sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đến đầu tư quốc tế vào việt nam - Pdf 10

Trường
Khoa
*************** Bài tập nhóm: Tài Chính Quốc Tế Đề tài: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ
GIỚI NĂM 2008 ĐẾN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VÀO VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:
******
Huế, 3.4.2013

Mục lục

I. Giới thiệu về đầu tư quốc tế: 3
II. Những vấn đề cơ bản về đầu tư quốc tế: 3
1. Khái niệm: 3
2. Đặc điểm: 4
3. Nguyên nhân hình thành và phát triển: 4
4. Các hình thức đầu tư quốc tế: 5
5. Các hình thức vốn đầu tư: 8
6. Những xu hướng chủ yếu trong đầu tư quốc tế: 8

tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, cần phải có một khối lượng vốn rất lớn và nền tảng
công nghệ hiện đại. Điều này càng được khẳng định chắc chắn khi nghiên cứu vai trò của
đầu tư quốc tế với tăng trưởng và phát triển của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, khởi đầu ở Mĩ đã nhanh
chóng lan rộng như một dịch bệnh, đe dọa nhiều nền kinh tế trên thế giới trong nhiều lĩnh
vực và đầu tư quốc tế là một trong số các lĩnh vức đó. Vậy đầu tư quốc tế vào Việt Nam
đã có những thay đổi và chuyển biến gì, thay đổi đó là tốt hay xấu? Đây chính là vấn đề
mà nhóm chúng tôi quan tâm và nghiên cứu trong bài tiểu luận này.

II. Những vấn đề cơ bản về đầu tư quốc tế:
1. Khái niệm:
Đầu tư quốc tế là một quá trình di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác
để thực hiện các dự án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho các bên tham gia. Về bản chất
kinh tế, đầu tư quốc tế chính là hoạt động xuất nhập vốn.
Đầu tư quốc tế là một tất yếu khách quan bởi sự khác nhau về nhu cầu và khả năng
tích lũy vốn của các quốc gia, để tìm nơi kinh doanh có lợi cho các doanh nghiệp cũng
như đảm bảolợi ích giữa các bên, để tránh hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng như
các nguyên nhân chính trị, kinh tế - xã hội khác.
2. Đặc điểm:
Đầu tư quốc tế mang đặc điểm của đầu tư nói chung, đó là tính sinh lãi và tính rủi
ro cao. Ngoài ra nó có thêm một số đặc điểm riêng quan trọng khác để phân biệt với đầu
tư nội địa như:
Chủ sở hữu đầu tư là người nước ngoài: tăng tính rủi ro và chi phí đầu tư cho chủ
đầu tư.
Các yếu tố đầu tư di chuyển ra khỏi biên giới: liên quan đến khía cạnh chính sách,
pháp luật, hải quan, cước phí vận chuyển.
Vốn đầu tư được tính bằng ngoại tệ, liên quan đến vấn đề tỉ giá hối đoái, chính
sách tài chính tiền tệ của các nước tham gia đầu tư.
Đầu tư quốc tế đưa đến những tác động tích cực khác nhau đối với bên đi đầu tư
và bên nhận đầu tư, đồng thời đưa lại cả tác động tiêu cực. Điều đó phụ thuộc nhiều vào

hoạt động sử dụng vốn. Các hình thức đầu tư trực tiếp:
+ Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn
của nhà đầu tư nước ngoài.
+ Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu
tư nước ngoài.
+ Đầu tư bằng hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT.
+ Đầu tư phát triển kinh doanh.
+ Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
+ Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
+ Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
 Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI): là hình thức đầu tư thông qua việc mua
cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông
qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản
lý hoạt động đầu tư. Các hình thức đầu tư gián tiếp:
+ Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác;
+ Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán;
+ Thông qua các định chế tài chính trung gian khác.
 Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): là hoạt động hợp tác phát triển, khoản
vốn được các chính phủ, tổ chức liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ cho vay với lãi
suất thấp hoặc không lãi suất trong thời gian dài với mục tiêu phát triển kinh tế và nâng
cao phúc lợi ở nước nhận đầu tư như xóa đói giảm nghèo, nông nghiệp và phát triển nông
thôn, CSHT kinh tế kĩ thuật, CSHT xã hội Được phân loại như sau:
- Theo tính chất tài trợ có:
+ ODA không hoàn lại.
+ ODA vay ưu đãi: lãi suất ưu đãi (<2%), thời gian ân hạn và trả nợ dài. Yếu tố
không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc và 25% với khoản vay
không có ràng buộc.
+ ODA vay hỗn hợp.
- Theo mục đích sử dụng có:
+ ODA hỗ trợ cơ bản: thực hiện nhiệm vụ chính của các chương trình, dự án đầu

