Tiểu luận tài chính quốc tế: Khủng hoảng tài chính - Pdf 14

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

CHỦ ĐỀ 2B:
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

Lớp : Cao Học – Ngân hàng đêm 2
Khóa : 18
Nhóm : 4

Danh sách học viên thực hiện:
1. Huỳnh Trung Dũng
2. Nguyễn Hoàng Lan
3. Nguyễn Thế Lộc
4. Vũ Thị Nga
5. Nguyễn Văn Phúc
6. Nguyễn Văn Thanh
7. Võ Thụy Vy

Bất cứ sự sao chép nào phải được sự cho phép từ nhà xuất bản

Phát hành bởi:
European Enterprise Institute
c/o Kellen Europe
Avenue Jules Bordetlaan 142
1140 Brussels
Tel: +32 (0) 2 761 16 75
E-mail:
Web site: www.european-enterprise.org
EEI President and Co-President: Peter Jungen, Gunnar Hökmark
3

Hiệp hội kinh doanh Châu Âu là một tổ chức phi lợi nhuận, có trụ sở tại Bỉ.
Hiệp hội nhằm mục đích thúc đẩy tinh thần kinh doanh trong cộng đồng chính sách
Châu Âu và cung cấp một nền tảng cho các ý tưởng và triết lý của doanh nhân trên
khắp Châu Âu.
Các công trình nghiên cứu của EEI để tạo ra những điều kiện và tranh luận
trong mọi khía cạnh của chính sách có tác động đến điều kiện của tinh thần doanh
nhân, khuyến khích đổi mới, năng lực cạnh tranh và sự thịnh vượng kinh tế. EEI
không mang bất kỳ một ý kiến của tổ chức trong vấn đề cá nhân, nhưng tích cực
khuyến khích cuộc đối thoại tranh luận giữa các bên liên quan.
5
Thông điệp từ nhà xuất bản
Trong suốt 25 năm qua, nền kinh tế toàn cầu đã trải qua một sự tăng trưởng và
phát triển chưa từng thấy. Nhiều quốc gia trên thế giới đã thoát khỏi cảnh đói nghèo. Ý
nghĩa này gây một ấn tượng và chắc chắn đây là một điều gì đó để các nhà kinh tế
mong đợi. Sự thịnh vượng không phải là vấn đề chính của kinh tế học mà vấn đề về
giá trị lao động và các cơ hội xã hội.
Hàng triệu người dễ dàng đạt được những giá trị mới và cơ hội thật sự nhiều
đến mức mà ở năm 1968 hoặc thậm chí năm 1989 không ai tin rằng điều này có thể
xảy ra. Thế giới đã thay đổi và chúng ta không còn nghe nói về thế giới thứ ba bởi vì
không còn sự phân chia địa cầu chúng ta thành thế giới thứ ba, thứ hai và thứ nhất. Sự
hiện đại và thị trường tài chính toàn cầu đã thay đổi tất cả, mang lại những cơ hội đầu
tư và thương mại cho tất cả các dân tộc và khu vực mà trước đây hầu như không có cơ
hội tham gia.
Viễn cảnh này quan trọng khi chúng tôi thảo luận về khủng hoảng tài chính

