Khóa luận tốt nghiệp
Tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới năm
2008 đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
1
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Kinh tế và
kinh doanh quốc tế - Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội đã tận tình dạy bảo,
truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian em học
tập tại trường.
Trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện khóa luận, em xin chân thành
cảm ơn thầy giáo TS. Nguyễn Quang Minh (Giảng viên Khoa Kinh tế quốc tế -
Đại học Ngoại thương Hà Nội) đã tận tình giúp đỡ, chỉ dẫn, động viên em trong
việc hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Em cũng xin cảm ơn thư viện trường Đại
học Ngoại thương và các nhân viên, các thầy cô đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
về tài liệu để giúp em hoàn thành khóa luận.
Sau cùng, em xin chúc toàn thể các thầy cô trong trường Đại học ngoại
thương, các thầy cô ở khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế, thầy giáo TS. Nguyễn
Quang Minh một lời chúc sức khỏe, luôn thành công trong công việc và cuộc
sống.
Do kiến thức còn hạn chế nên chắc chắn khóa luận còn nhiều sai sót. Em rất
mong nhận được sự góp ý từ thầy cô và các bạn đọc. 2
2.1.2 Cơ cấu hàng xuất khẩu 27
2.1.3 Thị trường xuất khẩu 30
2.1.4 Nhận xét chung 30
2.2 Phân tích tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đến
xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. 31
2.2.1 Tác động đến tăng trưởng tổng kim ngạch xuất khẩu 31
2.2.2 Tác động đến cơ cấu hàng xuất khẩu 34
2.2.3 Tác động đến xuất khẩu sang một số thị trường chính 38
2.3 Những nguyên nhân tác động tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam
trong thời gian khủng hoảng 48
2.3.1 Nguyên nhân khách quan 48
2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 52
2.4 Những nguyên nhân giúp xuất khẩu của Việt Nam không bị suy giảm
nhiều và phục hồi nhanh sau khủng hoảng năm 2008 53
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA
CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM SẮP TỚI 56
3.1 Những thuận lợi và khó khăn đối với hoạt động xuất khẩu của Việt
Nam 56
3.1.1 Thuận lợi 56
3.1.2 Khó khăn 57
3.2 Dự báo cho xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2015 59
3.2.1 Dự báo chung về xu hướng thị trường xuất khẩu trên thế giới 59
4
3.2.2 Dự báo về kim ngạch và xu hướng xuất khẩu của Việt Nam giai
đoạn 2011 – 2015 60
3.3 Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam 64
3.3.1 Giải pháp vĩ mô 64
3.3.2 Giải pháp vi mô 74
KẾT LUẬN 77
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Ngân hàng Trung ương Anh
Phương thức vận tải CIF( giá thành, bảo hiểm và cước)
Cộng hòa liên bang
Công nghiệp
Ngân hàng Trung ương châu Âu
Liên minh châu Âu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cục dự trữ Liên Bang Mỹ
Phương thức vận tải giao hàng lên tàu
Khu vực mậu dịch tự do
Tổng sản phẩm quốc nội
Nhóm các nền kinh tế lớn
Quỹ tiền tệ quốc tế
Tổ chức lao động thế giới
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Đô la Mỹ
Chương trình chứng nhận cà phê toàn cầu
Đồng Việt Nam
Tổ chức thương mại thế giới
Xúc tiến thương mại
Hiệp hội cộng đồng cà phê lợi ích chung
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Other Authorities
thị trường thế giới to lớn, thu hút được vốn, nắm bắt được công nghệ kĩ thuật và
quản lý tiên tiến, từng bước tạo một đội ngũ công nhân có trình độ phù hợp với
nhu cầu phát triển công nghiệp hiện đại. Trong những năm gần đây, mức độ hội
nhập của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu sắc. Đặc
biệt, năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới
WTO, cùng với việc hội nhập đa phương, Việt Nam đã đàm phán và kí kết các
hiệp định thương mại tự do song phương với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ
trong khu vực và trên thế giới.
Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, xuất khẩu hàng hóa của
Việt Nam đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Theo
số liệu thống kê, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu trên GDP đã tăng liên tục từ mức
khoảng 30% vào đầu những năm 1990 lên đến 70% vào năm 2010.
Hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới cũng đồng nghĩa với việc nền
kinh tế Việt Nam sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào nền kinh tế thế giới. Khủng hoảng
kinh tế thế giới năm 2008 mà xuất phát điểm là khủng hoảng tài chính Mỹ đã có
những tác động không nhỏ đến nền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là đối với khu
vực xuất khẩu. Bên cạnh những thành tựu ấn tượng đã đạt được, thì xuất khẩu
hàng hóa của Việt Nam sau khủng hoảng cũng bộc lộ những yếu điểm có tính
chất chiến lược buộc chúng ta phải có những quyết sách đúng đắn để đặt nền
móng cho xuất khẩu bền vững giai đoạn 2011- 2015. Nhận thức được tác động
của khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đến xuất khẩu hàng hóa của Việt
Nam và những thách thức của xuất khẩu trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều
diễn biến phức tạp, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Tác động của khủng hoảng
2
kinh tế thế giới năm 2008 đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam” làm khóa luận
tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu nhằm đưa ra những cái nhìn tổng quát, những phân
tích, nhận định đánh giá về những tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ
NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
1.1 Quan niệm, phân loại và tác động của khủng hoảng kinh tế
1.1.1 Quan niệm về khủng hoảng kinh tế
Những nghiên cứu về khủng hoảng kinh tế còn có những khác biệt nhất định,
hoặc về quan niệm hoặc về cách tiếp cận, nhưng các kết quả nghiên cứu đều trực
tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận khủng hoảng kinh tế là một thực tế khách quan
trong quá trình phát triển kinh tế. Về cơ bản, có thể khái quát những nhận thức
hiện nay về khủng hoảng kinh tế ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, xem xét khủng hoảng kinh tế như một hiện tượng kinh tế khách
quan của mọi quá trình phát triển, nó được hình thành, tồn tại cùng với sự vận
hành của các quá trình kinh tế và bùng nổ khi nền kinh tế hoặc một khu vực kinh
tế trọng yếu rơi vào trạng thái yếu nhất. Do vậy, khủng hoảng kinh tế là một
hiện tượng kinh tế có hình thái biểu hiện đa dạng và không nhất thiết gắn với
một không gian địa lý nhất định. Các cuộc khủng hoảng hoảng kinh tế cũng sẽ
diễn ra với mức độ khác nhau ở từng quốc gia và từng thời điểm nhưng đều có
thể quy về là sự biểu hiện của những dạng thức cơ bản của khủng hoảng kinh tế
như khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng chu kỳ hay hỗn hợp nhiều dạng thức
khủng hoảng.
Thứ hai, khủng hoảng kinh tế theo quan điểm hiện nay được xem xét đó là
sự thay đổi các trạng thái của cùng một sự vật dẫn đến sự biến thái của nó. Hay
nói cách khác đó là hệ quả tất yếu của những biến đổi trong các điều kiện phát
triển kinh tế. Chẳng hạn toàn cầu hóa kinh tế đang được coi là điều kiện tiên
quyết cho phát triển đồng thời cũng tạo ra những thách thức mới đòi hỏi sự ứng
nhân tố “kinh tế ảo” được coi là căn nguyên trực tiếp làm khủng hoảng kinh tế
nổ ra. Khi khủng hoảng kinh tế bùng phát thì suy giảm kinh tế nhanh chóng lan
rộng trên phạm vi toàn cầu và hệ lụy của nó là không thể dự liệu trước.
6
1.1.2 Phân loại khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng kinh tế là một vấn đề phức tạp cả về lý luận lẫn thực tiễn. Tính
chất phức tạp của khủng hoảng còn thể hiện cả ở việc phân loại chúng, bởi sự
đan xen và hình thái biểu hiện là vô cùng phong phú đa dạng. Tuy nhiên có thể
khái quát được năm loại hình khủng hoảng kinh tế phổ biến đó là: khủng hoảng
sản xuất thừa, khủng hoảng chu kỳ, khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng tài chính,
khủng hoảng tiền tệ tín dụng.
