TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ VỊ THẾ CỦA HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU - Pdf 68

TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ VỊ
THẾ CỦA HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ
TOÀN CẦU
I. KHÁI QUÁT VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA KHỦNG HOẢNG TỚI THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN
1. Nguyên nhân và tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
a) Nguyên nhân:
Khủng hoảng kinh tế 2007-2009 là cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ của hàng
hệ thống ngân hàng, cùng với tình trạng thiếu tín dụng, sụt giá chứng khoán và mất giá
tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở
Mỹ. Bong bóng nhà ở cùng với hệ thống giám sát tài chính thiếu hoàn thiện đã dẫn tới
một cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này từ năm 2007, bùng phát mạnh vào cuối
năm 2008 sau đó lan rộng ra khắp thế giới đã làm thay đổi hoàn toàn và sâu sắc ngành
tài chính Mỹ cũng như hệ thống kinh tế toàn cầu. Theo phân tích của nhiều chuyên gia
kinh tế quốc tế, đây là một cuộc tổng khủng hoảng, trên tất cả các phương diện tài
chính, sản xuất, thương mại, dịch vụ tương đương với các cuộc Ðại suy thoái 1873 và
1929. Về bản chất, đây là cuộc khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng mô hình phát triển
theo chủ nghĩa tự do mới và cuối cùng, và khủng hoảng chu kỳ của chủ nghĩa tư bản
trên quy mô toàn cầu.
Cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ có thể được tóm tắt theo ba yếu tố chính sau:
- Sự hình thành các định chế tài chính do Nhà nước bảo trợ: hệ thống tài chính
Mỹ bao gồm hai định chế tín dụng - thế chấp bất động sản được nhà nước bảo trợ là
Fannie Mae (Federal National Mortgage Association) và Freddie Mac (The Federal
Home Loan Mortgage Corporation). Hai tổ chức này mua lại các khoản thế chấp từ các
tổ chức tài chính khác và trực tiếp tham gia vào hoạt động cho vay thế chấp để duy trì
dòng tín dụng lãi suất thấp, cho phép những hộ gia đình có thu nhập thấp có thể mua
nhà. Để thực hiện nhiệm vụ này, Freddie và Fannie được phép nhận tín dụng trực tiếp
từ Cục dự trữ Liên bang (FED), được miễn thuế thu nhập và nằm ngoài sự giám sát của
Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC). Nhờ đó, Fannie Mae và Freddie Mac đã mở rộng hoạt
động cho vay dưới chuẩn, tạo ra bong bóng bất động sản. Hơn nữa, việc hai tổ chức này
được phép chứng khoán hóa các khoản vay thế chấp đó để bán ra ngoài cho các tổ chức

một trong những cuộc suy thoái kinh tế gây ra hậu quả nghiêm trọng nhất cho thế giới
do tiến trình gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế và theo sau là sự lệ
thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc giữa các nền kinh tế, tác động của cuộc khủng hoảng
đã mang đặc tính phổ biến, lây lan rộng khắp và không loại trừ bất kỳ quốc gia nào.
Đồng thời, tốc độ tăng trưởng của các quốc gia trung tâm trong tình trạng âm và thấp
kéo dài, trong khi các quốc gia ngoại vi, nhất là ở các nền kinh tế đang phát triển - nơi
có độ mở thị trường cao, lệ thuộc mạnh vào xuất khẩu và FDI - đã trở thành những
nước bị tác động nặng nề và sâu sắc hơn. Bên cạnh sự diễn ra của khủng hoảng chu kỳ,
khủng hoảng cơ cấu và khủng hoảng thể chế, còn là sự bùng nổ đồng thời và nghiêm
trọng của các cuộc khủng hoảng về năng lượng, nguyên liệu, lương thực và môi trường
và đã làm nảy sinh vô số những khó khăn về kinh tế, cũng như các vấn đề về chính trị,
xã hội cho tất cả các quốc gia trên thế giới.
