Tiểu luận tài chính quốc tế: Thực trạng lạm phát của Việt Nam trong năm 2007 - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Đề tài:
Giáo viên hướng dẫn:
TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
Học viên thực hiện: (Nhóm 09)
1. Lê Thị Vân Anh
2. Lê Thị Hồng Minh
3. Ngô Thị Thùy Trang
4. Đinh Thị Trang
5. Phạm Thị Cẩm Tú

Lớp:
Cao học Ngân Hàng Đêm 2 –
Khóa:

Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Nhóm 09 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 K16
1
Nền kinh tế thế giới nói chung và nến kinh tế Việt Nam nói riêng luôn phải đối mặt
với nguy cơ xảy ra lạm phát. Ngày nay hầu hết các quốc gia đếu áp dụng chế độ lưu
thông tiền giấy và đều này đã dẫn đến việc lạm phát thường xuyên xảy ra ở các quốc gia.
Trong quá khứ chúng ta đã từng chứng kiến nhiều quốc gia phải đối mặt với lạm phát
một cách kinh khủng mà đển hình là ở nước Đức từ 1921 đến 1923 mức lạm phát là 34 tỷ
lần. Việt Nam cũng đã từng xảy ra lạm phát lên đến hơn 700%.

Lạm phát xảy ra ở mức cao (>10%) sẽ gây tác động hết sức tồi tệ đến nền kinh tế,
ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống xã hội. Do đó việc kiềm chế lạm phát ở mức độ
vừ phải phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn là mối quan tâm của các quốc gia
và vì vậy chính phủ các nước luôn áp dụng biện pháp thích hợp để lập lại trật tự trong lưu
thông tiền tệ.
Nền kinh tế Việt Nam đã có được mức tăng trưởng cao và khá ổn định trong hơn 10
năm trở lại đây. Để tiếp tục duy trì được tốc độ phát triển này thì việc kìm giữ lạm phát ở
mức vừa phải là hết sức quan trọng. Chính vì thế mà những biến động của chỉ số giá tiêu
dùng theo chiều hướng được gọi là “bão giá” trong năm qua trở thành vấn đề kinh tế vĩ
mô nổi bật nhất cần được quan tâm giải quyết.
Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Nhóm 09 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 K16

lạm phát là sự phát hành tiền tệ nằm trong chính sách tài chính của nhà nước chịu áp lực
của sự thâm thủng ngân sách nhằm tài trợ cho các khoản chi của nhà nước.
Tuy nhiên, định nghĩa được nhiều người chấp nhận nhất thì lạm phát là sự gia tăng
liên tục của mức giá chung trong nền kinh tế.
Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Nhóm 09 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 K16
3

Và dù nhìn lạm phát ở khía cạnh nào thì những quốc gia có xảy ra lạm phát luôn
có những đặc trưng đó là:
- Hiện tượng gia tăng quá mức của lượng tiền giấy dẫn đến hệ quả là tiền giấy mất
giá.
- Do tiền giấy mất giá nên điều tất yếu là giá cả hàng hóa sẽ tăng đồng bộ và liên
tục, nghĩa là sức mua của đồng tiền bị giảm và đồng tiền bị giảm giá trên thị trường hối
đoái.
- Sự bất ổn định trong đời sống kinh tế xã hội.
2 . Phân loại lạm phát
Do biểu hiện đặc trưng của lạm phát là giá cả hàng hóa tăng liên tục nên người ta
thường căn cứ vào chỉ số giá cả hàng hóa tăng để làm căn cứ phân làm 3 mức độ lạm
phát:
- Lạm phát vừa phải ở mức độ thấp còn gọi là lạm phát một con số: biểu hiện ở
giá cả hàng hóa tăng chậm trong khoảng 10% / năm trở lại. Do đó, đồng tiền mất giá
không lớn, chưa ảnh hưởng nhiều đến sản xuất kinh doanh. Loại lạm phát này thường
được các nước có nền kinh tế phát triển duy trì như một chất xúc tác cho nền kinh tế phát
triển.
- Lạm phát phi mã: loại này xãy ra khi giá cả bắt đầu tăng với tỷ lệ hai hoặc ba
con số như 20%, 100%, 200% ….Lạm phát này đã bắt đầu gây tác hại trong nền kinh tế.
Đồng tiền mất giá một cách nhanh chóng, lãi suất thực tế giảm xuống dưới 0, dân chúng
tránh giữ tiền mặt. Ví dụ như : ở Việt nam giai đoạn 1986 – 1987 đã xảy ra lạm phát phi