1.1.2.1 Khủng hoảng sản xuất thừa
Đây là loại hình khủng hoảng kinh tế đầu tiên trong lịch sử phát triển kinh tế
của nhân loại. Cuộc khủng hoảng sản xuất thừa đầu tiên được nổ ra tại nước
Anh vào năm 1825. Về cơ bản, khủng hoảng sản xuất thừa thường được gắn với
giai đoạn của chu kỳ sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa, được biểu hiện
bằng hàng hóa sản xuất thừa so với nhu cầu có khả năng thanh toán, sản xuất
giảm sút, vốn đầu tư cơ bản bị rút bớt, thất nghiệp và lạm phát tăng lên, những
tỷ lệ chủ yếu của tái sản xuất bị rối loạn. Nguyên nhân chủ yếu là do những mâu
thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản, từ đó nảy sinh ra một loạt những mâu thuẫn
phái sinh: mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu
dùng, mâu thuẫn giữa tính có tổ chức trong các xí nghiệp riêng biệt và tình trạng
sản xuất vô chính phủ trong toàn xã hội. Những mâu thuẫn đó đưa nền kinh tế tư
bản chủ nghĩa đến khủng hoảng kinh tế. Khủng hoảng kinh tế là giai đoạn cơ
bản của chu kỳ kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Cho đến nay, qua thực tiễn phát triển kinh tế với những thăng trầm mà mỗi
nền kinh tế phải trải qua, có thể nói rằng mọi nền kinh tế đều có thể bị lâm vào
sản xuất thừa khi không giữ được các tỷ lệ chủ yếu của tái sản xuất, mất cân đối
giữa nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng,
dùng, giữa cung và cầu và sự hỗn loạn dài hạn trong cơ chế hoạt động của
những quan hệ kinh tế giữa người cung cấp sản phẩm và người tiêu dùng. Biểu
hiện của những mất cân đối này là những thay đổi rõ rệt trong giá cả tương đối
8
của các nền kinh tế trên thế giới. Từ những khái quát trên cho thấy, khủng hoảng
cơ cấu là hiện tượng gắn liền với các vấn đề lớn của nhân loại như vấn đề nợ,
năng lượng, nguyên liệu, lương thực, môi trường…
1.1.2.4 Khủng hoảng tiền tệ - tín dụng
Khủng hoảng tiền tệ - tín dụng là sự chấn động rối loạn của hệ thống lưu
thông tiền tệ và tín dụng, nảy sinh do khủng hoảng chu kỳ của sản xuất hoặc do
các sự kiện đặc biệt bất thường về kinh tế và chính trị. Trên thị trường tiền tệ,
khủng hoảng tiền tệ - tín dụng biểu hiện dưới dạng thiếu tiền cho vay và lãi suất
tăng cao. Trong thời kỳ khủng hoảng tiền tệ, trong lĩnh vực tín dụng và thương
mại xảy ra việc thủ tiêu có tính chất cưỡng bức một số dư nợ lẫn nhau của các
nhà kinh doanh về kỳ phiếu và giảm khối lượng tín dụng thương mại. Trong lĩnh
vưc tín dụng quốc tế, khủng hoảng tiền tệ - tín dụng biểu hiện: sự đứt quãng tức
thời các mối quan hệ tín dụng quốc tế và sự phá sản của những người vay tiền
nước ngoài, sự ách tắc của người xuất khẩu do ngân hàng không cho họ vay
thêm những khoản tín dụng mới, sự thiếu hụt lớn của các bảng cân đối thanh
toán và giảm sút lớn xuất khẩu tư bản. Ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ tín
dụng cũng biểu hiện trên cả thị trường chứng khoán và trong lĩnh vực lưu thông
tiền tệ. Đặc trưng của nó là nạn “ đói tiền” hay sự rối loạn toàn bộ quá trình lưu
thông tiền tệ và sự mất giá đồng tiền.
Khủng hoảng tiền tệ - tín dụng là một hiện tượng có tính khu vực và toàn cầu
nên việc khắc phục nó đòi hỏi một sự cải thiện nền kinh tế và hệ thống quản lý
kinh tế vĩ mô nền tài chính tiền tệ, duy trì sự ổn định chính trị và hợp tác giữa
các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
1.1.2.5 Khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính là trạng thái chấn động của hệ thống tài chính, từ hệ
chính tiền tệ được coi là lĩnh vực nhạy cảm nhất trong khủng hoảng và cũng là
lĩnh vực trực tiếp chứa đựng nhiều các chấn động nhất, nên sự trồi sụt bấp bênh
của lĩnh vực này cũng là rõ nét hơn bất kì lĩnh vực nào khác của khủng hoảng,
không chỉ phạm vi quốc gia, khu vực mà là cả thế giới.
