-
0
-
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ÐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ÐỀ TÀI:
LIÊN MINH TIỀN TỆ CHÂU ÂU
Thành viên thực hiện:
Bùi Việt Cường (13)
Mẫn Thị Liên (40)
Nguyễn Thị Hồng Vân (90)
Lê Thị Hải Yến (93)
Phạm Thị Hoàng Yến (92)
Lớp Cao Học: Tài chính Ngân hàng 19A
Hà Nội, Tháng 10 năm 2013
-
2
-
LỜI MỞ ĐẦU
Ý tưởng hình thành một cộng đồng kinh tế thống nhất trên toàn lãnh thổ
Châu Âu với việc sử dụng một đồng tiền chung nhằm tăng cường hiệu quả kinh tế
của toàn khu vực đã bắt đầu xuất hiện vào năm 1957 cùng với việc thành lập
Cộng đồng kinh tế châu Âu theo hiệp ước Rome ( năm 1967 đổi tên thành Cộng
đồng châu Âu). Bước đầu tiên là sự ra đời của Hệ thống tiền tệ châu Âu ( EMS) và
đơn vị tiền tệ châu Âu ( ECU) năm 1979. Tuy nhiên, đồng ECU mới chỉ đóng vai
trò là một chỉ số nhằm hạn chế sự biến động của tỷ giá trong khu vực. Mục đích
hướng tới một thị trường châu Âu thống nhất được khẳng định trong đạo luật
châu Âu hợp nhất và được Nghị viện châu Âu thông qua năm 1987. Đó là cơ sở để
xóa bỏ ranh giới giữa các đồng tiền và ranh giới chính sách tiền tệ giữa các quốc
gia. Từ đó, thị trường châu Âu thống nhất bắt đầu có hiệu lực từ năm 1993. Tuy
nhiên, phải đến 7/2/1992, đồng tiền chung châu Âu EURO và Liên minh Kinh tế -
Tiền tệ mới chính thức ra đời theo hiệp ước Maastricht. Theo hiệp ước này, các
tiêu chuẩn tham gia khu vực đồng tiền chung, các chính sách ngoại giao và an
ninh khu vực cũng như thời gian biểu ra đời đồng EURO được xác định cụ thể.
Các nhà kinh tế cho rằng không phải ngẫu nhiên mà hiệp ước Maastricht
được ký kết vào thời điểm đầu năm 1992. Theo Antoine Gosset – Grainville và một
số nhà kinh tế khác, những sự kiện chính trị và các động lực kinh tế chín muồi đã
góp phần đẩy nhanh quá trình cụ thể hóa dự án đồng tiền chung châu Âu. Tiểu
luận dưới đây sẽ đi vào phân tích chi tiết quá trình hình thành và phát triển của
Liên minh tiền tệ châu Âu cũng như ưu nhược điểm của hình thức liên kết kinh tế
Quốc tế này.
trao đổi thống nhất được điều tiết bởi một chính sách tiền tệ thống nhất.
Đợt khủng hoảng cơ chế tỷ giá châu Âu vào năm 1992 - 1993 chỉ ra rằng :
trong điều kiện này mọi cơ chế điều chỉnh tỷ giá đều trở nên kém hiệu lực và
-
4
-
Grainville đã khẳng định " nếu không có đồng tiền chung duy nhất. thị trường
thống nhất sẽ trở thành một thị trường bất công nhất ".
Việc lưu hành một đồng tiền thống nhất cùng với việc xóa bỏ tỷ giá hối
đoái giữa các quốc gia thành viên tạo nên những động lực tiềm năng cho sự tăng
trưởng kinh tế trong khu vực. Bao gồm:
1. Tăng cường tính cạnh tranh trên các thị trường hàng hóa và thị trường
chứng khoán.
2. Tăng tổng cầu trên toàn lãnh thổ châu Âu ( do mức giá cả hàng hóa giảm,
phạm vi lựa chọn của người tiêu dùng tăng lên, mức lãi suất giảm làm cho
giá vốn đầu tư bình quân giảm.
3. Tạo nên môi trường đầu tư ổn định hơn với các mức rủi ro được giảm thấp
nhất.