Gunnar Hökmark
Đồng chủ tịch EEI và là thành viên của Nghị viện Châu Âu

Giới thiệu
Cuộc khủng hoảng tài chính ở M ỹ đã làm chao đảo nền kinh tế toàn cầu. Một số
những ngân hàng lớn nhất của thế giới đã bị phá sản và bị chính phủ kiểm soát. Thị
trường cổ phiếu sụp đổ khiến những nhà đầu tư nhỏ lo sợ bị mất vốn một khi các ngân
hàng không an toàn.
Ngày nay, nhiều nhà quan sát xem khủng hoảng như là một bằng chứng suy yếu
của thị trường tự do. Họ nghĩ rằng giải pháp nằm ở chỗ sự dụng nhiều hơn những quy
định và can thiệp của chính phủ trong thị trường tài chính. Đồng thời, có nhiều dấu
hiệu cho rằng cuộc khủng hoảng được tạo ra bởi các quy định và sự can thiệp của
chính phủ. Đây không phải là sự thất bại của thị truờng mà là sự thất bại của chính trị.
Cuộc khủng hoảng có nguồn gốc từ thị trường thế chấp của Hoa Kỳ, đặc biệt
trong việc cho vay “dưới chuẩn” tập trung vào những hộ gia đình có điều kiện tín dụng
7
yếu. Chính phủ Hoa Kỳ bước đầu làm cho những hộ gia đình có thu nhập thấp dễ dàng
sở hữu nhà thông qua tổ chức công như Fannie M ae and Freddie M ac.
Vẽ lên sự trợ cấp mạnh mẽ, Fannie M ae and Freddie Mac đã cấp bảo lãnh thế
chấp cho những cá nhân không đủ điều kiện cho vay bình thường. Đồng thời, những
quy định này cũng được đưa ra trong một số trường hợp các ngân hàng bắt buộc mở
rộng tín dụng cho những người vay mà tài sản không đảm bảo.
Không khác với cuộc khủng hoảng tài chính ở Thụy Điển những năm 1990 và
suy giảm kéo dài ở Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại có cái gốc từ chính sách
tiền tệ của chính phủ. Cục dự trữ Mỹ cắt giảm tỷ lệ dự trữ ở mức rất thấp sau năm
2001 để làm chậm suy giảm kinh tế, đã tạo ra bong bóng bất động sản.
Cuối cùng, các ngân hàng tin chắc rằng chính phủ sẵn sàng giải cứu họ, nếu
khủng hoảng xảy ra. Trong bối cảnh đó, các tổ chức tín dụng Mỹ mở rộng những
khoản cho vay rủi ro cao cho những người có điều kiện tín dụng thấp. Khi thị trường
nhà đất suy giảm, phần lớn các hộ gia đình không còn có khả năng trả hết những

được tạo lập bởi các chính trị gia Hoa Kỳ, đặc biệt là trong thị trường tài chính. Để
thành công, các chính trị gia Mỹ phải nhận ra được nguyên nhân chính của cuộc khủng
hoảng và đánh giá những cải cách tiếp theo. Cuộc khủng hoảng này không phải là kết
quả của nền kinh tế Hoa Kỳ đang quá tự do, mà nó đến từ những phần khác nhau nơi
mà nó chưa được tự do cho đến tận bây giờ. (The crisis is not a result of the US
economy being too free, but comes from the various parts where it has not been free
until now.)
Sẽ luôn có những suy giảm trong nền kinh tế và rủi ro của các bong bóng do thị
trường tạo ra. Nhưng xoáy sâu vào lý thuyết rất phổ biến của Karl Marx hoặc Jean-
Baptiste Colbert, cũng không có giải pháp cho bất kỳ điều này. Thị trường tự do là
điều kiện tạo nên sự thịnh vượng, và tự do thị trường tài chính là cần thiết trên toàn
cầu của những thập niên trước đây. Thật vậy, kể từ khi cuộc khủng hoảng này xảy ra,
vai trò tạo lập của chính phủ là rất lớn, nó cung cấp một tình thế mạnh mẽ để tự do hoá
thị trường tài chính.
Kiến thức này cũng quan trọng cho Châu Âu cân nhắc, ít nhiều bởi vì cuộc
khủng khoảng cũng tác động đến chúng ta giống như vậy. Chúng ta có thể học rất
nhiều điều từ những việc đã làm tốt và những việc chưa làm tốt trong chính sách kinh
9
tế M ỹ. Mục tiêu của nghiên cứu này để mô tả nguồn gốc và những giải pháp lâu dài
cho cuộc khủng hoảng hiện nay.

