Chuyên đề 5: Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và biện pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam
GV: GS - TS Dương Thị Bình Minh
MỤC LỤC:
TH: UEHK20 - D13 - NHOM 2 Tr.i
Chuyên đề 5: Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và biện pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam
GV: GS - TS Dương Thị Bình Minh
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 2
STT HỌ VÀ TÊN
KÝ TÊN
NGÀY 1 NGÀY 2 NGÀY 3
1
HÀ THỊ LAM GIANG
2
QUÁCH HỒNG HÀ
3
NGUYỄN KIỀU GIANG
4
TRẦN THỊ KIM YẾN
5
NGUYỄN VĂN HIỆP
6
HỒ SĨ HIỆP
7
NGUYỄN MINH HOÀNG
8
NGUYỄN THỊ HƯNG
9
LÊ THỊ HẰNG
10
VÕ THỊ KIM VÂN
I. KHÁI NIỆM:
1. Khủng hoảng tài chính:
Khủng hoảng tài chính là hiện tượng một bộ phận lớn các ngân hàng của một quốc
gia đột ngột mất khả năng thanh toán cũng như mất khả năng trả nợ.
Quan điểm của việt nam về khái niệm khủng hoảng tài chính tiền tệ: khủng hoảng tài
chính là tình trạng tài chính (quỹ) mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn tới sụp đổ quỹ
Biểu hiện của khủng hoảng tài chính tiền tệ:
+ Tình trạng tồi tệ của toàn bộ bộ máy tài chính - tín dụng quốc gia
+ Sự phá vỡ tài chính nhà nước, hệ thống thanh toán
+ Sự phá sản của các định chế tài chính trung gian
+ Phá giá nội tệ, áp lực lạm phát.
2. Chứng khoán hóa:
Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp khác
nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để
phát hành các trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản). Tiền từ người mua
các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tài chính cho vay thế chấp để các tổ
chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền. Việc đặt tên “chứng khoán hóa” bắt
nguồn từ thực tế là hình thức của các công cụ tài chính được sử dụng để thu được các
nguồn tài trợ từ việc mua chứng khoán của các nhà đầu tư
3. Nợ dưới chuẩn
Nợ dưới chuẩn được hiểu là các khoản cho vay các đối tượng có mức tín nhiệm thấp.
Những đối tượng đi vay này thường là những người nghèo, không có công ăn việc làm ổn
định, vị thế xã hội thấp hoặc có lịch sử thanh toán tín dụng không tốt trong quá khứ.
Những đối tượng này tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thanh toán nợ đến hạn và do đó rất
khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng truyền thống vốn chỉ dành cho những đối
tượng trên chuẩn. Chính vì vậy, nợ dưới chuẩn có mức độ rủi ro tín dụng rất cao song bù
lại có mức lãi suất cũng rất hấp dẫn
II. DIỄN BIẾN, NGUYÊN NHÂN, VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC KHỦNG
HOẢNG TỚI NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI
1. Diễn biến của cuộc khủng hoảng:
Hàn Quốc đã phải thực hiện một số biện pháp khẩn cấp như cắt giảm lãi suất và bơm tiền
vào hệ thống tài chính.
Trước tình hình trên, quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã phải can thiệp bằng cách bơm tiền
vào Iceland, Hungary, và Ukraine để ngăn chặn những kết cục tồi tệ hơn có thể xảy ra.
Nhiều nền kinh tế lớn, bắt đầu từ Nhật, và EU tuyên bố rơi vào suy thoái. Mỹ, lần đầu
tiên sau 8 năm, chính thức thừa nhận đã lâm vào tình trạng trên từ tháng 12/2007. Điều
tương tự cũng xảy ra với Nga, cường quốc kinh tế lớn thứ 4 thế giới. Giá dầu sụt giảm
mạnh cùng với đó là nhu cầu xây dựng đi xuống ảnh hưởng nghiêm trọng tới hai mặt hàng
xuất khẩu chiến lược của nga là dầu mỏ và kim loại, góp phần khiến quốc gia này rơi vào
suy thoái.
2. Nguyên nhân:
2.1. Bất cân đối toàn cầu:
Tín dụng quá dễ dãi cộng với lãi suất thấp đã khiến người Mỹ vay nợ và tiêu dùng
nhiều hơn những gì mà họ thực sự kiếm được trong một khoảng thời gian dài. Trong khi
đó tại khu vực châu Á (Nhật, Trung Quốc) và một số nước thuộc khu vực sản xuất dầu lửa
(Nga, Ả Rập) sau khủng hoảng Đông Á, các nước này luôn gia tăng dự trữ ngoại hối bằng
USD đến mức quá cao. Điều này dẫn đến một hậu quả là thị trường Mỹ ngập trong hàng
hóa giá rẻ(do các nước Châu Á xuất khẩu sang), tiêu dùng của người Mỹ gia tăng nhưng
tiêu dùng toàn cầu giảm.