khác nhau tùy theo từng trường hợp cụ thể. Nếu người xuất khẩu thiếu vốn do phải thực
hiện các hợp đồng xuất khẩu có kim ngạch lớn thì tiền ứng trước mang tính chất tín dụng;
còn ngược lại, nếu người xuất khẩu không tin vào khả năng thực hiện hợp đồng của
người nhập khẩu mà bắt phải đặt cọc cho việc giao hàng, tiền ứng trước mang tính chất là
vật đảm bảo thực hiện hợp đồng. Khoản tiền ứng trước được hoàn trả bằng cách khấu trừ
dần vào số tiền hàng theo tỷ lệ cố định hoặc theo tỷ lệ tăng dần hoặc chỉ một lần vào
chuyến hàng giao cuối cùng.
+ Tín dụng nhà môi giới cấp cho người xuất khẩu và nhập khẩu: các ngân hàng
lớn thường không cấp tín dụng trực tiếp cho các nhà xuất nhập khẩu mà thông qua nhà
môi giới, sử dụng rộng rãi ở các nước Anh, Đức, Bỉ và Hà Lan. Người môi giới là các
công ty lớn, có vốn vay được từ các ngân hàng, hình thức cấp tín dụng rất đa dạng. Mọi
tín dụng của người môi giới đều là tín dụng ngắn hạn.
5. Các hình thức vốn đầu tư:
Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư.
Gồm các loại sau:
 Vốn đầu tư là tiền bao gồm đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi.
 Vốn đầu tư là tài sản hợp pháp gồm:
+ Cổ phần, cổ phiếu, các giấy tờ có giá khác.
+ Trái phiếu, khoản nợ và các hình thức vay nợ khác.
+ Các quyền theo hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồng
xây dựng, hợp đồng quản lí, hợp đồng phan chia sản phẩm hoặc doanh thu.
+ Các quyền đòi nợ và quyền có giá trị kinh tế theo hợp đồng.
+ Công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ.
+ Các quyền chuyển nhượng, cả quyền thăm dò và khai thác tài nguyên.
+ Bất động sản, quyền với bất động sản.
+ Các khoản lợi tức phát sinh từ các khoản đầu tư.
6. Những xu hướng chủ yếu trong đầu tư quốc tế:
 Xu hướng tự do hóa đầu tư ngày càng phát triển.
Tự do hóa đầu tư là những biện pháp nhằm cắt giảm hay loại bỏ các rào cản có
tính cản trở hoạt động đầu tư từ quốc gia này sang quốc gia khác để tạo nên một môi

động. Nhiều công trình lớn đã hoàn thành đưa vào sản xuất, phát huy hiệu quả đầu tư,
nhiều công trình trọng điểm làm cơ sở cho tăng trưởng giai đoạn sau đó được khởi công
và đẩy nhanh tiến độ, nhất là các công trình điện, dầu khí, công nghiệp nặng, công nghiệp
phục vụ xuất khẩu
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao hơn mức
tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH).
Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong 5 năm qua
chiếm trung bình 42,5% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Cụ thể, tỷ trọng trên
tăng từ 41,3% vào năm 2000 lên 43,7% vào 2 năm 2004 và 2005.
ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều
ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử
và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may… Hiện
ĐTNN đóng góp 100% sản lượng của một số sản phẩm công nghiệp.
ĐTNN đã góp phần hình thành và phát triển trong cả nước hệ thống các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả
sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém màu mỡ.
- ĐTNN thúc đẩy chuyển giao công nghệ:
ĐTNN đã thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một
số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí,
hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy Nhất là sau khi Tập đoàn Intel
đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ vào Việt Nam trong dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia
tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia
(Canon, Panasonic, Ritech.v.v)
Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực ĐTNN cao hơn hoặc bằng các thiết
bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực. Hầu hết các doanh
nghiệp có vốn ĐTTNN áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh
hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ.
Trong nông-lâm-ngư nghiệp, ĐTNN đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm lượng
kỹ thuật cao và các cây, con giống mới.