10
Thứ hai, thông thường khi khủng hoảng kinh tế nổ ra cũng là thời điểm đánh
dấu sự kết thúc của một giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh, kéo dài bởi nhiều
thuận lợi có trước nhưng cũng đã tích tụ đủ những vấn đề nội tại, để bước sang
một giai đoạn phát triển mới, đặc trưng bởi nhịp độ tăng trưởng ôn hòa hơn, thận
trọng hơn với những điều chỉnh cần thiết. Trong và sau khủng hoảng, nhịp độ
tăng trưởng kinh tế của quốc gia cũng như của thế giới sẽ giảm. Mức độ giảm
tùy thuộc vào mức độ của cuộc khủng hoảng và tùy thuộc vào điều kiện thực tế
của mỗi quốc gia, khu vực và bối cảnh chung của thế giới. Suy thoái tại các nền
kinh tế lớn đồng thời là thị trường xuất khẩu chủ chốt của các nền kinh tế đang
nổi lên kéo theo tốc độ tăng trưởng sụt giảm trên phạm vi toàn cầu.
Thứ ba, khủng hoảng kinh tế thế giới không chỉ gây thiệt hại nghiêm trọng
cho hầu hết các quốc gia, mà trước hết là các quốc gia thuộc trung tâm của
khủng hoảng không chỉ về vật chất mà quan trọng hơn đó là những thiệt hại về
tinh thần, về lòng tin của dân chúng về sự ổn định, phát triển chung của nhân
loại. Biểu hiện trước hết ở những thiệt hại ở dạng này là niềm tin của các chủ thể
kinh tế bị giảm sút, dẫn đến sự giảm sút các kế hoạch đầu tư và gia tăng sự thận
trọng trong các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, từ đó giảm sút năng lực
sản xuất kinh doanh của xã hội, kéo theo là giảm việc làm, gia tăng thất nghiệp
và bất ổn xã hội. Tình trạng này sẽ kéo dài nếu như khủng hoảng không sớm
được khắc phục và sự phục hồi của nền kinh tế sẽ triển trở nên chậm chạp và hệ
quả xã hội theo đó sẽ sâu sắc hơn. Cụ thể, tỉ lệ thất nghiệp, lạm phát tăng cao
làm giảm mức sống thực tế của người làm công ăn lương, những căng thẳng và
bất ổn định xã hội cũng vì thế mà tăng lên. Có thể có những xáo trộn chính trị
nhất định ở một số quốc gia, nhất là những quốc gia phát triển phụ thuộc nhiều
lại cơ cấu nền kinh tế cho cân bằng, hợp lý và hiệu quả hơn, tạo ra sức ép buộc
các chủ thể kinh tế phải thay đổi thích ứng với tình hình mới. Toàn bộ nền kinh
tế (cả quốc gia, khu vực và quốc tế), sau khi vượt qua giai đoạn khó khăn nhất
của khủng hoảng sẽ có định hướng phát triển rõ ràng hơn, đầy đủ, sâu sắc và
hoàn thiện hơn. Do đó, tính hiệu quả của nền kinh tế sẽ cao hơn.
12
Thứ hai, trên phương diện nhận thức, người ta sẽ dành sự quan tâm nhiều
hơn đến việc nghiên cứu lý thuyết và lựa chọn chủ thuyết phát triển. Bởi thực
tiễn phát triển kinh tế suy đến cùng đều là nhằm hện thực hóa các lý thuyết kinh
tế hay nói cách khác các lý thuyết kinh tế suy tới cùng đều nhằm tới việc hình
thành một mô hình phát triển hiệu quả hơn. Sức sống của các lý thuyết kinh tế
được biểu hiện thông qua thực tế các mô hình kinh tế mà nó hậu thuẫn. Vì vậy,
khủng hoảng kinh tế xảy ra đồng thời với nó là sự cáo chung của một lý thuyết
kinh tế nào đó. Nên khi đối diện với khủng hoảng kinh tế, người ta sẽ phải có
những nhìn nhận khách quan hơn, toàn diện hơn về lý thuyết kinh tế đang được
vận dụng hay chủ thuyết kinh tế đang chi phối định hướng phát triển. Vậy nên,
khủng hoảng cũng là thời cơ để người ta có thể sàng lọc, chọn lựa đúng đắn hơn,
phù hợp hơn định hướng phát triển.
