.5. Quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là hoạt động tổ chức kinh doanh,
dịch vụ chứng khoán quản lý vốn giúp cho khách hàng thông qua việc mua,
bán và nắm giữ các loại chứng khoán vì quyền lợi của khách hàng. Thông
thường, khách hàng ủy thác đầu tư ở đây là những tổ chức hoặc cá nhân có
tiềm lực tài chính lớn, có thể chấp nhận được rủi ro, và có nhu cầu tìm người
quản lý đầu tư, sinh lợi cho mình [3, tr14].
Hoạt động quản lý danh mục đầu tư thường do các ngân hàng hoặc công

- Huy động và quản lý vốn và tài sản
- Tập trung đầu tư theo danh mục đầu tư
- Quản lý đầu tư chuyên nghiệp
Các quỹ đầu tư được quản lý bởi các chuyên gia có kỹ năng và giàu kinh
nghiệm người mà được lựa chọn định kỳ căn cứ vào tổng lợi nhuận họ làm ra.
Những chuyên gia không tạo ra lợi nhuận sẽ bị thay thế. Một trong những
nhân tố quan trọng trong việc chọn lựa quỹ đầu tư tốt là quỹ đó phải được
quản lý tốt nhất.
3.7. Lưu ký, bù trừ, thanh toán và đăng ký chứng khoán
Lưu ký chứng khoán là hoạt động lưu giữ, bảo quản chứng khoán của
khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng
khoán được lưu ký [1, tr411]. Lưu ký chứng khoán là một trong những điều
kiện cần thiết để thực hiện giao dịch trên thị trường chứng khoán. Nói đơn 16
giản, lưu ký là việc gửi chứng chỉ chứng khoán như tờ cổ phiếu, trái phiếu,
hoặc các loại giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu chứng khoán vào hệ
thống lưu ký.
Bù trừ là việc xử lý thông tin về các giao dịch chứng khoán nhằm đưa ra
con số ròng cuối cùng mà các đối tác tham gia phải thanh toán sau khi giao
dịch. Kết quả bù trừ sẽ chỉ ra bên nào phải trả tiền, bên nào phải giao chứng
khoán [1, tr411].
Thanh toán là hoạt động hoàn tất các giao dịch chứng khoán, trong đó
các bên sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình: bên phải trả chứng khoán thực hiện
việc giao chứng khoán, bên phải trả tiền thực hiện việc chuyển tiền [1, tr412].
Đăng ký chứng khoán là việc đăng ký các thông tin về chứng khoán,
quyền sở hữu chứng khoán của người nắm giữ chứng khoán [1, tr412].
II. Tự do hoá thƣơng mại dịch vụ chứng khoán trong khuôn khổ WTO
1. Vài nét về WTO và hiệp định GATS

- Tự do mậu dịch hơn nữa: dần dần thông qua đàm phán
- Tính Dự đoán thông qua Liên kết và Minh bạch: Các quy định và quy
chế thương mại phải được công bố công khai và thực hiện một cách ổn định.
- Ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển: Giành những thuận lợi và ưu
đãi hơn cho các thành viên là các quốc gia đang pháp triển trong khuôn khổ
các chỉ định của WTO.
- Thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho thương mại giữa các
nước thành viên
Trọng tâm của WTO chính là các hiệp định đã và đang được các nước
đàm phán và kí kết. Hoạt động của WTO được điều tiết bởi 16 Hiệp định
chính, trong đó khoá luận sẽ quan tâm nhiều hơn đến Hiệp định chung về
thương mại dịch vụ GATS vì có liên quan đến lĩnh vực dịch vụ chứng khoán.
1.2. Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ GATS
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (General Agreement on Trade
in Services, viết tắt là GATS) là một hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế 18
giới (WTO). Hiệp định được ký kết sau khi kết thúc Vòng đàm phán Uruguay
và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995. Hiệp định được thiết
lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa phương
sang lĩnh vực dịch vụ chứ không chỉ điều chỉnh một mình lĩnh vực thương
mại hàng hóa như trước đó
[vi.wikipedia.org/wiki/Hiệp_định_chung_về_Thương_mại_Dịch_vụ]. Hiệp
định được soạn thảo trong bối cảnh ngành dịch vụ đạt mức tăng trưởng nhanh
chóng và đang có tiềm năng phát triển nhờ cuộc cách mạng công nghệ thông
tin. Tất cả các thành viên của WTO đều tham gia GATS.
Điểm đặc biệt là GATS chia ra bốn phương thức cung cấp dịch vụ mang
tính thương mại quốc tế:
- Cung cấp qua biên giới (Phương thức 1): việc cung cấp dịch vụ được