84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng may mặc…
Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên quốc gia, nhiều sản phẩm sản xuất
tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị trường trên thế giới.
Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, ĐTNN đã tạo ra nhiều khách sạn cao cấp đạt
tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao cũng như các khu du lịch, nghỉ dưỡng đáp ứng nhu cầu khách
du lịch quốc tế, góp phần gia tăng nhanh chóng xuất khẩu tại chỗ.
Bên cạnh đó, ĐTNN còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập với
kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
 Về mặt xã hội:
- ĐTNN góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao
động, cải thiện nguồn nhân lực:
Đến nay, khu vực có vốn ĐTNN đã tạo ra việc làm cho trên 1,2 triệu lao động trực
tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp khác theo kết quả điều tra của WB cứ 1 lao động
trực tiếp sẽ tạo việc làm cho từ 2-3 lao động gián tiếp phục vụ trong khu vực dịch vụ và
xây dựng, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống một bộ phận trong cộng
đồng dân cư, đưa mức GDP đầu người tăng lên hàng năm. Thông qua sự tham gia trực
tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, Việt Nam đã từng bước hình
thành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ cao, có tay nghề, từng bước
tiếp cận được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và có tác phong công nghiệp hiện
đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức, kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
- ĐTNN góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với
khu vực và thế giới:
ĐTNN đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối với
Việt Nam, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và
đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy
nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư. Đến nay, Việt Nam là thành viên chính
thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO. Nước ta cũng đã ký kết 51 Hiệp định khuyến
khích và bảo hộ đầu tư, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA),
Hiệp định tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản. Thông qua tiếng nói
và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không

đáng được hưởng, không thỏa đáng với nhu cầu của người lao động. Điều đó dẫn đến
mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến tình trạng đình công,
bãi công làm thiệt hại cho doanh nghiệp.
ĐTNN ở nước ta đã thu hút được hàng nghìn doanh nghiệp của các nước và vùng
lãnh thổ khắp thế giới. Điều đó cho thấy tính hấp dẫn của môi trường đầu tư ở Việt Nam,
đồng thời cũng thể hiện tính đa dạng của các nền văn hóa trong quan hệ giữa người sử
dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp ĐTNN.
- Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ
Nhìn chung công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp ĐTNN thường cao
hơn mặt bằng công nghệ cùng ngành và cùng loại sản phẩm tại nước ta.
Tuy vậy, một số trường hợp các nhà ĐTNN đã lợi dụng sơ hở của pháp luật Việt
Nam, cũng như sự yếu kém trong kiểm tra giám sát tại các cửa khẩu nên đã nhập vào
Việt Nam một số máy móc thiết bị có công nghệ lạc hậu thậm chí là những phế thải của
các nước khác. Tính phổ biến của việc nhập máy móc thiết bị là giá cả được ghi trong
hóa đơn thường cao hơn giá trung bình của thị trường thế giới. Nhờ vậy một số nhà
ĐTNN có thể lợi dụng để khai tăng tỷ lệ góp vốn trong các liên doanh với Việt Nam.
Việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam được thực hiện thông
qua các hợp đồng và được cơ quan quản lý nhà nước về khoa học công nghệ chuẩn y.
Tuy vậy, đây là một hoạt đông cực kỳ khó khăn đối với các nước tiếp nhận đầu tư nói
chung, kể cả Việt Nam, bởi khó có thể đánh giá chính xác giá trị thực của từng loại công
nghệ trong những ngành khác nhau, đặc biệt trong những ngành công nghệ cao. Do vậy,
thường phải thông qua thương lượng theo hình thức mặc cả đến khi hai bên có thể chấp
nhận được, thì ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ.

III. Đầu tư quốc tế tại Việt Nam trước, trong và sau khủng hoảng:
1. Thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi thu hút đầu tư nước ngoài:
“Việt Nam đã trở thành địa điểm được ngày càng nhiều nhà đầu tư nước ngoài tin
cậy, lựa chọn đầu tư, kinh doanh hiệu quả, lâu dài,” là lời khẳng định của Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng.
Khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ngày càng lớn mạnh trở thành một bộ