4. Giảm chi phí giao dịch (chi phí giao dịch ngoại hối giữa các nước thành
viên – ước tính khoảng 0.4% GDP toàn Liên minh), tăng cường hiệu quả
kinh tế chung.
Việc thống nhất đồng tiền tệ thúc đẩy nhanh quá trình thống nhất kinh tế
trong toàn khu vực tạo ra một vị trí cạnh tranh mới cho cộng đồng Châu Âu trên
thị trường tiền tệ quốc tế. Sự khác biệt về tiền tệ giữa 15 quốc gia thành viên sẽ
được loại bỏ khi đồng EURO thực sự được sử dụng tạo nên một thị trường tiền tệ
khu vực thống nhất đủ mạnh để cạnh tranh với hai khu vực tiền tệ còn lại của thế
giới là đôla Mỹ và yên Nhật.
Delors đã lập ban soạn thảo báo cáo Delors, lên kế hoạch ba bước tiến tới thành
lập Liên Minh kinh tế và tiền tệ Châu Âu.
2.1.1 Giai đoạn 1
Bắt đầu từ 1/7/1990 và kết thúc ngày 31/12/1993.
Nội dung:
Thực hiện hiệp ước Maastricht: Hiệp ước Liên hiệp Châu Âu, hay còn gọi là Hiệp
ước Maastricht, ký ngày 7 tháng 12 năm 1991 tại Maastricht Hà Lan. Hiệp ước
Masstricht là sự sửa đổi bổ sung của Hiệp ước Rome (1957) về cải cách trong lĩnh
vực chính trị và kinh tế. Nó tạo các điều kiện pháp lý cần thiết để hình thành các tổ
chức nhằm thúc đẩy quá trình hình thành EMU, ví dụ cho phép hình hành NHTW
châu Âu (ECB). Hiệp ước cũng quy định những điều kiện cụ thể để một quốc gia
được coi là đủ tư cách gia nhập EMU. Giai đoạn này phải hoàn tất toàn bộ các
công việc chuẩn bị trước khi Hiệp ước Masstricht có hiệu lực. Cụ thể, các rào cản
-
6
-
còn lại đối với sự di chuyển vốn tự do giữa các nước trong Cộng đồng châu Âu và
giữa Cộng đồng và các nước thứ ba phải đã được dỡ bỏ. Các nước bắt đầu chú
trọng vào tiến trình hội nhập kinh tế, bước đầu áp dụng các chương trình hội nhập
nhiều năm với những mục tiêu cụ thể cho các biến số về lạm phát và ngân sách.
Các chương trình này chịu sự đánh giá của Hội đồng các Bộ trưởng Kinh tế và Tài
chính (ECOFIN) có mục tiêu là nhằm đảm bảo duy trì lạm phát thấp, tài chính nhà
nước vững mạnh và ổn định tỷ giá hối đoái giữa các nước thành viên - theo đúng
yêu cầu của Hiệp ước Masstricht, nhằm chuẩn bị cho việc phát hành đồng Euro
làm đồng tiền chung của Cộng đồng. Tóm lược lại, giai đoạn này bao gồm 2 nội
dung chính:
Thành lập liên minh kinh tế và tiền tệ vào cuối thập niên 1990, với một
bỏ phiếu quyết định việc thành viên nào sẽ áp dụng đồng Euro bắt đầu từ giai đoạn
3 và 11 nước thành viên đủ tiêu chuẩn đã được chọn. Tỷ giá chuyển đổi song
phương giữa các đồng tiền của các quốc gia thành viên được ấn định căn cứ vào
cơ chế tỷ giá của Hệ thống tiền tệ châu Âu ( Europian Moneytary System – EMS).
Đồng thời, Chủ tịch, Phó chủ tịch và Ban giám đốc điều hành của Ngân hàng
trung ương châu Âu ( Europian Central Bank - ECB) được chỉ định.
Tháng 6/1998, ECB được thành lập. ECB cùng các ngân hàng Trung ương
quốc gia hình thành nên hệ thống ngân hàng Trung ương châu Âu (ESCB). EMI
đã hoàn thành nhiệm vụ của nó và chuẩn bị ngừng hoạt động.