của dịch vụ tài chính và dịch vụ tài chính đã đạt được mức độ cam kết nhất
định của các nước thành viên khi vòng đàm phán Urugoay kết thúc. Theo phụ
lục về dịch vụ tài chính thì các chính phủ có toàn quyền áp dụng các biện
pháp phòng ngừa, chẳng hạn để bảo vệ các nhà đầu tư, người gửi tiền và
người mua bảo hiểm, để đảm bảo tính thống nhất và ổn định của hệ thống tài
chính. Phụ lục cũng quy định rõ hiệp định không áp dụng đối với các dịch vụ
được cung cấp nhằm thực thi quyền lực của chính phủ đối với hệ thống tài
chính, ví dụ như các dịch vụ do các ngân hàng trung ương cung cấp.
2. Tự do hóa thƣơng mại dịch vụ chứng khoán trong khuôn khổ WTO
Sự có mặt của các nhà kinh doanh dịch vụ chứng khoán nước ngoài góp
phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán bất kể thông qua
phương thức hiện diện thương mại hay cung cấp hàng hóa qua biên giới.
Thực tế đã chứng minh việc này làm gia tăng cạnh tranh. Họ đưa thêm vốn,
các sản phẩm tài chính và công nghệ tiên tiến cùng kiến thức chuyên môn vào
thị trường. Từng nhân tố này có thể làm giảm đáng kể chi phí của dịch vụ tài
chính và từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty cung cấp trong
nước. 20
Những quy định pháp lý về dịch vụ tài chính thường bao gồm các quy
chuẩn mà các nhà cung cấp phải đáp ứng thì mới được phép hoạt động trên thị
trường (các quy định cấp phép). Chẳng hạn như các tiêu chuẩn về kiến thức,
nguồn lực, kỹ năng và các thủ tục quản lý đối với các công ty kinh doanh dịch
vụ. Các quy định này còn đưa ra các hướng dẫn về cách quản lý như là việc
cung cấp thông tin khách hàng, thông tin nhà cung cấp, thực hiện các đơn
hàng và việc bảo vệ tài sản của khách hàng cũng như các quy định về gian lận,
giao dịch nội bộ hay thâu tóm thị trường (các quy định quản lý doanh nghiệp
và thị trường).
Một hệ thống pháp lý hiệu quả (có liên quan đến các cam kết của GATS)

Securities Industry and Financial Markets Association (viết tắt là SIFMA) đưa
ra cho các thành viên WTO vào năm 2005 nhằm tối đa hóa lợi ích từ việc tự
do hóa thị trường dịch vụ chứng khoán.
2.1. Cung cấp qua biên giới
Các thành viên nên cho chép các tổ chức kinh doanh và khách hàng của
dịch vụ chứng khoán giao dịch qua biên giới, và những nhà cung cấp này
cùng với những dịch vụ của họ phải được hưởng nguyên tắc đãi ngộ quốc gia.
Theo báo cáo của IOSCO, nhiều thành viên WTO đang tạo điều kiện
cho việc cung cấp dịch vụ thông qua một số ngoại lệ trong các quy định cấp
phép, như:
- xem xét nhà đầu tư có “lão luyện” hay không (được định nghĩa theo luật
quốc gia), bằng cách đó thừa nhận rằng luật chứng khoán không cần bảo vệ
các “nhà đầu tư lão luyện” trong một số trường hợp nhất định;
- xem xét các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài có được điều hành tốt
trong phạm vi luật pháp quốc gia đó hay không (nghĩa là đơn phương hay
cùng thừa nhận luật pháp quốc gia khác);


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status