Quốc hội, Bộ Tài chính trình dự thảo Luật sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp xem
xét giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng trong bối cảnh kinh tế khó
khăn như hiện nay. Theo đó thuế thu nhập phổ biến cho các doanh nghiệp sẽ giảm từ mức
25% hiện hành xuống 23% và áp dụng dự kiến từ năm 2014. Đây cũng là một tín hiệu
đáng mừng cho cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng của Việt Nam đang phát triển nhanh chóng nhằm đáp ứng dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài mới đổ vào. Việt Nam quyết tâm phát triển cân bằng về cơ sở
hạ tầng, đặc biệt trong lĩnh vực cung cấp điện, nước, các dịch vụ cảng biển và viễn thông.
Nâng cấp hệ thống các nhà máy điện, hệ thống đường xá, sân bay, bến cảng Bên cạnh
nguồn vốn của nhà nước đầu tư lớn cho các công trình hạ tầng còn kêu gọi đầu tư tư nhân
vào hạ tầng kinh tế lớn, có ảnh hướng tới sự phát triển của cả vùng và đất nước. Một số
hạng mục kêu gọi như Cảng Vân Phong, các nhà máy điện, các dự án hạ tầng đô thị đã
thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư. Bên cạnh đó, chúng ta cũng tập trung thu
hút đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ nguồn tập trung vào các khu như Láng - Hoà
Lạc; đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng cho đầu tư sản xuất.
Đến năm 2006, Việt Nam đã đầu tư khoảng 10% GDP vào cơ sở hạ tầng, năm
2012 đầu tư phát triển các cảng nước sâu và vận tải biển - sự phát triển này đã mang lại
cho Việt Nam một lợi thế cạnh tranh to lớn, tăng cường hỗ trợ các nhà đầu tư trong việc
thành lập các chuỗi cung ứng và xuất khẩu vào ASEAN, Trung Quốc và Bắc Mỹ.
 Hệ thống chính trị và tính an toàn
Việt Nam có hệ thống chính trị ổn định và bền vững, đoàn kết , được đánh giá cao
về tính an toàn, không có các vụ bạo động, biểu tình, li khai li gián, đánh bom liều chết…
giúp các nhà đầu tư yên tâm tìm kiếm cơ hội sinh lợi.
 Sở hữu trí tuệ và cơ sở hạ tầng pháp lý
Cùng với việc đáp ứng những quy định về pháp lý và sở hữu trí tuệ để gia nhập
WTO, Việt Nam đã có những bước đi nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và ban hành
nhiều luật quy định việc bảo hộ cụ thể đối với các nhà đầu tư. Hệ thống toà án giám sát
luật có ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài tiếp tục được cải thiện, tạo ra một khuôn khổ
pháp lý minh bạch và rộng mở hơn cho các hoạt động đầu tư. Môi trường kinh doanh

quốc gia đang phát triển có sự ổn định và cởi mở. Việt Nam cũng nằm trong chiến lược
phân bổ đầu tư của nhiều tập đoàn ra khỏi Trung Quốc để tránh rủi ro.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều
những khó khăn, bất cập cần giải quyết để có thể thu hút và tận dụng tối đa vai trò quan
trọng của các nhà đầu tư nước ngoài.
b. Những khó khăn của Việt Nam trong đầu tư quốc tế:
 Hạn chế về hệ thống pháp luật đầu tư quốc tế.
 Thủ tục trong lĩnh vực đầu tư và thương mại còn rườm rà.
 Công tác xúc tiến đầu tư còn chưa đồng bộ, chưa đạt hiệu quả cao.
 FDI đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng còn hạn chế và còn gặp những khó
khăn, vướng mắc trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, xây dựng kết cấu hạ tầng.
 Tồn tại những vấn đề bất cập về môi trường, xã hội trong khu công nghiệp
và khu kinh tế.
 Lợi thế lao động rẻ đã lỗi thời.
 Tỷ trọng đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực còn mất cân đối, đặc biệt vốn
cho nông - lâm- ngư nghiệp còn thấp. Giải ngân vốn đầu tư đạt khoảng 100 tỉ USD,
tương đương 47% tổng vốn đăng ký vẫn còn chậm.
 95% công nghệ lạc hậu, đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ
mới còn chiếm tỷ lệ thấp
Bộ Kế hoạch - Đầu tư cho biết các doanh nghiệp khu vực này nhập 80% dây
chuyền công nghệ trung bình, chỉ có 5% công nghệ cao, còn lại là cũ kỹ, lạc hậu. Tuy
Việt Nam trở thành điểm đến của các tập đoàn lớn như Toyota, Samsung, Intel, Canon…
nhưng đó chỉ là số ít, còn lại phần lớn dự án sử dụng công nghệ cao còn thấp; tình trạng
cấp giấy chứng nhận đầu tư không phù hợp, chưa được thẩm tra.  Năng suất lao động chưa cao, đời sống công nhân lao động còn khó khăn
dẫn tới đình công, bãi công
 Đặc biệt, theo Thứ trưởng Bộ KH-ĐT Đào Quang Thu, đang có hiện tượng
chuyển giá, trốn thuế tại các DN FDI với xu hướng ngày càng tinh vi như: nâng khống