p
i
t

q
i
0
p
i
0
Trong đó: q
i
là rổ hàng hóa và p
i
là giá của các mặt hàng, t là năm hiện hành, 0 là
năm gốc.
Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc, và sự lựa chọn rổ hàng hóa
tiêu dùng. Nhược điểm chính của chỉ số này là mức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng
số cố định trong tính toán. Mức độ bao phủ của chỉ số giá này chỉ giới hạn đối với một số
hàng hóa tiêu dùng và trọng số cố định và tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hóa cơ
bản của người dân thành thị mua vào năm gốc. Những nhược điểm mà chỉ số này gặp
phải khi phản ánh giá cả sinh hoạt là CPI không phản ánh sự biến động của giá hàng hóa.
Trong khi đó, chỉ số điều chỉnh GDP không phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu
hàng hóa tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho
những hàng hóa khác nhau theo thời gian.
Chỉ số điều chỉnh GDP =


q
i

trung hạn, chính sách tiền tệ nên tập trung vào xu hướng tăng giá thay vì sự dao động của
giá.
4. Nguyên nhân và tác động của lạm phát
a) Nguyên nhân của lạm phát
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học có nhiều nguyên nhân khác nhau để dẫn
đến lạm phát.
- Trong giai đoạn các nước còn đang áp dụng chế độ lưu thông tiền kim khí và đặc
biệt là vẫn thực hiện cơ chế tiền giấy khả hoán (loại tiền giấy có thể đổi trực tiếp ra vàng)
Thì theo quan điểm của K.Marx, ông cho rằng: “Việc phát hành tiền giấy phải
được giới hạn trong số lượng vàng (hay bạc) do tiền giấy tượng trưng mà lẽ ra phải lưu
thông thực sự”. Từ đó, cho thấy nếu phát hành tiền vượt quá lượng tiền vàng (bạc) cần
thiết thì tiền giấy sẽ bị mất giá, và lạm phát sẽ xảy ra khi trong lưu thông bị dư thừa quá
mức các dấu hiệu giá trị vượt quá lượng kim loại mà chúng đại diện trên danh nghĩa.
- Sau thế chiến thứ II, các nước chuyển sang giai đoạn lưu thông tiền giấy pháp
định. Việc phát hành tiền gần như tách rời cơ sở đảm bảo bằng vàng mà thường phát
hành để thõa mãn nhu cầu chi của nhà nước. Trước nạn lạm phát lan tràn đã xuất hiện
nhiều lý thuyết về lạm phát trong đó có thể kể đến:
+ Lý thuyết lạm phát giá cả: theo lý thuyết này lạm phát là sự tăng cao toàn bộ
giá cả hàng hóa, các nhà kinh tế M ỹ như G.F Luthringer, L.V Chandler, D.C Cline đã
tuyên bố: “ bất kỳ thời kỳ nào có mức giá tăng lên, và sự phát sinh điều thay đổi lâu dài
đó có tính chất chu kỳ hay không đều là thời kỳ lạm phát”
Thuyết lạm phát giá cả đã xoá nhòa sự khác biệt giữa lạm phát và giá cả tăng
lên, giá cả hàng hóa tăng lên do nhiều nguyên nhân không phải tất cả các trường hợp giá
Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Nhóm 09 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 K16
6

cả tăng đều là lạm phát mà cần khẳng định rằng giá cả hàng hóa đồng loạt tăng lên chỉ là
một trong những biểu hiện cơ bản của lạm phát.

Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Nhóm 09 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 K16
7

điều kiện nhất định nhà nước chủ trương dùng lạm phát như một công cụ để thực thi
chính sách phát triển kinh tế.
+ Những nguyên nhân khách quan đưa đến như: thiên tai, động đất hoặc nền
kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh, tình hình biến động của thị trường nhiên liệu trên thế
giới….
+ Ngoài ra, do những nguyên nhân chủ quan hay khách quan gây nên khủng
hoảng hệ thống chính trị, từ đó người dân bị mất lòng tin vào nhà nước họ không tiêu xài
hoặc đánh giá thấp giấy bạc mà nhà nước phát hành.
b) Tác động của lạm phát.
- Sự mất giá của các loại chứng khoán:
Cùng với sự tăng giá của các loại hàng hóa khác thì giá cả của các loại chứng
khoán khác bị sụt giảm nghiêm trọng. Việc mua công trái, mua tín phiếu là nhằm thu các
khoản lợi khi đáo hạn, nhưng vì giá trị của đồng tiền bị sụt giảm nghiêm trọng nên mọi
người không thích tích lũy theo hình thức mua công trái và tín phiều nữa mà chuyển sang
trữ vàng và ngoại tệ mạnh.
- Sự giảm giá của đồng bản tệ so với ngoại tệ và vàng:
Trong điều kiện mở rộng quan hệ quốc tế. Đồng ngoại tệ và vàng coi như thứ tiêu
chuẩn để đo lường sự mất giá của đồng bản tệ. Đồng bản tệ càng giảm giá so với vàng và
ngoại tệ bấy nhiêu thì nó càng tác động nâng giá hàng hóa lên bấy nhiêu. Lúc này công
chúng bán hàng hóa dựa trên cơ sở quy đổi ra vàng hoặc ngoại tệ để bán mà không căn
cứ vào tiền quốc gia nữa.
- Kích thích sản xuất, chống thất nghiệp trong điều kiện mức độ lạm phát thấp:
lạm phát trong điều kiện hiện đại còn là chính sách của các nước nhằm kích thích sản
xuất, chống thất nghiệp, bù đắp các chi phí thiếu hụt của ngân sách. Đôi khi lạm phát bị
những kẻ bóc lột lợi dụng để bóc lột nhiều hơn nữa những người làm công ăn lương. Bởi

pháp chính sách thuế sẽ không thay đổi kịp nên người có thu nhập tăng lên nhanh chóng
phải đóng thuế nhiều hơn. Nhà nước sẽ thu được nhiều thuế hơn còn công chúng thì bị
thiệt hại do phải đóng thuế cho nhà nước.
Lạm phát xảy ra thì vòng quay của tiền tăng rất nhanh làm cho lượng tiền trong
lưu thông bị dư thừa lớn, tốc độ lạm phát sẽ bị đẩy lên nhanh.
Khi tình hình lạm phát phát triển nhanh, giá cả tăng lên thường không giống nhau
giữa các nơi, các địa phương. Thông tin về giá không chính xác, quá trình mua bán trở
nên hỗn loạn vì mọi người luôn tìm nơi có giá thấp.
Nói chung khi xảy ra lạm phát không cân bằng và không dự đoán trước được thì sẽ
có tác hại về cả mặt hiệu quả và cả mặt phân phối lại thu nhập quốc dân.
- Như vậy, tác hại của lạm phát có thể tóm lại như sau:
+ Nếu lạm phát là cân bằng và dự đoán được thì không gây tác hại gì cả.
+ Nếu lạm phát là cân bằng nhưng không dự đoán trước được thì gây ra sự
phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư.
Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Nhóm 09 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 K16
9

+ Nếu lạm phát không cân bằng nhưng có dự đoán trước được thì không gây ra
tác hại đối với thu nhập quốc dân nhưng gây thiệt hại về hiệu quả kinh tế.
+ Nếu lạm phát không cân bằng mà cũng không dự đoàn trước được thì gây ra
thiệt hại về hiệu quả kinh tế và phân phối lại thu nhập quốc dân.

Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Nhóm 09 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 K16
10

CHƯƠNG II

mức 6,5% và Thái Lan 2,9%. Và khác biệt rõ rệt nhất giữa Việt Nam với các quốc gia có
Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Nhóm 09 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 K16
11

lạm phát thấp hơn, như Trung Quốc và Thái Lan, đó là tốc độ tăng cung tiền. Tính tới
cuối tháng 6 năm 2007, lượng tiền mặt trong lưu thông và tiền gửi ngân hàng ở Việt Nam
đã tăng tới 21,1% so với đầu năm. Con số tương ứng của Trung Quốc và Thái Lan lần
lượt là 10,0% và 1,4%.
Năm 2007 có thể nói là năm có độ “mở” của nền kinh tế Việt Nam trong rất lớn so
với nhiều nền kinh tế khác, nên bị tác động trực tiếp từ những biến động bên ngoài.
Trong khi đó, chúng ta chưa có hệ thống “van” điều chỉnh phù hợp với nền tảng kinh tế
mở như vậy. Thông thường, ở những nước có tiềm lực tài chính, tiềm lực kinh tế mạnh,
họ sẽ có nguồn dự trữ để trung hòa bớt những tác động trực tiếp hoặc chuyển sang thành
tác động gián tiếp. Tích trữ hàng hóa tại thời điểm giá thấp. Sau đó, khi giá thị trường
tăng cao thì tiêu dùng bằng quỹ dự trữ. Do đó với một nền kinh tế nhỏ, việc “mở cửa” là
tốt nhưng vấn đề là Việt Nam còn thiếu một hệ thống công cụ điều hành, điều này có thể
giải thích tại sao cả thế giới cùng chịu nhưng Việt Nam lại chịu tác động mạnh như vậy.
b. Tăng tiền trong lưu thông
Về mặt nguyên tắc, giá trị tính theo tiền của một mặt hàng luôn bằng lượng nhân
với giá. Nếu giá t rị tính theo tiền tăng lên, nhưng lượng hàng không tăng hay t ăng chậm
hơn, thì giá buộc phải tăng. Ta có thể hình dung GDP (sau khi loại bỏ yếu tố trượt giá) là
tổng sản lượng sản xuất ra trong năm để phục vụ tiêu dùng cuối cùng, đầu tư hay ngoại
thương. Còn mức cung tiền là tổng giá trị tính theo tiền. Mức cung tiền vượt GDP nhiều
lần thì lạm phát cao là điều không tránh khỏi.
Thực tế ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế liên tục và ở mức cao đòi hỏi lượng tiền
đưa vào lưu thông cũng phải tăng lên tương ứng. Tuy nhiên, khi chênh lệch giữa mức
tăng cung tiền và tăng tổng sản phẩm quốc gia (GDP) trở nên quá lớn thì áp lực lạm phát
sẽ nảy sinh Nhưng lạm phát bùng lên trong năm nay có thể còn bắt nguồn từ mức chênh

xuất khẩu và đấu tư. Trong 7 tháng đầu năm 2007, nhà nước tung ra 112.000 tỉ đồng
trong để hút 7 tỉ USD khỏi thị trường, điều này đẩy 1 khối lượng lớn tiền đồng vào lưu
Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Nhóm 09 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 K16
13