Việc vay nợ quá dễ dàng khiến cho tiền được đổ vào bất động sản ngày càng nhiều,
bong bóng tài sản ngày càng phình to và rủi ro tăng dần. Trong giai đoạn 1998 – 2006, giá
nhà đất tại Mỹ đã tăng gần 50%. Các ngân hàng cho vay chỉ quan tâm cho vay thật nhiều
để thu lợi nhuận, không quan tâm đến khả năng trả nợ của người đi vay, sau đó các ngân
hàng này lại bán các khoản vay này cho các ngân hàng đầu tư và các ngân hàng đầu tư sẽ
đóng gói và bán cho nhà đầu tư dưới dạng chứng khoán. Các nhà đầu tư “nhắm mắt” mua
bởi họ tin vào hệ thống xếp hạng của các tổ chức đánh giá trái phiếu như Moody’s, S&P…
trong khi các tổ chức này lại chính là người kiếm bộn phí nhờ tư vấn cho các ngân hàng
đầu tư phải làm sao để học cách đóng gói các khoản cầm cố sao cho đạt được mức xếp
hạng cao dù là khoản cầm cố rủi ro. Đến 90% các nghĩa vụ nợ được thế chấp hóa có nguồn
gốc bất động sản được đánh giá AAA.
hơn 15 lần. Tuy nhiên từ năm 2004, Ủy ban chứng khoán Mỹ đã bãi bỏ quy định này đối
với các ngân hàng đầu tư làm cho các ngân hàng này sử dụng đòn bẩy khá cao, lên đến 30
lần, thậm chí hai đại gia bất động sản Freddie Mac và Fannie Mae sử dụng đòn bẩy đến 60
lần và cũng là những nạn nhân đầu tiên của khủng hoảng.
3. Ảnh hưởng tới nền kinh tế thế giới.
Mỹ là quốc gia chiếm 25% GDP toàn cầu và một tỷ lệ lớn hơn trong các giao dịch tài
chính quốc tế, là thị trường nhập khẩu quan trọng của rất nhiều quốc gia, do đó ngay sau
khi lâm vào khủng hoảng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều khu vực kinh tế trên thế
giới, khiến cho sản lượng xuất khẩu của nhiều nước bị thiệt hại, nhất là các quốc gia định
hướng xuất khẩu ở khu vực Đông Á. Các quốc gia tại khu vực này, có thể kể ra là Nhật
Bản, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông lâm vào suy thoái, các quốc gia còn lại ít nhiều đều
suy giảm tốc độ tăng trưởng.
Khu vực Châu Âu chịu tác động nghiêm trọng không kém, một số nước lâm vào
khủng hoảng tài chính như Iceland, Nga. Các nền kinh tế lớn nhất khu vực là Đức và Ý rơi
vào suy thoái, trong khi Anh, Pháp, Tây Ban Nha đều suy giảm tốc độ tăng trưởng.
Kinh tế các quốc gia trên thế giới đều tăng trưởng chậm lại khiến cho cầu về dầu mỏ giảm
khiến cho giá dầu giảm mạnh. Hậu quả là các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ bị thiệt hại nặng
nề.
Một loạt các quốc gia phải tung ra những gói hỗ trợ kinh tế nhiều tỷ USD mà đỉnh
điểm là tháng 10/2008, cục dự trữ liên bang Mỹ - ngân hàng trung ương Châu Âu và 4
ngân hàng trung ương của các quốc gia lớn khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất.
TH: UEHK20 - D13 - NHOM 2 Tr.4
Chuyên đề 5: Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và biện pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam
GV: GS - TS Dương Thị Bình Minh
III. ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT
NAM, CƠ HỘI - THÁCH THỨC VÀ BÀI HỌC RÚT RA:
1. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tới nền kinh tế VN
1.1. Ảnh hưởng đến thị trường tài chính và hoạt động của ngân hàng:
Thị trường tài chính: là thị trường giao dịch, mua bán, trao đổi các sản phẩm tài
là một dòng ngoại tệ tương đối ổn định, ngay cả trong thời kỳ kinh tế toàn cầu có khó
khăn. Nhưng một phần lớn nguồn kiều hối về Việt Nam lại từ nước Mỹ. Do ảnh hưởng
cuộc khủng hoàng ở Mỹ làm giảm lượng cung ngoại tệ.
TH: UEHK20 - D13 - NHOM 2 Tr.5
Chuyên đề 5: Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và biện pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam
GV: GS - TS Dương Thị Bình Minh
1.1.3. Thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ thị
trường chứng khoán thế giới. Mặc dù tình hình vĩ mô của Việt Nam 10 tháng đầu năm khả
quan, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng từ sự sụt giảm chứng khoán toàn cầu. Nhà đầu tư nước
ngoài không bán chứng khoán ồ ạt nhưng cũng không mua vào nhiều chứng khoán.