BẢNG 6: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP TOÀN CẦU 2004-2009
Khu vực 2004-2007 2008 2009
Thế giới 3,9 1,7 -2,2
Các nước phát triển 2,6 0,4 -3,3
EU 2,7 0,5 -3,9
Nhât Bản 2,1 -1,2 -5,4
Hoa Kỳ 2,6 0,4 -2,5
Các nước đang phát triển 7,1 5,6 1,2
Đông Á và Thái Bình Dương 6,9 8,0 6,8
Châu Âu và Trung Á 7,1 4,2 -6,2
Châu Mỹ Latin và khu vực Caribbean 6,9 3,9 -2,6
Trung Đông và Bắc Phi 5,9 4,3 2,9
Nam Á 8,5 5,7 5,7
Khu vực Sahara 6,2 5,1 1,1
Nguồn: Tổng hợp từ World Bank và United Nations, 2010
Từ Bảng 6 ta có thể thấy, kinh tế thế giới bắt đầu sụt giảm tăng trưởng từ năm
2008, và khủng hoảng nghiêm trọng vào năm 2009; trong năm này, các nước phát triển
tăng trưởng âm, trong khi các nước đang phát triển thì khựng lại và có xu hướng suy

Dân số, thu nhập, thị hiếu, giá sản phẩm bổ sung, giá sản phẩm thay thế, giá xăng dầu, chính sách của chính phủ…
Chi phí đầu vào, thời tiết, chính sách của chính phủ,…
Cung thế giới
Hình thành giá
Cầu thế giới
P
D
- Thuế - Tỷ giá hối đoái
- Thuế - Tỷ giá hối đoái - Hàng rào phi thuế quan
Nhu cầu tại nước nhập khẩu Con người Động vật Dự trữ
Sản xuất nội địa
Nhập khẩu
Giá thành tại nước nhập khẩu
Chi phí đầu vào, thời tiết, chính sách của chính phủ
Dân số, thu nhập, thị hiếu, giá sản phẩm bổ sung, giá sản phẩm thay thế, giá xăng dầu, chính sách của chính phủ…
Nguồn: FAO, 2009, [17;16]
Sự thay đổi cầu trong dài hạn cơ bản là do dân số gia tăng và thu nhập của con
người ngày càng cao, đối với cầu về mặt hàng là nguyên liệu từ nông sản như cao su thì
còn chịu ảnh hưởng từ tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, cầu nông sản cũng chịu ảnh
hưởng từ giá cả của các hàng hóa liên quan và chế độ dinh dưỡng của con người tại các
thời điểm khác.
Cung nông sản thay đổi trong dài hạn chủ yếu xuất phát từ tiến bộ kỹ thuật, giúp
giảm chi phí và tăng năng suất. Trước kia, sự phát triển của khoa học kỹ thuật giúp
giảm chi phí và mở rộng sản xuất đã làm năng suất nông sản tăng với tốc độ lớn hơn
tốc độ tăng dân số và tốc độ tăng thu nhập, dẫn đến một thời gian dài giá nông sản trên
thị trường thế giới không tăng, có những lúc còn giảm (giai đoạn 1990-2000). Nhưng
một vài năm gần đây cầu nông sản có xu hướng tăng lên khiến cho giá tăng. Giai đoạn
2000-2009 thế giới đã chứng kiến sự biến động đột ngột và không ổn định của nông
sản, đặc biệt là trong hai năm 2008 và 2009.
Theo FAO, chỉ số giá hàng nông sản danh nghĩa 2008 đã tăng gấp đôi so với 2002.

học từ dầu thực vật ở châu Âu) làm tăng nhu cầu tiêu dùng lương thực bù đắp cho một
phần sản lượng ngô chuyển sang sản xuất ethanol. Trong năm 2007, trong 40 triệu tấn
ngô tăng thêm so với năm 2006 thì có tới 30 triệu tấn được dùng để sản xuất ethanol.