công tăng nếu tính cả nợ dự phòng của các ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước; việc
thực hiện quá trình cải cách cơ cấu nền kinh tế chưa thực sự hiệu quả, hiện đang là những
vật cản tới tiềm năng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam.
2. Đầu tư quốc tế tại Việt Nam trước khủng hoảng:
a. Đầu tư trực tiếp FDI:
Kể từ năm 1988 đến 2007, Việt Nam đã thu hút khoảng 98 tỉ USD với 9500 dự án
đầu tư nước ngoài. Trong số đó, 2.220 dự án phân bố ở miền Bắc, 818 ở miền Trung và
5.452 dự án ở miền Nam. Giai đoạn này có 82 nước và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt
Nam, trong đó các nước châu Á chiếm 69,8%, Châu Âu chiếm 16,7 % và Châu Mỹ
chiếm 6% tổng vốn FDI, các khu vực khác chiếm 7,5%.
Từ năm 2000-2003 chỉ đạt mức dưới 5%, sau đó từ năm 2004 có xu hướng tăng
nhanh đạt 4,5 tỷ USD tăng 45,1% so với năm trước. Năm 2005 tăng 50,8% và năm 2006
tăng 75,4%, năm 2007 Việt Nam đã thu hút dược 20,3 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài,
tăng 70% so với 2006 và tương đương với tổng vốn đầu tư nước ngoài trong năm năm từ
2001 đến 2005. Đạt được những thành tích trên bắt nguồn từ việc Chính Phủ đã có một
số chính sách sữa đổi trong luật đầu tư nước ngoài cũng như xúc tiến công tác đầu tư ở
trong nước và ngoài nước đồng thời ban hành luật doanh nghiệp thống nhất năm 2005.
Quyền kinh doanh cũng được mở rộng như cho các doanh nghiệp được tự do lựa chọn
phương án, đối tác và phương thức hợp tác.
Từ trước năm 2007, đầu tư có xu hướng tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, các
ngành đòi hỏi nhiều lao động, sản xuất hàng hóa xuất khẩu và sản xuất hàng hóa thay thế
nhập khẩu. Có hơn 4.566 dự án thuộc ngành sản xuất và xây dựng với tổng vốn khoảng
35,4 tỉ USD, chiếm 61,89% tổng số vốn đăng kí.
Mặc dù các dự án đầu tư nước ngoài có mặt tại hầu khắp các tỉnh và thành phố của
Việt Nam, tỉ lệ đầu tư lớn nhất vẫn dành cho các vùng kinh tế trọng điểm ở phía Nam bao
gồm thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu; và ở phía Bắc
gồm Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh. Tập trung nhiều nhất vẫn là ở Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh bởi hai thành phố này có cơ sở hạ tầng phát triển hơn, sức
mua cao hơn và lực lượng lao động lành nghề hơn.
Trong những năm này, số lượng dự án 100% vốn nước ngoài cũng bắt đầu tăng