2. 1.3 Giai đoạn 3: Đồng Euro đi vào lưu thông
Bắt đầu ngày 1/1/1999. Liên minh tiền tệ châu Âu EMU bắt đầu đi vào hoạt
động cùng với việc thực hiện một chính sách tiền tệ thống nhất trong toàn khu
vực.
- Từ năm 1999 đến 2002 :Đây là giai đoạn quá độ. Đồng Euro trở thành đồng
tiền theo đúng nghĩa của nó và tỷ lệ chuyển đổi các đồng tiền quốc gia của các
nước thành viên áp dụng đồng Euro được ấn định không thay đổi. Các đồng
tiền quốc gia ban đầu sẽ lưu hành song song với đồng Euro.
-
8
-
- Đồng Euro sẽ thay thế đồng ECU với tỷ lệ 1:1.
- Một cơ chế tỷ giá mới - gọi là cơ chế tỷ giá 2, ERM2 - gắn đồng tiền các nước
chưa đủ điều kiện gia nhập với đồng Euro cũng sẽ đi vào hoạt động nhằm thúc
đẩy sự hội nhập của các nước chưa đủ điều kiện với các điều kiện kinh tế vĩ mô
của khu vực đồng Euro, đồng thời giúp đảm bảo sự ổn định của tỷ giá trong
Liên minh Châu Âu nói chung.
- Vào 1/1/2002, tiền giấy và tiền xu Euro chính thức được đưa vào lưu thông,
-Đồng EURO
được ban
hành.
-Thực hiện
chính sách
tiền tệ thống
nhất.
-ECB bắt đầu
hoạt động, các
-Thời hạn cuối
cùng cho sự
giới thiệu
đồng EURO
giấy và xu.
-Các hoạt
động bán lẻ
bắt đầu sử
dụng EURO
trên qui mô
lớn.
Tiền giấy và
xu bản địa
cùng tồn tại
song song với
tiền giấy và xu
EURO.
Đồng tiền của
các nước
thành viên bị
loại bỏ hoàn
phi thuế quan với nhau.
Tính đến ngày 1/7/1968, tất cả các hàng rào thuế quan về số lượng đối với
hàng hoá và dịch vụ xuất và nhập khẩu đã được dỡ bỏ, Việc xóa bỏ các
hàng rào phi thuế quan như các tiêu chuẩn về y tế, vệ sinh, an toàn, kỹ thuật
-
10
-
thì gặp nhiều khó khăn hơn do đó, dỡ bỏ các hàng rào này đòi hỏi phải phối
hợp nhiều chính sách và luật lệ chứ không chỉ đơn giản là cắt giảm thuế
như trường hợp các hàng rào thuế quan. Phải đến giữa những năm 1980,
Cộng đồng châu Âu mới đạt được những tiến bộ quan trọng trong lĩnh vực
này.
- Giai đoạn "thị trường chung" (ngoài việc tự do hóa thương mại, tự do hóa
dịch vụ, bảo hộ đầu tư, thúc đẩy thương mại điện tử, liên minh thuế quan còn cộng
thêm các yếu tố như tự do di chuyển các yếu tố sản xuất (vốn, lao động) giữa các
nước thành viên được coi là chính thức hoàn thành ngày 31/12/1992. Tuy nhiên,
kể cả cho tới ngày hôm nay, vẫn còn nhiều lĩnh vực như dịch vụ tài chính, năng
lượng, viễn thông cần được tiếp tục cải cách để thị trường của Liên minh châu
Âu thực sự là một thị trường chung.
2.2.2 Điều chỉnh kinh tế của các nước thành viên để hội nhập theo tiêu chí
thống nhất:
Hiệp ước Masstricht năm 1991 đã đề ra thời gian biểu chi tiết và những
điều kiện để các nước tham gia vào giai đoạn cuối của quá trình hội nhập tiền tệ
châu Âu.
Mục đích của hiệp ước Masstricht : nhằm hạn chế sự biến động của tỷ giá
hối đoái thực tế giữa các nước thành viên EMU và tránh khả năng một số nước thi
hành chính sách tài khoá lỏng, dẫn đến áp lực lạm phát trong toàn bộ liên minh.
sang phục vụ lợi ích của cả liên minh.