Johnny Munkhammar
Giám đốc nghiên cứu, Hiệp hội doanh nghiệp Châu Âu
Nima Sanandaji
Managing Director, Captus, chuyên gia cố vấn

Từ rủi ro thế chấp đến khủng hoảng tài chính toàn cầu
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Mỹ tăng trưởng rất nhanh và đầu tư
nước ngoài chảy mạnh vào trong nước. Trong khi đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED)
đã duy trì mức lãi suất liên bang rất thấp trong một thời gian dài. Năm 2003, lãi suất

tháng 3/2008, Bloomberg thống kê hơn 34.000 việc làm đã bị cắt giảm tại các ngân
hàng niêm yết ở phố Wall.
Trong tháng 4/2008, IMF liên tục cảnh báo rằng cuộc khủng hoảng tài chính có
thể dẫn tới một cuộc suy thoái toàn cầu. Tổ chức này thậm chí còn cho rằng đây có thể
là "cú sốc tài chính lớn nhất kể từ cuộc Đại khủng hoảng 1930".
Cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn ở M ỹ đã trở thành một vấn đề
toàn cầu. Trên khắp thế giới, những khách hàng lớn, nhỏ gửi tiết kiệm tại ngân hàng và
các nhà đầu tư bắt đầu sợ sẽ mất đi tài sản. Một số các ngân hàng nổi tiếng hàng đầu
thế giới bị phá sản, hoặc được mua lại bởi các ngân hàng khác, hoặc bị Chính phủ các
nước chi tiền mua lại nhằm nắm quyền kiểm soát, hoặc được cứu bởi các tổ chức tín
dụng công. Những tên tuổi này bao gồm các tổ chức nổi tiếng như Bear Sterns,
Merrill Lynch đến Washington Mutual với bề dày 119 năm tuổi đến Northern Rock,
Bradford & Bing và HBOS tại Vương quốc Anh.
Trên quy mô quốc tế, người ta bắt đầu hoang mang về khả năng phá sản dây
chuyền của các ngân hàng, đó cũng là lý do vì sao các ngân hàng đang kín đáo cho vay
để hỗ trợ lẫn nhau. Vì các ngân hàng đang phụ thuộc lẫn nhau cả về các khoản vay và
cho vay, nên ngay cả những tổ chức tín dụng còn sống sót cũng đang trong tình thế
cực kỳ khó khăn.
Chính phủ Mỹ đã chi ra gói giải cứu trị giá 700 tỷ đô la để bình ổn thị trường và
bơm tiền vào các ngân hàng, cho họ một biên lãi suất cho các khoản vay tái tục. Phần
11
vốn đó một phần dùng để mua lại các khoản nợ xấu, chẳng hạn như khoản vay có thế
chấp ở các ngân hàng.
Tại châu Âu, với các biện pháp khác nhau - nhưng với mục đích tương tự - đã
được áp dụng. Chính phủ đã cam kết bảo lãnh cho các khoản tiền gửi ở các ngân hàng
ở một số nước. Tại Vương quốc Anh, Chính phủ đã hoán đổi nguồn vốn của các ngân
hàng thành vốn chủ sở hữu, tạo thuận lợi cho việc trả lại của tiền đóng thuế của người
dân trong tương lai - như là trường hợp tại Thụy Điển vào năm 1992.
Có lẽ đặc điểm của cuộc khủng hoảng này là nó đã được biết trước nhưng
không thể tránh khỏi. Trong thực tế, một số các chuyên gia nhìn thấy sự phát triển này