- Hoạt động đầu cơ: các nhà đầu cơ tìm thấy cơ hội từ một số mặt hàng nông sản
mang lại lợi nhuận cao hơn là đầu tư và chứng khoán hay bất động sản. Từ những năm
đầu thế kỷ XXI, sự sụp đổ của các công ty dot.com khiến cho một lượng không nhỏ các
nhà đầu cơ chuyển sang thị trường nông sản nhằm đảm bảo thu lợi nhuận một cách an
toàn, làm dòng tiền chảy vào thị trường này tăng lên. Trong vòng 10 năm trở lại đây kết
cấu thị trường giao dịch nông sản đã có những chuyển mình mạnh mẽ, các quỹ đầu tư
tham gia thị trường ngày càng sâu rộng. Hoạt động giao dịch toàn cầu của các loại
chứng khoán options và futures tăng lên gấp đôi trong vòng 5 năm từ 2002 đến 2007.
Riêng năm 2007, hoạt động giao dịch tại các sàn giao dịch nông sản trên thế giới đã
tăng 30% so với 2006. Luồng tài chính từ các quỹ này đã dần lớn đến mức chi phối
cung cầu trên thị trường góp phần làm cho giá nông sản tăng lên trong vòng 10 năm từ
2000 đến 2009.
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tới thị trường nông sản
Giá các mặt hàng nông sản thế giới giảm một cách nhanh chóng bắt đầu từ tháng
9-2008 sau một thời gian dài tăng vọt và trở về gần bằng mức giá năm 2007. Nguyên
nhân của việc giá nông sản giảm là do sự kết hợp của hai nhân tố cung và cầu. Giá cao
thúc đẩy các nước xuất khẩu mở rộng sản xuất các mặt hàng ngũ cốc. Bên cạnh đó, cầu
giảm là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu mang
lại, khiến cho các hoạt động thương mại bị hạn chế. Cầu giảm sút đã trực tiếp ảnh
hưởng đến thị trường và giá cả của ngũ cốc và các loại nông sản là nguyên liệu phục vụ
công nghiệp như cao su.
Kể từ tháng 9/2008 giá nông sản trên thị trường thế giới giảm đột biến. Điển hình
nhất là giá cao su RSS2 cuối tháng 9 còn ở mức 4.100 USD/tấn đã giảm xuống còn
3000 USD/tấn, giảm 26,8% trong vòng một tháng.
Đến giữa tháng 10/2008, giá cà phê thế giới sụt giảm xuống thấp nhất, thấp hơn cả
mức giá của tháng 1.Tại thị trường London là khoảng 1700 USD/tấn, là mức thấp nhất
kể từ đầu năm (ngày 1/1/08 giá thế giới là 1903 USD/tấn).

diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp hàng năm gây ra thiệt hại lớn cho sản xuất nông
nghiệp. Tần suất thiên tai ngày càng dày, mức độ nghiêm trọng và quy mô ngày càng
lớn. Ở nước ta trong các năm qua liên tục xuất hiện bão lớn, mưa to gây lũ lụt, lở đất,
hạn hán, cháy rừng. Thêm vào đó là tình trạng dịch bệnh diễn biến phức tạp trên quy
mô rộng cho cả cây trồng đã ảnh hưởng rất lớn và gây nhiều khó khăn cho hoạt động
sản xuất nông sản của nước ta trong thời gian gần đây.
Trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn (từ 75-80%) trong cơ cấu nội ngành nông nghiệp,
trong đó cây lương thực, nhất là lúa vẫn đóng vai trò chủ đạo. Tình trạng “cánh kéo giá”
bất lợi cho sản xuất nông nghiệp diễn ra kéo dài trong nhiều năm. Điển hình là từ năm
2005-2006, giá vật tư nguyên liệu đầu vào của nông nghiệp tăng trung bình từ 2-2,5 lần,
giá lao động tăng từ 2-3 lần, trong khi đó, giá nông sản chỉ tăng từ 1,2-1,3 lần. Bên cạnh
đó, các tài nguyên đầu vào như đất, nước, lao động và tỷ lệ vốn đầu tư cho nông nghiệp
liên tục suy giảm. Sản xuất nông nghiệp phải đương đầu với hàng loạt rủi ro về dịch
bệnh và thiên tai. Do đó, trong hai năm 2005, 2006 sản xuất nông sản gặp nhiều khó
khăn với tốc độ tăng trưởng tương ứng là 1,04% và 3,4%. Tuy nhiên, theo các số liệu
của Tổng cục thống kê, giai đoạn 2000-2009, ngành trồng trọt vẫn duy trì tốc độ tăng
trưởng trung bình ở mức tương đối cao là 4%/ năm (Phụ lục 1)
Dưới đây một số phân tích về tình hình sản xuất của gạo, cà phê và một số nông sản
chính của Việt Nam trong giai đoạn này.
 Gạo
Trong giai đoạn từ năm 2000-2007, tổng diện tích lúa cả năm có xu hướng giảm liên
tục, trong khi đó sản lượng lại có biến động tăng đạt mức cao nhất là 36 triệu tấn/năm
vào năm 2004. Điều này thể hiện trình độ thâm canh cây lúa của Việt Nam đã có những
tiến bộ nhất định. Năm 2008, sản xuất lúa đã tăng cả về diện tích và sản lượng (Bảng
7), diện tích lúa đã tăng trở lại (gần 7,40 triệu ha), gần bằng mức của năm 2004 (hơn
7,44 triệu ha). Đây cũng là năm được mùa về lúa gạo của Việt Nam. Sản lượng đã tăng
gần 3 triệu tấn so với năm 2007. Đặc biệt, trong hai năm 2008 và 2009 cả diện tích gieo
trồng lúa và sản lượng lúa đều tăng và năng suất lúa cũng tăng ở mức 52,3 tạ/ha-cao
nhất từ trước tới nay, tăng gần 10 tạ/ha tức là 19% so với mức 42,4 tạ/ha của năm 2000;
làm cho năng suất bình quân trong giai đoạn 2000-2009 đạt 47,8 tạ/ha.

còn thực hiện theo hướng manh mún, nhỏ lẻ, không có quy hoạch và thiếu định hướng.
Khi giá cả trong nước và quốc tế tăng nông dân tự ý trồng để thu lời còn khi mất mùa,
thất thu thì lại chặt phá đi để trồng cây khác. Do vậy mà việc sản xuất các cây công
nghiệp dài ngày nói chung cũng như cà phê nói riêng vẫn chưa đạt được hiệu quả trên
quy mô cả nước.
Trong giai đoạn 2000-2009, diện tích gieo trồng và sản lượng cà phê đã có sự thay
đổi (Bảng 8). Theo đó, diện tích trồng đã bị thu hẹp 11,6% từ 561,9 nghìn hecta (2000)
xuống 490 hecta (năm 2006), sau đó từ những năm 2007, nhờ chính sách khuyến khích
và chiến lược quy hoạch của Nhà nước, diện tích cà phê đã tăng dần trở lại ở mức 537
hecta vào năm 2009.
Tuy diện tích bị thu hẹp song sản lượng cà phê lại tăng một cách rõ rệt với mức tăng
sản lượng bình quân là 5,3% cho cả giai đoạn. Tăng mạnh nhất là vào năm 2006 với
31% so với năm 2005. Nguyên nhân là do năng suất cà phê đã được cải thiện rõ rệt khi
áp dụng các biện pháp canh tác khoa học vào sản xuất và người nông dân có ý thức hơn
trong việc thu hoạch cà phê, không thu hoạch cà phê còn tươi.