thông. Ước tính dự trữ ngoại tệ của VN năm nay lên tới gần 20 tỷ USD, tăng tới 9 tỷ
USD so với năm 2006 buộc NHNN phải mua vào dự trữ để ổn định tương đối tỉ giá hối
đoái có lợi cho xuất khẩu và đầu tư. Có thể nói dòng vốn nước ngoài vào nhiều gây áp
lực lạm phát là chuyện bình thường của một nền kinh tế mới nổi. Trong tương lai dòng
vốn đổ vào ngày càng tăng, quy mô thị trường tài chính ngày càng lớn.
c. Điều hành chính sách vĩ mô thiếu đồng bộ, bị động, khả năng dự báo hạn
chế
 Điều hành chính sách vĩ mô trong thời gian qua dường như thiếu đồng bộ và bị
động. Các nhà hoạch định chính sách không dự đoán được khả năng có thể xảy ra đối với
nền kinh tế, nhất là trong việc thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ.
 Một nguyên nhân nữa là điều hành chính sách tiền tệ không linh hoạt, trong khi
trên thế giới đồng USD mất giá thì tại VN vẫn duy trì chính sách giữ ổn định tỷ giá, giữ
nguyên lãi suất cơ bản tiền đồng, trong khi vốn nước ngoài đổ vào VN nhiều thì những
chính sách như vậy khiến VN trở thành điểm trũng đầu tư. Tuy nhiên, do không dự báo
sát diễn biến nên chúng ta chưa có những chính sách tốt để hấp thụ nguồn vốn đó. Kết
quả là nếu như 6 tháng đầu năm Ngân hàng NN tung VNĐ ra mua USD để tăng dự trữ
thì thời điểm này việc hạn chế mua USD vào lại đẩy thị trường vào cơn sốt căng thẳng về
lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
 Sau khi gia nhập WTO, chúng ta chủ trương hàng hóa VN phải tiếp cận giá thế
giới. Giá lên do chính sách Nhà nước thực hiện lộ trình giá thị trường đối với một số loại
vật tư đầu vào cơ bản của nền kinh tế. Thực hiện điều chỉnh giá theo cơ chế thị trường,
Chính phủ quyết định dùng biện pháp giảm thuế, bỏ qua các biện pháp khác. Khi tiến
hành giảm thuế nhập khẩu 20 mặt hàng để giảm giá, nhiều doanh nghiệp (DN) vẫn kêu

 Ban hành và thực thi một số chính sách thể hiện sự lúng túng trong điều hành như
việc điều chỉnh can thiệp vào giá bán xăng dầu vào tháng 5 năm nay của Bộ Thương mại
(cũ) cụ thể cho doanh nghiệp quyết định giá cả vào thời điểm không thích hợp. Phân tích
về khía cạnh chính trị trong nước đang có bầu cử quốc hội, trong khi đó trên thế giới tình
hình bất ổn chính trị tại Trung Đông đang căng thẳng và có rất nhiều dự báo khác nhau
về những cú sốc giá xăng dầu tiếp tục. Việc cho doanh nghiệp tự quyết giá xăng khi các
điều kiện đảm bảo như công cụ thị trường, giám sát, cấu trúc thị trường chưa hoàn thiện
dẫn đến việc khi có những cú sốc giá cả, muốn áp dụng các biện pháp hành chính lại là
rất khó. Việc này không những làm chậm hơn tiến trình tiến tới thị trường mà còn gây ra
những tác động không tốt về mặt kiềm chế giá cả cũng như tác động xã hội.
Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Nhóm 09 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 K16
15