thế chấp là do họ cũng được sử dụng các khoản trợ cấp để mở rộng hoạt động. Năm
1996, Văn phòng Ngân sách Quốc hội đã nghiên cứu cho thấy Fannie M ae và Freddie
Mac đã nhận được khoảng 6.5 tỷ đô la trợ cấp vào năm 1995. Cả hai đều giữ hơn 40%
nguồn vốn này, thay vì sử dụng chúng để trợ cấp thế chấp.
Không ngạc nhiên vì các công ty rất thích như vậy do lợi nhuận biên lớn vì chi
phí vốn nhỏ. Trong năm, một cuộc khảo sát từ Cục Kho bạc Mỹ cũng khẳng định điều
này. Fannie M ae. Và Freddie M ac không chỉ được hưởng lợi từ các khoản trợ cấp của
chính phủ. Các tổ chức trong lĩnh vực tài chính nhận thức rõ ràng chính phủ liên bang
chống lưng cho các tổ chức này và họ sẽ rất không hài lòng khi hai tổ chức này sụp đổ
- giả thuyết đã được chứng minh vào ngày 07 tháng 9 năm 2008.
Lợi nhuận thì tư nhân hóa và xã hội tổn thất. Những lợi thế do các chính trị gia
tạo ra cho Fannie M ae và Freddie M ac đã làm cho chúng phát triển nhanh chóng và
mở rộng ra các tổ chức tín dụng trên thị trường tự do. Tháng 7 năm 2008 tờ New York
Times thông tin rằng hai 2 tổ chức trên đã cấp hoặc cam kết tài trợ khoảng một nửa thị
trường thế chấp, đại diện cho 12.000 tỷ đô la Mỹ.
Fannie Mae và Freddie Mac đã được nói đến đã làm gia tăng rủi ro trên thị
trường thế chấp theo ba cách:
- Tiền thuế thông qua kênh Fannie Mae và Freddie Mac để khuyến khích những
khoản vay có rủi ro cao.
- Mặc nhiên người ta ngầm hiểu rằng chính phủ sẽ đứng sau lưng để cứu Fannie
Mae và Freddie Mac trong trường hợp có khủng hoảng, chính vì vậy nó đã tiếp tục
kích thích rủi ro của thị trường qua hành vi.
13
- Các tổ chức tín dụng đã đông đúc bởi Fannie M ae và Freddie Mac, do vai trò
chi phối tạo ra những sai lầm chết người của họ
Ngoài Fannie Mae và Freddie Mac, có những ngân hàng cho vay nhà liên bang ở Hoa
Kỳ. Chúng được tạo ra sau khi khủng hoảng, và cũng như Fannie Mae và Freddie
Mac, họ là các tổ chức tín dụng được tài trợ bởi thuế. Các ngân hàng nhà liên bang cho
các ngân hàng khác vay đổi lại, các ngân hàng cung cấp các khoản thế chấp cho các cá
nhân. Họ sử dụng trợ cấp thuế để giảm chi phí thế chấp và như vậy cũng đã góp phần

đưa đến tăng đầu cơ mua nhà đối với những hộ dưới chuẩn và thu nhập thấp”, đáp lại
việc thắt chặt từ chính quyến Clinton.
Nhưng cũng có sự ủng hộ cho các chính sách này từ bên trong khu vực tài
chính tư nhân. Ngân hàng tư nhân thấy rằng khả năng của việc mở rộng thị phần của
họ đối với những điều kiện tín dụng thấp. Khoản cho vay mà thông thường có thể quá
rủi ro trở nên có lợi nhuận một khi họ được tài trợ bởi tiền thuế và được cam kết tài trợ
bởi các tổ chức được chính phủ bao cấp. Tuy nhiên, 9 năm qua nó đã nhận ra rằng
chính sách xã hội như thế nguy hiểm như thế nào. Một bài báo tương tự lưu ý Fannie
Mae trong vai trò mới đã tạo ra nhiều rủi ro hơn trong lĩnh vực tài chính như thế nào,
mà có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng trong suy thoái kinh tế
Vào những năm của thập kỷ 80, thật là nguy hiểm khi chính phủ ra tay giải cứu
các khu vực tài chính. Peter.J.Wallison của học viện tổ chức Mỹ và dự báo tài chính,
cảnh báo người đọc:”nếu các định chế tài chính bị phá sản [do các khoản vay dưới
chuẩn], chính phủ sẽ tham gia và giải cứu chúng”. Wallison tiếp tục phát triển quan
điểm của mình về khủng hoảng mà ông ta dự báo. Năm 2001, ông ta biên tập 1 quyển
sách về rất nhiều vấn đề tạo ra bởi Fannie Mae và Freddie Mac trong hệ thống tài
chính M ỹ. Ba năm sau, ông ta xuất bản một quyển sách có tên là Tư nhân hoá Fannie
Mae và Fredie Mac và Ngân hàng cho vay mua nhà liên bang- Tại sao và như thế nào,
đồng tác giả với Thomas A.Stanton và Bert Ely.
Các tác giả đã rất rõ ràng trong những cảnh báo đối với đọc giả lưu ý đặc biệt
Fannie Mae và Freddie Mac, nhưng ngân hàng cho vay mua nhà liên bang đã lơ đi một
khủng hoảng trong tương lai: “Chính phủ đã hỗ trợ các công ty trong phân phối thị
trường nhà ở rất ít để chất lượng của hệ thống tài chính M ỹ, nhưng tạo ra rủi ro cho
những người nộp thuế và nền kinh tế khi cả một hệ thống không thể giải quyết bởi quy
định”
15
Được chú ý bởi nhà kinh tế Thomas Sowel, N.Gregory M ankiw (Chủ tịch hội
đồng tư vấn kinh tế của Tổng thống Mỹ) cảnh báo trong năm 2004 khu vực tài chính
mong chính phủ giải cứu các định chế tài chính trong trường hợp có khủng hoảng.
Mankiw nhận ra rằng điều này tạo ra “thúc đẩy cho các công ty chấp nhận rủi ro tương