Như vậy, điều chỉnh kinh tế để hội nhập là một tiền đề quan trọng để tránh sự
bất ổn định về kinh tế vĩ mô và do đó, là một yêu cầu quan trọng trong giai đoạn
chuẩn bị cho sự ra đời của một đồng tiền chung.
2.2.3 Thiết lập một cơ chế liên kết tỷ giá
Nhìn lại quá trình phát triển của cơ chế liên kết tỷ giá ở châu Âu, chúng ta
có thể thấy cơ chế này đã trải qua ba giai đoạn lớn như sau:
Giai đoạn một bắt đầu từ khi thành lập Cộng đồng vào năm 1957 cho đến
khi thiết lập Hệ thống tiền tệ châu Âu năm 1979. Sự phối hợp trên lĩnh vực tỷ giá
hối đoái ở giai đoạn này nhìn chung còn lỏng lẻo, kể cả trong khuôn khổ Hệ
-
12
-
thống Bretton Woods cũng như cơ chế "Con rắn tiền tệ" của các nước châu Âu.
Trên thực tế, các nước đều đã nhận thấy nhu cầu phối hợp trong lĩnh vực tỷ giá
hối đoái cũng như chính sách tài chính và tiền tệ và đã thành lập một số uỷ ban
nhằm mục đích thúc đẩy các hoạt động này như Hội đồng các Bộ trưởng Tài
chính, Uỷ ban châu Âu, Hội đồng các thống đốc NHTW của Cộng đồng Tuy
nhiên, sau khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ và cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ
nhất nổ ra năm 1973, các nước đã không thể thống nhất được về một biện pháp đối
phó chung. Mỗi nước tự đưa ra chính sách tài khoá và tiền tệ riêng của mình để đối
phó và tỷ giá hối đoái càng trở nên bất ổn định. Cuối cùng, các nước áp dụng chính
sách kinh tế vĩ mô lỏng đã buộc phải rút lui khỏi cơ chế "Con rắn tiền tệ" và thả nổi
đồng tiền của mình.
Giai đoạn hai được đánh dấu bằng sự ra đời của Hệ thống tiền tệ châu Âu
và kéo dài đến khi xảy ra cuộc khủng hoảng cơ chế tỷ giá ERM vào năm 1992-
1993. Giai đoạn này, các nước châu Âu đã đạt được những thành tựu đáng kể
để tính toán mà còn được sử dụng làm giá trị trung tâm của cơ chế tiền tệ châu Âu, làm
phương tiện thanh toán trong các giao dịch giữa các NHTW trong Cộng đồng.
Ngày 1/1/1999 đồng Euro đã chính thức ra đời và tồn tại với đầy đủ các chức
năng của một đồng tiền, nó được thay thế cho đồng ECU với tỷ lệ 1:1 .
Mục tiêu quan trọng nhất của ECB là duy trì sự ổn định giá cả của toàn khu
vực đồng Euro, vì EU cho rằng sự ổn định giá cả sẽ là điều kiện tiên quyết để tạo ra
một môi trường ổn định để khuyến khích các hoạt động kinh tế, tạo công ăn việc làm,
và nói một cách tổng quát là tăng phúc lợi xã hội, do đó, sẽ góp phần đạt được các mục
tiêu chung của Cộng đồng.
Ngân hàng trung ương của liên minh và hệ thống các ngân hàng trung ương
quốc gia phải đảm bảo sự độc lập trong quá trình hoạch định và thực thi các nhiệm vụ
về chính sách tiền tệ của mình. Chỉ khi có được sự độc lập đó thì mục tiêu ổn định giá
cả mới có thể được thực hiện một cách hiệu quả. Trên thực tế, hệ thống ngân hàng
trung ương châu Âu đã và đang tồn tại độc lập, không chịu sức ép của một thế lực
chính trị nào nhằm phục vụ cho các mục tiêu và lợi ích ngắn hạn của họ.