BẢNG 8: DIỆN TÍCH GIEO TRỒNG VÀ SẢN LƯỢNG CÀ PHÊ
GIAI ĐOẠN 2000 - 2009
2000 2003 2005 2006 2007 2008 2009
Diện tích gieo trồng (nghìn
hecta)
561,9 532,2 497,4 497,0 509,3 530,9 537,0
Sản lượng (nghìn tấn)
802,5 793,7 752,1 985,3 915,8 1055,8 1045,1
Nguồn: Niên giám thống kê, 2009
Tuy vậy, có 250.000 hecta (gần 1/2 tổng diện tích cả nước) trong số 537.000 hecta
cà phê ở Việt Nam cần phải trồng mới trong 5-10 năm tới do cà phê trên diện tích này
được trồng từ những năm 1990, hiện nay đang già cỗi, khả năng chống chịu kém trước
thời tiết, sâu bệnh nên cho năng suất, chất lượng thấp.
Ba giống cà phê đang được trồng tại Việt Nam là Abrbica, Robusta và Liberica;
trong đó cà phê Robusta thích hợp trồng tại Tây Nguyên như Gia Lai, Đắk Lăc và Lâm

đem lại sự gia tăng tương ứng trong thu nhập cho người sản xuất cũng như các doanh
nghiệp tham gia vào hoạt động thu mua và xuất khẩu khi rớt giá hay thị trường nhiều
biến động bất ngờ như cuộc khủng hoảng giá lương thực vào năm 2008.
Xuất khẩu các loại nông sản trong giai đoạn 2000-2009 (Phụ lục 2) được mở rộng,
một số ngành đã giành được thị phần lớn trong khu vực và thế giới như: gạo, cao su, cà
phê, hồ tiêu, hạt điều,....
HÌNH 8: GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU MỘT SỐ MẶT HÀNG NÔNG SẢN
CHÍNH GIAI ĐOẠN 2000-2009
Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2009
Theo các số liệu của Bộ NN & PTNT (2009), giá trị kim ngạch xuất khẩu nông sản
giai đoạn 2005-2009 đạt gần 32,07 tỷ USD, bình quân mỗi năm khoảng 6,14 tỷ USD,
tốc độ tăng bình quân 14,9%/năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 6,8 tỷ USD, gấp
2,7 lần năm 2000 (với 2,5 tỷ USD). Đặc biệt năm 2008, kim ngạch xuất khẩu nông sản
đạt mức cao nhất trong giai đoạn này với 8,894 tỷ USD; trong đó: cao su gấp 9,6 lần;
hạt điều 5,9 lần; gạo gấp 4,3 lần; cà phê 4,2 lần; chè 2,1 lần; hồ tiêu 2,3 lần. Đã có 3
mặt hàng đạt mức trên 1 tỷ USD vào năm 2008 là cà phê, gạo, chè song đến năm 2009
chỉ còn hai mặt hàng gạo (2,48 tỷ USD) và cà phê (1,5 tỷ USD). Nguyên nhân chủ yếu
là do trong những tháng đầu năm 2008, giá nông sản thế giới tăng cao, cùng với khối
lượng các mặt hàng của Việt Nam cũng tăng dẫn đến kim ngạch xuất khẩu trong thời
gian này tăng lên. Từ cuối năm 2008 và trong năm 2009, do ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, thị trường nông sản thế giới biến động không ngừng, giá hầu
hết các mặt hàng nông sản giảm mạnh so với những tháng đầu năm 2008 kéo theo giá
trị xuất khẩu nông sản của Việt Nam nói chung giảm sút rõ rệt (Hình 8).
Sau đây là những phân tích khái quát về hoạt động xuất khẩu hai mặt hàng gạo và
cà phê của Việt Nam trong thời gian 2000-2009, đáng chú ý trong giai đoạn này là hai
năm 2008 và 2009, khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra cùng với khủng hoảng
giá nông sản đã làm cho hoạt động xuất khẩu hai mặt hàng này nói riêng và xuất khẩu
nông sản tuy thu về giá trị lớn nhưng nhìn chung vẫn gặp nhiều khó khăn, bất ổn định.
 Gạo
Giai đoạn 2000-2009, là thời gian mặt hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam đã đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status