tạo ra sự tiện lợi cho thị trường thế chấp thông qua hoạt động cho vay của họ là quá
mức so với thông thường
Cuối cùng ông ta lưu ý rằng việc chủ tịch của Freddie Mac trong năm 1989 tuyên bố
trước quốc hội Mỹ rằng có sự bảo hiểm rủi ro các hoạt động của công ty trước khi nó
phát triển rộng ra. Sự thay đổi này sau năm 1989 khi các công ty bị kiểm soát bởi sự sở
hữu của cổ đông tư nhân, những người sử dụng mối quan hệ gần gũi với chính phủ để
mở rộng hoạt động của họ.
Có lẽ sự phê phán mạnh mẽ nhất, đối với các chính sách gây ra khủng hoảng và
chính sách tài chính (mà Greenspan chịu trách nhiệm lớn) khuyến khích dẫn đến gian
lận cho vay từ các nhà quan sát một thị trường thân thiện. Tổng thống tiền nhiệm ứng
cử Ron Paul và nhóm cố vấn thị trường tự do như Viện Cato và Viện Mises đã chỉ
trích mạnh mẽ hành động của Đảng dân chủ cũng như Đảng Cộng hòa thời gian gần
đây.
Trong năm 2005, LewRockwell.com (là một trong những webzines nổi tiếng
với những hồ sơ công bố độc lập và liên kết chặt chẽ với viện M ises) đã công bố bài
diễn văn của Ron Paul trước Quốc hội Hoa kỳ, nơi ông cảnh bảo cuộc khủng hoảng
sắp tới.
“Tôi hy vọng rằng các đồng nghiệp của tôi cùng tôi bảo vệ những người nộp thuế từ
việc phải giải cứu Fannie Mae và Fredie Mac khi bong bóng cho vay mua nhà sụp
đổ”
Các phê bình gay gắt cũng nhắm vào chính quyền Tổng thống Bush và cả hai đảng
Dân chủ và Cộng hòa, các thành viên của Quốc hội về việc đã quá hào phóng trong chi
tiêu tiền đóng thuế của người dân.
Vậy thì, trước khi cuộc khủng hoảng lan rộng, Chủ tịch Cục dự trữ liên bang
Mỹ, cố vấn kinh tế của Tổng thống và một chuyên gia trên thị trường thế chấp phải
đánh giá 1 cách cẩn thận tại sao chính sách chính phủ có thể dẫn đến 1 cuộc khủng
hoảng tài chính và xác định sự kết hợp như thế nào đã mở đường cho lợi nhuận tư
nhân và tổn thất xã hội.Trên thực tế, một sự thay đổi chính trị sẽ tác động hoàn toàn
17
lên những vấn đề được tạo ra bởi một chính sách tiền tệ trợ cấp cho vay kết hợp với sự