Thứ ba, khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, ít nhiều góp phần và là dịp để các
nhà nước quốc gia và chính người dân nước đó cũng như các tổ chức quốc tế, bổ
khuyết những thiếu sót cả về chính sách, thể chế lẫn những yếu tố thuộc con
người. Từ đó tạo ra những xung lực tích cực mới cho sự phát triển kinh tế xã hội
bền vững ở cả cấp quốc gia, khu vực và quốc tế với tư cách là một chỉnh thể hữu
cơ. Quá trình tự do hóa và toàn cầu hóa sẽ được đẩy lên một nấc mới, một phần
nhờ các chương trình điều chỉnh kinh tế rộng rãi theo hướng này sau khi đã sử
dụng các biện pháp khắc phục khủng hoảng, một phần nhờ sự chuẩn bị chu đáo
hơn, thận trọng hơn và thích hợp hơn của mỗi nước, phần nữa nhờ sự xuất hiện
những cơ chế thúc đẩy và giám sát mới mang tính khu vực, quốc tế và cả sự hợp
tác quốc tế rộng rãi trong nỗ lực vượt qua khủng hoảng.
- Ngân hàng trung ương các nước phát triển (Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Nhật )
và nhiều nước đang phát triển đã thực hiện các biện pháp để tăng khả năng thanh
khoản và mở rộng tín dụng, hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng và công ty tài
1
TS. Nguyễn Văn Giàu, Chính sách tiền tệ đối với ổn định và phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, Tạp chí Ngân hàng số 17/2009
14
chính: (1) Thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng bằng biện pháp giảm mạnh lãi
suất chủ đạo, bơm tiền ra lưu thông; (2) Trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc
và vượt dự trữ bắt buộc; (3) Bảo lãnh cho các ngân hàng vay trên thị trường liên
ngân hàng; (4) Phối hợp thực hiện hoán đổi tiền tệ để cung ứng USD cho thị
trường ngoài nước Mỹ (FED đã hoán đổi ngoại tệ với 13 ngân hàng trung ương
); (5) Cho phép một số ngân hàng đầu tư được huy động vốn như ngân hàng
thương mại; (6) Cho các ngân hàng gặp khó khăn về tài chính vay dài hạn để
mua cổ phiếu của chính các ngân hàng đó; (7) Phối hợp với Bộ Tài chính cơ cấu
lại vốn cho các ngân hàng.
- Chính phủ các nước thực hiện nhiều biện pháp nhằm ổn định thị trường
tài chính và kích thích kinh tế: (1) Mua lại cổ phiếu, nợ xấu của các ngân hàng
mất khả năng thanh toán; (2) Đưa ra tuyên bố đảm bảo thanh toán các khoản tiền
gửi tại hệ thống ngân hàng, tăng số tiền được bảo hiểm tiền gửi; (3) Rà soát lại
khả năng tài chính của các ngân hàng để lập kế hoạch hỗ trợ tài chính cơ cấu lại;
(4) Triển khai gói giải pháp kích thích kinh tế với tổng trị giá của các nước
khoảng 12.500 tỷ USD, tương đương 20,6% GDP thế giới năm 2008.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, thị trường tài chính các nước phụ thuộc lẫn
nhau, quy mô vốn luân chuyển gấp nhiều lần so với giai đoạn Đại suy thoái kinh
tế thế giới 1929 - 1933, khủng hoảng tài chính đã làm giảm sút nghiêm trọng
lòng tin của các nhà đầu tư, đẩy kinh tế thế giới sớm rơi vào suy thoái: (1) Đến
quy tắc cho vay và khuyến khích những kênh tài trợ khác phi ngân hàng. Đạo
luật này đã góp phần cho ra đời của nhiều công ty cho vay thế chấp và không bị
ràng buộc bởi các luật lệ của ngân hàng. Ngay cả những ngân hàng cũng thành
lập hoặc liên kết với các công ty cho vay thế chấp làm bùng nổ các kênh cung
cấp vốn thị trường bất động sản.