Các bước trong phản ứng chính sách và những hậu quả của nó
kinh tế tăng trưởng bền vững mà tự thân nó còn góp phần chống lạm phát một cách hiệu
quả, thay vì chỉ ngóng vào các biện pháp "bơm", "hút", "thắt" trong cung tiền của Ngân
hàng Nhà nước và hậu quả là dồn mọi khó khăn lên ngân hàng thương mại và doanh
nghiệp vay vốn.
 Về mặt tiền tệ - tín dụng, cần khắc phục các hạn chế, bất cập trong năm trước để
dự báo đúng, dự báo sớm, tránh bị động, lúng túng, chậm trễ. Trong đó có một số biện
pháp đáng lưu ý.
 Chủ động thắt chặt và có lộ trình, kế hoạch đưa tiền ra để mua ngoại tệ và đặc
biệt là hình thức dùng tiền Việt để mua ngoại tệ một cách phù hợp, nhằm giữ phương tiện
thanh toán cả năm ở mức 22-24% so với cuối năm 2007. Hơn nữa, dư nợ tín dụng nên
kiềm chế ở mức 22-25%.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc năm trước đã tăng gấp đôi lên 10%, đầu năm nay tăng
thêm 1%, nhưng vẫn còn thấp hơn tỷ lệ 13,4% sau năm lần tăng trong năm 2007 của
Trung Quốc. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế 9% thì tốc độ tăng M 2 chỉ nên vào khoảng
trên dưới 20%; có thể còn phải tăng thấp hơn hoặc phải hút mạnh tiền vào hơn nữa để hạ
bớt tốc độ tăng đã quá cao trong các năm trước. Nói cách khác, cần phải tăng tỷ lệ dự trữ
bắt buộc lên 1-2 điểm phần trăm nữa để hãm tiền ra.
 Hai, để thu hút lượng ngoại tệ đang chảy mạnh vào nước ta và lượng ngoại tệ
trên thị trường, phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước, không chỉ là trái phiếu ngoại tệ
của Chính phủ, mà còn cho phép các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, có uy tín, có nhu cầu
ngoại tệ nhập khẩu phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước. Có thể áp dụng giải pháp
cho phép doanh nghiệp bán cổ phần bằng ngoại tệ. Đây là giải pháp có tác dụng về nhiều
mặt. Vừa có thể tiếp tục thu hút được ngoại tệ đã, đang và sẽ vào nước ta phục vụ yêu cầu
đầu tư tăng trưởng. Vừa thu hút được lượng ngoại tệ đang trôi nổi trên thị trường. Vừa
không phải đưa một lượng lớn tiền đồng ra mua ngoại tệ tạo ra sức ép lạm phát. Đây là
giải pháp có tác dụng kép: vừa hút được USD về, vừa tránh đưa tiền đồng ra lưu thông
tạo sức ép lạm phát, vừa ổn định được tỷ giá. Trung Quốc cũng đã áp dụng giải pháp này
và đã đạt kết quả tích cực: vừa tăng mạnh dự trữ (hiện đã lên đến 1.530 tỉ USD, lớn nhất
Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa


trường thế giới, kể cả các đồng nội tệ của các nước khu vực. Việc giảm giá 0,03% trong
năm 2007 của tỷ giá VND/USD là quá nhỏ. Mặt khác, 1 đô la tại Việt Nam có giá sức
mua tương đương với 3,4 đô la tại M ỹ. Ngoài ra, trong điều kiện Việt Nam còn nhập siêu
lớn, nợ nước ngoài còn cao thì tỷ giá tăng là bất lợi.
Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Nhóm 09 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 K16
18

Hướng tới là thay đổi cơ cấu của hàng xuất khẩu. Chúng ta không thể dựa mãi
vào xuất khẩu các mặt hàng nguyên liệu thô. Một trong những yếu tố quan trọng nhất là
“thay đổi cơ cấu sản xuất của Việt Nam, nơi xuất khẩu các sản phẩm thô chiếm tỷ trọng
rất lớn, tức là phần giá trị gia tăng thấp. Hiện nay xuất khẩu dầu thô, nông sản thực phẩm
và hàng gia công chiếm tỷ trọng quá lớn trong kim ngạch nhập khẩu. Muốn để tăng phần
này lên thì phần nguyên liệu phải ít đi để tăng phần giá trị gia tăng do người Việt Nam
tạo ra thì mới thay đổi được tương quan giữa xuất và nhập. Điều này đòi hỏi phải có một
chiến lược rất căn bản, tức chuyển dịch cơ cấu đầu tư sang phía những ngành dựa trên lợi
thế của Việt Nam cộng với giá trị gia tăng cao”.
Lạm phát của Việt Nam GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Nhóm 09 – Cao học Ngân hàng Đêm 2 K16
191. “Tài chính quốc tế” – TS. Trần Ngọc Thơ và TS. Nguyễn Ngọc Định – Khoa Tài
chính doanh nghiệp – Trường ĐH Kinh tế TP.HCM.
2.
http://www.gos.gov.vn

3. http://wwwsbv.gov.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status