-
14
-
III. L
ợi thế và chi phí của việc thống nhất đồng tiền chung Châu Âu
3.1 Lợi ích của việc thống nhất đồng tiền chung Châu Âu
Kích thích phát triển thương mại trong nội bộ EU. Việc dỡ bỏ hàng rào
thuế qua khi tham gia EU góp phần kích thích tăng khối lượng thương mại trong
nội bộ EU từ đó đẩy mạnh phồn vinh kinh tế của các nước thành viên. Khi Đồng
dịch trên thị trường cổ phiếu được hiệu quả, kích thích doanh số giao dịch trên thị
trường này. Do thị trường tài chính hoạt động hiệu quả, chính phủ và công ty giảm
được chi phí tiếp cận nguồn vốn trên thị trường tài chính.
Giá cả trở nên trung thực rõ ràng hơn, khi tất cả hàng hóa và dịch vụ
trong khu vực EU đều được yết giá bằng EURO gây ra khó khăn đối với các nhà
sản xuất mong muốn duy trì chênh lệch giá giữa các thị trường khác nhau. Quy
luật canh tranh buộc các công ty đa quốc gia phải áp dụng chính sách định giá
hàng hóa thống nhất trên cơ sở mức giá thấp nhất trong khu vực EU khiến cho
người tiêu dùng và DN được lợi, trong khi đó các công ty đa quốc gia giảm lợi
nhuận.
3.2 Chi phí của việc thống nhất đồng tiền chung Châu Âu
Mất quyền tự chủ trong hoạch định chính sách tiền tệ khi có đồng tiền
chung có 1 hệ thống tỷ giá cố định không điều chỉnh,việc ra đời đồng tiền
chung,không hạn chế trong chu chuyển vốn sẽ dẫn đến hình thành mức lãi suất
ngắn hạn thống nhất giữa các thành viên.Mức lãi suất này có thể sẽ ko thích hợp
với một số quốc gia,đây là tình trạng mất tự chủ trong chính sách tiền tệ của các
quốc gia thành viên.
Mất tự chủ trong chính sách kinh tế vĩ mô, các quốc gia có lựa chọn về
mức độ lạm phát-công ăn việc làm khác nhau.Có những nước chấp nhận mức lạm
phát cao để giải quyết vấn đề việc làm, cũng có nước muốn kìm hãm mức lạm
phát ở mức vừa phải và chấp nhận đánh đổi bằng tỷ lệ thất nghiệp cao hơn. Khi
tham gia liên minh tiền tệ một trong những yêu cầu đối với các thành viên là phải
áp dụng một chính sách kinh tễ vĩ mô nhằm bảo đảm tính thống nhất trong hoạt
động kinh tế. Điều này gây ra sự mất tự chủ của các nước thành viên khi nền kinh
tế rơi vào tình trạng lạm phát và thất nghiệp ở ngoài tầm kiểm soát. Tuy nhiên điều
-
16
những hiện tượng khủng hoảng, nhưng đã có khả năng giảm bớt đáng kể những
tiến trình bất lợi này.
Tại nhiều quốc gia, nhu cầu nội địa sụt giảm trong khi thâm hụt tài chính
ngày một trầm trọng hơn. Một số thành viên như Hi Lạp là một ví dụ nổi bật cho
những căng thẳng về tài chính. Ireland ở ngay phía sau. Những quốc gia này cần
phải cắt giảm thâm hụt tài chính trong bối cảnh suy thoái và chi phí lao động bị cắt
giảm nếu họ không phục hồi lại tính cạnh tranh trong Eurozone. Điều này sẽ gây
ra những thách thức rất lớn về kinh tế và xã hội cùng với khả năng xảy đến những
cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng.
Nói tóm lại, một liên minh tiền tệ nhất thiết sẽ đòi hỏi sự ra đời một đồng
tiền chung. Và để ra đời một đồng tiền như vậy, đòi hỏi phải có một quá trình
chuẩn bị như tồn tại tại một thể chế khu vực dưới dạng quỹ tiền tệ khu vực, một
đơn vị kế toán hay thanh toán chung cùa khu vực. Có như vậy, đồng tiền chung
mới có thể ra đời một cách suôn sẻ và hiệu quả -
18
-
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình Tài chính Quốc tế - PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến – Nhà
Xuất bản Thống Kê
Thời báo Kinh tế Việt Nam http://vneconomy.vn
http://vnexpress.net
http://hanoimoi.vn