lệ này còn quá thấp so với các nước trong khu vực (tỷ lệ thu hút FPI/FDI trong khoảng
30-40%).
Từ năm 2003 trở đi dòng vốn FPI vào Việt Nam hồi phục, tăng dần từng năm và
tăng đột biến vào năm 2006-2007. Báo cáo của Ngân Hàng ANZ cho biết từ năm 2001-
2006 vốn FPI đạt khoảng 12 tỷ đôla Mỹ và năm 2007 đạt khoảng 5,7 tỷ đôla Mỹ. Cùng
với đó các quỹ đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời kỳ này cũng có những thay
đổi quan trọng. Nếu như trước đây là các quỹ đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là quỹ đầu tư
mạo hiểm sẵn sàng chấp nhận rùi ro khi khung pháp lý ở Việt Nam còn chưa đầy đủ, thị
trường chứng khoán chưa thành lập thì ở giai đoạn này, các quỹ được lập ở Việt Nam
đều do các nhà đầu tư nước ngoài nhận thấy tiềm năng phát triển lớn của thị trường Việt
Nam. Trong năm 2006 – 2007, giao dịch của khối nhà đầu tư nước ngoài chiếm tới gần
25% tổng khối lượng giao dịch toàn thị trường. Việc khai thông, duy trì dòng vốn FPI là
cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế, tuy nhiên đồng hành với nó là các chính sách
kinh tế vĩ mô phải linh hoạt và đồng bộ nhằm đảm bảo khả năng khống chế và kiểm soát
rủi ro của dòng vốn này.
Đầu tư vào thị trường chứng khoán của các tập đoàn tài chính quốc tế trong thời
gian qua đã không ngừng gia tăng. Đến cuối năm 2006, khoảng trên 2 tỷ USD vốn đầu tư
gián tiếp được công bố thông qua các quỹ đầu tư chính thức. Theo các nhà đầu tư, lý do
để họ hướng về Việt Nam là Chính phủ đã khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư
nhân đối với sự phát triển của nền kinh tế, tính chuyên nghiệp hoá từng bước của môi
trường đầu tư và sự thành công của những nhà đầu tư hiện hữu. Bên cạnh đó, phải kể đến
những bước tiến mới trong lĩnh vực tài chính của Việt Nam bao gồm: việc phát hành
thêm trái phiếu chính phủ ra nước ngoài và trái phiếu tư nhân, thành lập Tổng công ty
Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC); quá trình cổ phần hoá đang diễn ra tại Việt
Nam bao gồm cả ngân hàng thương mại quốc doanh; tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng,
đặc biệt là hệ thống điện và giao thông, cải cách khung pháp lý dành cho các nhà đầu tư
nước ngoài. Tuy nhiên, để có thể thu hút thêm nguồn vốn FPI tương xứng với tiềm năng
của nền kinh tế và thị trường, Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cải thiện môi
trường đầu tư, đặc biệt là khung pháp lý, cơ chế và sách lược phát triển thị trường chứng
khoán.

phẩm kinh tế - xã hội cụ thể để đóng góp vào quá trình phát triển của đất nước mới là
quan trọng.
Trong các ngành và lĩnh vực ưu tiên vốn ODA, Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo có các chương trình và dự án ODA ký kết trước năm
2008 đạt tổng trị giá khoảng 5,5 tỷ USD, đã góp phần hỗ trợ phát triển nông nghiệp và cải
thiện 1 bước quan trọng đời sống dân nhân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số, nhất là trong việc tiếp cận với các dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục.
Năng lượng và Công nghiệp là lĩnh vực sử dụng nguồn vốn ODA lớn với các dự
án đã ký trong thời gian qua đạt trên 7,6 tỷ USD nhằm cải tạo, nâng cấp, phát triển mới
nhiều nhà máy nhiệt điện và thủy điện với công suất lớn, cải tạo và phát triển mạng
truyền tải và phân phối điện quốc gia đáp ứng nhu cầu điện gia tăng hàng năm cho sản
xuất và đời sống ở các thành phố, thị trấn, thị xã, khu công nghiệp và khu vực nông thôn
trên cả nước.
Giao thông Vận tải và Bưu chính viễn thông là ngành tiếp nhận vốn ODA lớn nhất
với tổng giá trị hiệp định ký kết đạt khoảng 9,88 tỷ USD thời kỳ trước năm 2008. Nhờ
nguồn vốn này, Việt Nam đã khôi phục và bước đầu phát triển các hệ thống giao thông
đường bộ, đường sắt, đường không, đường biển và đường thủy nội địa. Đây là những cơ
sở hạ tầng kinh tế hết sức quan trọng để thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực và địa
phương, kể cả thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Y tế, giáo dục đào tạo, môi trường, khoa học kỹ thuật là những lĩnh vực ưu tiên
thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua với các chương trình, dự án đã ký đạt tổng
số vốn khoảng 4,3 tỷ USD. Như vậy, ODA đã giúp đất nước ta có được nguồn vốn ưu đãi
trong quá trình phát triển kinh tế, tiếp thu những thành tựu khoa học– công nghệ hiện đại
và phát triển nguồn nhân lực, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và cũng góp phần quan trọng tăng
khả năng thu hút vốn FDI, tạo điều kiện mở rộng đầu tư phát triển trong nước.
3. Đầu tư quốc tế tại Việt Nam trong và sau khủng hoảng:
a. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng:
 Nguyên nhân trực tiếp:
 Tình trạng kinh doanh thua lỗ và sụp đỗ hàng loạt theo dây chuyền của các
tổ chức tài chính hàng đầu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status