Khủng hoảng kinh tế Mỹ và toàn cầu cũng gây khó khăn cho việc phát hành trái
phiếu và chứng khoán huy động vốn trên thị trường quốc tế vì chi phí tăng cao và ít nhà
đầu tư hơn do dòng vốn khan hiếm. Nếu chúng ta phát hành để huy động với lãi suất quá
cao thì đưa về đầu tư trong nước sẽ không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp sẽ dẫn đến khó có
khả năng trả nợ khi đến hạn
1.1.4. Hoạt động của ngân hàng:
Lãi suất cho vay liên ngân hàng quốc tế - Libor Và Sibor - đang tăng. Nó có thể ảnh
hưởng tới nợ ngắn hạn của Việt Nam tại các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp, do đó
có thể ảnh hưởng tình hình tài chính của một số ngân hàng và doanh nghiệp. Lãi suất huy
động và cho vay biến động chưa từng có
Thực hiện cơ chế cho vay theo trần lãi suất: cụ thể ngân hàng nhà nước chính thức
áp cơ chế lãi suất trần trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng (không quá 150%
lãi suất cơ bản theo quy định của bộ luật dân sự
Một loạt nghiệp vụ cho vay bị siết chặt: năm 2007, thị trường ngân hàng chứng kiến
sự bùng nổ về tăng trưởng tín dụng (tăng 51,39%), trong đó tăng trưởng mạnh ở các
nghiệp vụ cho vay đầu tư bất động sản, chứng khoán và tín dụng tiêu dùng. Bước sang
năm 2008, đây là những nghiệp vụ chính bị siết chặt.
Nợ xấu ngân hàng có xu hướng gia tăng. Khó khăn của nền kinh tế, trong hoạt động
các nước bị khủng hoảng. Dẫn đến tình trạng nhập siêu của Việt Nam
TH: UEHK20 - D13 - NHOM 2 Tr.7
Chuyên đề 5: Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và biện pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam
GV: GS - TS Dương Thị Bình Minh
1.3. Ảnh hưởng đến sự thu hút vốn đầu tư nước ngoài:
Đầu tư trực tiếp (FDI) của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng vì FDI vào Việt Nam phần
lớn là vốn vay chứ không phải vốn tự có, nên nếu các nhà đầu tư không dàn xếp được
khoản vay sẽ khó giải ngân được.
Mức đầu tư trực tiếp cũng chậm lại, nhiều doanh nghiệp rút vốn về Mỹ để cứu nguy
nền kinh tế Hoa Kỳ, nhiều dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng tạm ngưng.
Hơn thế nữa, chi phí huy động vốn toàn cầu có thể ngày càng tăng do biên độ tín
dụng gia tăng dẫn tới khả năng thu hút đầu tư bị hạn chế; tiêu dùng có thể giảm sút dẫn tới
việc giải ngân FDI giảm.
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII), chúng ta có thể thấy: trong bối cảnh cuộc khủng
hoảng tài chính Mỹ đang lan rộng ra toàn cầu, các định chế tài chính sẽ phải xem xét lại
chiến lược đầu tư và danh mục đầu tư của mình. Điều đó có thể sẽ diễn ra sự điều chỉnh
nhất định của dòng đầu tư vào thị trường vốn Việt Nam, giảm bớt đầu tư vào Việt Nam và
có xu hướng đầu tư vào các kênh an toàn. Luồng tiền đầu tư gián tiếp vào Việt Nam cũng
bị ảnh hưởng và có khả năng sẽ chảy ngược ra nếu tình hình thế giới tiếp tục xấu đi.
TH: UEHK20 - D13 - NHOM 2 Tr.8
Chuyên đề 5: Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và biện pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam
GV: GS - TS Dương Thị Bình Minh
1.4. Ảnh hưởng đến thị trường bất động sản, hàng hóa, dịch vụ
1.4.1. Thị trường bất động sản:
Tại Việt Nam hiện nay cho vay BĐS chiếm trên 10% tổng tài sản ngân hàng, song
BĐS thế chấp lên tới 50-60% tổng tài sản ngân hàng. Vì vậy rủi ro tiềm tàng lớn nhất, khi
khủng hoảng sẽ tác động trực tiếp lên hệ thống tài chính ngân hàng khi hàng loạt người vay
mất khả năng trả nợ
Đây sẽ là một cơ hội tốt để thu hút đầu tư nước ngoài khi những nhà đầu tư nước ngoài
muốn tìm một môi trường đầu tư ổn định
Nâng cao các khả năng cạnh tranh và tính thích nghi của các doanh nghiệp Việt
Nam: Khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ nhấn chìm các doanh nghiệp yếu kém của mỗi
nước và đồng thời sẽ phát hiện những doanh nghiệp thật sự lành mạnh, biết làm ăn hiệu
quả và biết nâng cao thương hiệu và chất lượng. Khủng hoảng cũng làm cho giá cả của các
loại nguyên liệu, của các loại chi phí sản xuất cũng rẻ hơn và cũng sẽ làm cho chi phí sản
xuất của các doanh nghiệp Việt Nam ít hơn từ đó sẽ tăng sức cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới.
TH: UEHK20 - D13 - NHOM 2 Tr.9