18
Sau đó giải pháp không cơ bản vấn đề bơm tài trợ vào thị trường thế chấp đang
gia tăng sự liều lĩnh 1 cách nguy hiểm, thêm vào việc chính phủ là người bảo lãnh cho
Fannie Mae và Freddie Mac càng thúc đẩy cho vay có rủi ro tăng. Ngay cả một nỗ lực
nhỏ để điều tiết cũng đã bị ngưng lại bởi Quốc hội khi nó gặp phải sự phản đổi của xã
hội vì những hộ gia đình có thu nhập thấp mua nhà dễ dàng hơn.
Một lý do quan trọng nữa giải thích tại sao Fannie Mae và Freddie Mac có thể
tiếp tục làm bất kể rủi ro là sự can thiệp của chính phủ làm gia tăng những rủi ro trên
thị trường thế chấp, những rủi ro này không hoàn toàn là do các chính trị gia tại thời
điểm nền kinh tế Mỹ đang phát triển 1 cách nhanh chóng.
Tuy nhiên Greenspan, chủ tịch của Fed, được Đảng Dân chủ và Đảng Cộng
Hòa đánh giá là một nhà kinh tế xuất sắc, ngay cả khi những nhận xét của ông bị thờ ơ.
Khi nền kinh tế đang vận hành tốt, các nhà chính trị quan tâm nhiều hơn việc đạt được
những mục tiêu chính sách xã hội trong ngắn hạn hơn là ngăn ngừa một cuộc khủng
hoảng tiềm tàng.
Cũng có thể do sự thiếu hiểu biết tầm quan trọng của việc không vận dụng định
lượng các biến rủi ro thị trường, đặc biệt khi có bàn tay tác động của chính phủ làm gia
tăng mạnh mẽ rủi ro.
Cuối cùng, một giải thích quan trọng, đó là Fannie Mea và Freddie Mac là
những tổ chức đã chi tiêu đáng kể ảnh hưởng đến các quyết định của chính trường Mỹ
- ví dụ những tổ chức này đã dẫn đầu trong quyên góp cho chiến dịch tranh cử của
Obama – điều đó có thể giúp giải thích rằng họ có khả năng tăng trưởng bằng những
chính sách đặc biệt và trợ cấp thuế.
Vì vậy việc chính quyền Bush cố gắng kiểm soát Fannie Mac và Freddie Mac
trong năm 2003 bằng những bằng chứng không được làm sáng tỏ là bằng chứng của
rủi ro có thể nhìn thấy trước. Đề xuất cải cách không có sức mạnh hiệu quả và bản
thân Bush cũng thông qua kênh chính sách xã hội để thực hiện sự can thiệp của chính
phủ vào thị trường thế chấp. Trong bài diễn văn có giá trị vào mùa hè năm 2002, Bush
tuyên bố:
“Chúng ta cần hơn 5.5 triệu nhà được sở hữu đến năm 2010- triệu là tối thiểu số nhà

Theo biên tập Aftonbladet của tờ nhật báo lớn nhất ở Scandinavia, cuộc khủng
hoảng tài chính hoàn toàn có thể đổ lỗi cho sự tự do kinh tế, và chỉ ra rằng thị trường
tự do cơ bản là không bền vững. Bài báo trích dẫn tác phẩm "Khủng hoảng tài chính
của chủ nghĩa Marx" đã chứng minh quan điểm của hệ tư tưởng đối lập trong việc giải
thích cuộc khủng hoảng.
20
Thực tế là cuộc khủng hoảng ở M ỹ là kết quả của sự can thiệp quá sâu của
chính phủ vào các mục tiêu chính sách xã hội mà phần lớn các chính sách này không
được thảo luận bởi những người coi nó như là một bằng chứng của sự sụp đổ chủ
nghĩa tư bản. Hơn nữa, cơn khủng hoảng này được coi là hậu quả của lòng tham: mọi
thứ ở Mỹ từ chính sách chăm sóc y tế, giáo dục cho đến mức thuế bị cáo buộc là quá
tự do.
Chuyên gia Peter J. Wallison - người mà trong năm 1999 đã nhìn thấy trước
được sự can thiệp của chính phủ vào thị trường thế chấp bất động sản có thể gây ra
một cuộc khủng hoảng trong tương lai, đồn thời viết hai cuốn sách về rủi ro mà đại
diện là những hoạt động của Fannie Mae và Freddie Mac - trao đổi ý kiến với một
đồng nghiệp rằng hoàn toàn là phi lý khi đổ lỗi cuộc khủng hoảng là do thiếu các quy
định.
Trong ba thập kỷ qua đã có sự bãi bỏ các quy định quan trọng của nền kinh tế
Mỹ, nhưng không phải trong lĩnh vực tài chính:
"Hầu như mọi điều luật về tài chính, chẳng hạn như Cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên
bang, Đạo luật Cải cách 1991 - được thông qua sau vụ sụp đổ tiền tiết kiệm và cho vay
ở cuối thập niên 1980 - đã thắt chặt đáng kể các quy định của ngân hàng ".
Nhà bình luận tự do Johan Norberg hỏi trên tờ Swedish daily Expressen:
"Chúng ta không nên bắt đầu một cuộc nghiên cứu hàng chục ngàn trang các quy định
đã tồn tại và những thứ mà 12.190 người đã dành tất cả thời gian chỉ để điều chỉnh thị
trường tài chính ở mức độ liên bang và những gì họ đã làm gì khi xảy ra khủng
hoảng? Và rồi chúng ta sẽ thấy rằng họ đã làm thổi phồng quả bong bóng, ít nhất thì
cũng hăm hở như những người khác. Cái khác biệt duy nhất là họ đã có một “cái bơm”
lớn hơn".