Đồng thời, để hỗ trợ cho vay tạo lập nhà ở, chính phủ Mỹ còn cho lập hiệp
hội quốc gia tài trợ bất động sản (Federal National Mortgage Assocation gọi tắt
là Fannie Mae) và tập đoàn cho vay thế chấp quốc gia (Federal Home Loan
2
Tạp chí Ngân hàng số 17/2009
16
Mortgage Corporation - gọi tắt là Freddie Mac). Hoạt động chính của Fannie
Mae và Freddie Mac là mua lại những món nợ vay thế chấp bằng bất động sản,
đặc biệt là các khoản vay thế chấp “dưới chuẩn” của các ngân hàng rồi dùng bất
động sản thế chấp để phát hành “trái phiếu tái thế chấp” (Mortgage - bached
Securities-MBS) bán cho các nhà đầu tư khác nhằm tăng tính thanh khoản cho
ngân hàng. Như vậy những món nợ nhà ở đã được “trái phiếu hóa” thành sản
phẩm tài chính thông dụng có thể mua bán dễ dàng trên thị trường tiền tệ. Nói
đơn giản hơn MBS là một loại chứng khoán mà Fannie Mae, hoặc là một công
ty tài chính khác như Lehman Brothers, bỏ tiền ra mua lại các khoản cho vay thế
chấp từ các ngân hàng thương mại, tập trung chúng thành từng lọai khác nhau,
rồi phát hành MBS để bán lại cho các nhà đầu tư.
Và cũng vì có sự khác nhau về rủi ro của các loại MBS cho nên các công ty
bảo hiểm và thẩm định rủi ro, chẳng hạn như AIG, cũng nhảy vào để bán bảo
hiểm cho các nhà đầu tư MBS. Các bảo hiểm này được gọi là creditdefault swap
(CDS), với mục đích bảo đảm cho các nhà đầu tư MBS là trong trường hợp
những người vay tiền mua nhà không trả được nợ và làm cho MBS mất giá thì
sẽ được bồi thường. Trong thời kì hoàng kim, việc kinh doanh bảo hiểm CDS đã
thông qua “ chứng khoán hóa”, thông quan phát hành “trái phiếu tái thế chấp”
bất động sản thế chấp. Dưới hình thức này người cho vay và người vay không
biết nhau, ngân hàng chỉ còn là đơn vị trung gian cho vay sau đó chuyển nhượng
khoản vay cho công ty cho vay thế chấp để công ty phát hành “trái phiếu tái thế
chấp” chuyển nhượng trên thị trường là xong. Đây là khuyết tật nghiêm trọng
của việc chứng khoán hóa bất động sản thế chấp nhưng thiếu kiểm soát.
* Thứ ba là giá bất động sản tại Mỹ tăng liên tục đã lôi kéo các nhà đầu tư
và cả người dân đổ xô vào kinh doanh bất động sản làm cung vượt quá cầu.
Việc cho vay dễ dãi tạo điều kiện cho đông đảo các nhà đầu tư tham gia đầu
cơ bất động sản, tạo cầu ảo đẩy “bong bóng” bất động sản lên cao. Thị trường
bất động sản Mỹ tăng liên tục trong vòng nhiều năm. Theo thống kê của Cơ
quan Tài chính nhà ở Liên bang (OFHEO) thì nếu Chỉ số giá nhà ở (HPI) trung
bình của toàn Liên bang năm 1980 là 100 điểm, thì tới năm 1998 chỉ số giá nhà
18
ở là 206 điểm và tới Quí 4/2007 là 387 điểm, cá biệt có những Bang như New
England là 613 điểm. Cũng theo thống kê của cơ quan này thì giá nhà ở Quí
1/2005 tăng 12,5% so với Quí 1/2004, trong khi đó giá các loại hàng hoá và dịch
vụ khác chỉ tăng 3,1% cùng thời kỳ.
Chính giá nhà ở tăng liên tục đã thúc đẩy người dân đổ xô vào mua bán bất
động sản, làm cho cung cầu mất cân đối, cung vượt xa cầu. Theo thống kê của
Cơ quan Thống kê Hoa kỳ thì từ năm 1997 đến năm 2007, bình quân mỗi năm ở
Mỹ xây dựng thêm 1.233.000 ngôi nhà ở. Nếu bình quân mỗi ngôi nhà có diện
tích khoảng 150 m
2
sàn thì hàng năm nước Mỹ xây dựng được gần 200 triệu m
2
nhà ở. Riêng năm 2007 có tới 17.958.000 ngôi nhà bỏ không, trong đó có đến
13.276.000 ngôi nhà bỏ không suốt năm.
Đầu năm 2009, Mỹ lần đầu tiên đã áp dụng biện pháp tín dụng thuế mua nhà