hành động của họ, tác động thị trường tín dụng và quản lý dòng tiền tệ. Trên cấp độ
quốc tế, một loạt các tổ chức điều tiết thị trường tài chính như: IMF, Ngân hàng thế
giới và Ngân hàng thanh toán quốc tế.
Một số quy định và các hình thức can thiệp của chính phủ vào thị trường tài
chính nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro xảy ra, nhưng ngược lại (chẳng hạn như cuộc
khủng hoảng thế chấp Mỹ) có xu hướng gia tăng rủi ro.

22
Trong thời gian khủng hoảng thì rất dễ dàng để đòi hỏi nhiều điều luật hơn. Tuy
nhiên, rất ít người am hiểu cuộc khủng hoảng thế chấp Mỹ sẽ đồng ý với sự sáng suốt
trong việc ép buộc các ngân hàng bằng sắc lệnh để cho các hộ gia đình thu nhập thấp
với mức đánh giá tín dụng thấp vay tiền, hoặc bằng trợ cấp các khoản vay rủi ro cao
thông qua lãi suất hoặc các tổ chức tín dụng được chính phủ hậu thuẫn. Ngược lại,
ngày nay các quy định hạn chế rủi ro của thị trường tài chính dường như một giải pháp
hấp dẫn đối với nhiều người.
Tuy nhiên, vì một số lý do, chúng ta cần phải thận trọng hơn về việc kiểm soát
quá đà thị trường tài chính. Về bản chất thì thị trường tự do là nền tảng tạo ra sự thịnh
vượng trên toàn thế giới. Các thị trường tài chính tự do tương đối đã đóng một vai trò
quyết định trong việc tạo ra khả năng phát triển kinh tế trên toàn thế giới. Các nghiên
cứu đã xác minh mối liên kết giữa mức độ cạnh tranh và tình trạng mở cửa trong khu
vực tài chính với sự tăng trưởng kinh tế của một nước cụ thể, mà cũng được củng cố
bởi hiệu quả toàn cầu hóa trong khu vực tài chính.
Trong những năm gần đây, khi thị trường tự do đã lan sang các nước xã hội chủ
nghĩa trước đây của Đông Âu, cũng như Trung Quốc, Việt Nam và Ấn Độ, thì thị
trường tài chính đã có một vai trò quyết định kéo hàng trăm triệu người dân thoát khỏi
đói nghèo. Khi thị trường bị điều chỉnh, họ có xu hướng làm việc kém hơn, bài học mà
cuộc khủng hoảng Hoa Kỳ cho thấy rõ ràng. Làm cho thị trường không có rủi ro nghĩa
là lấy đi năng lực tạo ra của cải của họ.
Nếu không có sự bãi bỏ quy định của thị trường tài chính được trong những
năm 1980, chúng ta sẽ không được hưởng lợi từ đặc trưng rõ ràng của toàn cầu hóa:

tổ chức vận động hành lang quy mô lớn. Đó là một yếu tố ấn định thị trường hoạt động
như trên thực tế, đi ngược lại các điều luật mà chính phủ cho là hoàn hảo trên lý
thuyết. Có một yếu tố khác để cân nhắc xem hệ thống quản lý mang tính chính trị thực
sự có xu hướng hoạt động như thế nào.
Các thị trường đều không hoàn hảo, và hiện tượng nóng bỏng của thị trường đôi
khi có thể xảy ra, và cũng giống như trong vài trường hợp các nhà đầu tư có thể quá
thận trọng trong việc đầu tư vốn của mình. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng
các chính trị gia nên can thiệp để cải thiện thị trường vì quá trình quản lý mang tính
chính trị thường sử dụng các thông tin tệ hơn và dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng
hơn là việc quản lý dựa trện cơ sở thị trường. Luôn luôn có những biến động trên thị
trường tự do, nhưng sự can thiệp chính trị sẽ tạo ra cuộc khủng hoảng lớn.
24
Các chính trị gia rõ ràng có vai trò nhất định trong khu vực tài chính thông qua
việc duy trì hệ thống tiền tệ theo đúng chức năng của nó, tạo ra các hệ thống giao dịch
điện tử qua đó các giao dịch được thực hiện, điều tiết sự tuân thủ theo hợp đồng,…
Khi cuộc khủng hoảng diễn ra, có nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề này với màu sắc
chính trị - bởi vì những thất bại trên thị trường tài chính có thể làm cho toàn bộ nền
kinh tế ngừng trệ. Nhưng cũng vào thời điểm đó, luôn tồn tại rủi ro: khu vực tài chính
nhận ra thực tế rằng chính phủ sẽ cung cấp một
gói cứu trợ
cho cuộc khủng hoảng tiếp
theo và do đó tiếp tục phóng đại hành động rủi ro của nó.
Việc phân tích gắn liền với hệ thống pháp chế tương ứng áp dụng cho thị
trường tài chính rất phức tạp, nhưng sẽ là bất hợp lý nếu như bắt đầu với một tầm nhìn
sai lầm của thế giới rằng – bỏ qua thực tế là nước Mỹ đã thực sự có thị trường tài
chính được điều tiết một cách chặt chẽ, và rằng hệ thống pháp chế cũng như sự can
thiệp của chính phủ đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng hiện nay – và vì vậy họ kêu
gọi thêm nữa những hệ thống pháp chế cũng như sự can thiệp của chính phủ để giải
quyết vấn đề này.
Xét một cách tổng thể, tại nước M ỹ cũng như các nước khác và trên toàn thế

hiện nay là những lời buộc tội dành cho sự hám lợi và những yêu sách ở đó sự phá vỡ
các luật lệ đã gây ra cuộc khủng hoảng, ở đó phố Walll đã thực sự hủy hoại phố hệ
thống tài chính của Mỹ. Điều này có ảnh hưởng tới hệ thống chính trị trước những
cuộc bầu cử sắp tới. Vì vậy, rất có thể chính quyền mới của Washington DC sẽ tiếp
tiếp giảm bớt sự tự do của nền kinh tế ở nước Mỹ.
Sự sụt giảm hiện nay của các thị trường chứng khoán của M ỹ cần phải được
xem xét trong mối tương quan với sự tăng trưởng mạnh mẽ của các thị trường tài
chính diễn ra trong những năm gần đây. Tổng lượng tiền tiết kiệm và tài sản của các tổ
chức phi chính phủ cũng như của các hộ gia đình trừ đi số nợ của nền kinh tế Mỹ trong
quý 2 đã lên đến con số gần 56 nghìn tỷ đô. Con số này tương ứng với khoảng 190
nghìn đô (tương đương 1.3 triệu curon Thụy Điển) trên một đầu người. Từ năm 2002
đến 2007, tiền tiết kiệm và giá trị tài sản đã gia tăng gần 50%. Lượng gia tăng này có
thể so sánh với khoảng 700 tỷ đô, giá trị bằng chính gói cứu trợ mà chính phủ Mỹ đã
quyết định tung ra để giải cứu nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng. 700 tỷ đô tất nhiên
là một số tiền không nhỏ nhưng khá quan trọng phải nhớ rằng việc gia tăng của cải
trong những năm gần đây và sự gia tăng trong hầu hết các lĩnh vực khác cần phải được
duy trì sau cuộc khủng hoảng hiện tại.
Nền kinh tế M ỹ liên tục tận hưởng những sự gia tăng về năng suất lao động. Sự
gia tăng hàng năm về năng suất lao động từ năm 2002 đến 2007 tính bình quân đạt
2,5%. Chỉ số này cao hơn chỉ số gia tăng bình quân hàng năm 2,1% trong giai đoạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status