Khủng hoảng tài chính Nhóm 91
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
Môn học
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đề Tài: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
HỆN NAY
Nhóm thực hiện: nhóm 9
MỤC LỤC
Phần 1 - Toàn cảnh cuộc khủng hoảng tài chính 2007 -2008
1.1- Diễn tiến của cuộc khủng hoảng.
1.2- Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng.
1.2.1 – Cho vay dưới chuẩn
1.2.2 – Bong bóng thị trường bất động sản
1.2.3 – Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
1.2.4 - Khủng hoảng niềm tin
1.2.5 – Tâm lý ỷ lại
1.2.6 – Mua bán khống
1.3- Tác động của cuộc khủng hoảng.
1.3.1 – Tác động đến với Mỹ
1.3.2 – Tác động đến với các quốc gia khác
1.4- Phản ứng của Mỹ và các quốc gia.
1.4.1 – Phản ứng của chính phủ Mỹ
1.4.2 – Phản ứng của các khu vực, các quốc gia khác
Phần 2 - Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đến Việt Nam.
2.1- Tác động đến Việt Nam
2.2- Các chính sách ngăn chặn suy giảm và kích thích kinh tế của Việt Nam
Phần 3 – Kết luận
Tài liệu tham khảo
ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi
quá lớn.
16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan
Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu.
29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản
thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ
xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản.
Khủng hoảng tài chính Nhóm 95 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng
IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới
nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày.
31/7/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6
tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD. Deutsche Bank trở thành
một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu.
7/9/2008: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm
soát hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac nhằm hỗ trợ thị
trường nhà đất Mỹ.
11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại
chính mình. Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%.
14/9/208: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cp
sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers.
15/9/2008: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở
cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001. Lehman
Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bị Bank of
America Corp thâu tóm; American International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế
nhất trong lịch sử Mỹ.
Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã
đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD.
29/9/2008: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài
chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt
giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay.
1/10/2008: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ
lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế
thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (dự tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD);
tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000
USD lên 250.000 USD.
3/10/2008: Sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu
lần thứ hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262-171. Không đầy 2 giờ sau
đó, Tổng thống Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế hoạch thành đạo luật.
8/10/2008: Trong một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ, Cục dự trữ liên
bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 4 ngân hàng trung ương các
nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất nhằm giảm ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc
khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái năm 1930.
14/10/2008: Chính phủ Mỹ công bố dành 250 tỉ USD trong gói giải cứu 700
tỉ USD để rót vào các ngân hàng lớn, đổi lại sẽ nhận được cổ phiếu ưu đãi của các ngân
hàng này. Đây là bước thay đổi lớn trong chiến lược giải cứu, vì trong kế hoạch ban đầu
Chính phủ vẫn hướng đến giải pháp mua lại nợ xấu ngân hàng, không mua cổ phần.
Khủng hoảng tài chính Nhóm 97 25/11/2008 : Cục Dự trữ liên bang Mỹ công bố sẽ sử dụng khoảng 800 tỷ
USD để cải thiện thị trường tín dụng cho những người mua nhà, người tiêu dùng và các
Khủng hoảng tài chính Nhóm 98 Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần này là
sự suy sụp của thị trường bất động sản. Ở Mỹ, hầu hết người dân khi mua nhà là phải
vay tiền ngân hàng và trả lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Do đó, có một
sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản.
Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên
cao, khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá
nhà xuống thấp.
Có 3 yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị trường bất động sản:
- Thứ nhất, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dự
trữ liên bang Mỹ (FED) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũa hạ
lãi suất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay mua nhà do
các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản
của FED, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc vào lãi suất cơ
bản). Vào giữa năm 2000, lãi suất chủ đạo (lãi suất cơ bản) của FED là trên 6%/năm
nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, đến giữa 2003 thì chỉ còn 1%/năm.
- Thứ hai, về phương diện sở hữu nhà ở, chính sách chung của chính phủ lúc
bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân nghèo và các nhóm người dân
da màu được vay tiền dễ dàng hơn từ các định chế tài chính để mua nhà ở. Khoản cho
vay này phần lớn được thể hiện thông qua hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là
Fannie Mae và Pređie Mac. Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản
bằng cách mua lại các khoản cho vay của ngân hàng thương mại, biến chúng thành các
loại chứng tứ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortage-backed securities –
MBS), rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở phố Wall, đặc biết là các ngân hàng đầu tư
khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch.
2001: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách nhiệm chính của
mình, đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn. Cả hệ thống tài chính Mỹ đà không làm
những gì mà nó đáng ra phải làm – như tạo ra các sản phẩm để giúp người Mỹ quản lý
được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng của mình, như là giữ lại được nhà khi mức
lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà sụt giảm mạnh”
1.2.4 - Khủng hoảng niềm tin
Theo Giáo sư Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thảm khốc
của niềm tin. Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản.
Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá
trị tài sản thực của ngân hàng. Đây là một trò chơi mà khi người ta bắt đầu cảm nhận
“mùi vị” của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ sẽ xuất hiện, cả
thị trường xuống dốc và tất cả “người chơi” đều thua lỗ.
Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị xói
mòn, xuống cấp. Sự sụp đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy xuống
một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục.
1.2.5 - Tâm lý ỷ lại
Khủng hoảng tài chính Nhóm 910 Các tập đoàn tài chính tận dụng hình thức đòn bẩy tài chính, khi chứng khoán
mua vào được sử dụng làm vật thế chấp để vay mua chứng khoán khác, cứ thế một
đồng đô la tài sản thật sẽ được biến hóa thành hàng trăm đồng đô la tài sản sản ảo chỉ
hiện diện trên sổ sách. Chừng nào lãi suất còn ở mức thấp thì các tập đoàn tài chính này
vẫn còn báo lãi nhưng một khi lãi tiền vay cao hơn chênh lệch mua bán thì họ bắt đầu
chuỗi ngày dài lỗ nặng. Trong trường hợp của Lehman, giá trị tài sản gấp 31 lần vốn
chủ sở hữu cho nên nếu giá trị tài sản chỉ cần giảm 3% thì toàn bộ vốn chủ sở hữu sẽ
mất tiêu!
nay, bắt buộc họ phải thắt chặt hầu bao. Tổng số nợ của người tiêu dùng Mỹ đã lên tới
2.500 tỉ đô la (trung bình 8.500 đô la một người), tương đương khoảng 18% giá trị tài
sản sở hữu theo đầu người. Tỉ lệ tiết kiệm của người Mỹ trong vài năm qua đã xuống
chỉ số âm, tức là mỗi người Mỹ tiêu nhiều hơn thu nhập làm ra.
Khoản tiền cứu trợ 700 tỉ đô la, chưa kể hàng trăm tỉ đô la chính phủ Mỹ đã chi
trong năm qua nhằm cứu nguy cho các công ty bất động sản, tài chính và ngân hàng, sẽ
là gánh nặng lớn đối với ngân sách của chính phủ Mỹ trong nhiệm kì tới.
Hiện tại, chưa kể những khoản tiền cứu trợ này, thâm hụt ngân sách trong năm
2008 đã ước tính lên tới con số 482 tỉ đô, cao nhất trong lịch sử, và số tiền nợ của chính
phủ Mỹ đã lên tới con số kỉ lục trên 9.600 tỉ đô là, tương đương khoảng 60% Tổng thu
nhập Quốc dân của Mỹ.
Gánh nặng ngân sách và đòi hỏi phải cấp tốc cải cách bộ máy chính quyền, phục
hồi hệ thống tài chính – ngân hàng, sẽ hạn chế chính phủ mới của Mỹ trong việc theo
đuổi các chương trình quốc nội và các cam kết quốc tế, đặc biệt là khả năng duy trì hai
cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq.
Kể từ tháng 8 năm 2007 đến hết tháng 8 năm 2008, trên 770000 căn nhà ở Mỹ bị
ngân hàng xiết nợ do các gia đình không đủ khả năng trả nợ tiền vay mua nhà. Cuộc
khủng hoảng bất động sản cũng khiến hàng trăm ngàn người mất việc làm.
Một số ngân hàng Mỹ vẫn đối diện nguy cơ phá sản cho dù có gói cứu trợ tài
chính 700 tỷ USD mà chính phủ đã đưa ra. Các tổ chức tài chính bị phá sản hoặc phải
sáp nhập trong cuộc khủng hoảng Mỹ: do IRIC tổng hợp
Tên Quy mô Thiệt hại Giải pháp
1
Lehman
Brothers
Tổng tài sản: 639 tỷ
đôla
Tổng vốn góp cổ
Thua lỗ quý
IV/2007: 9,83 tỷ đô
Thua lỗ ròng quý
I/2008: 1,97 t
ỷ
đôla
Bán cho ngân hàng Mỹ
(BoA) với giá 50 tỷ đôla
Khủng hoảng tài chính Nhóm 912 Xếp thứ 32 trong
danh sách Global
2000 (các công ty lớn
nhất thế giới)
mất giá tài sản
(2007): 16,7 tỷ đôla
3
AIG
Tổng tài sản: 1,05
nghìn tỷ đôla
Tổng vốn góp ổ phần
78,09 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
lịch sử nước Mỹ
Thua lỗ (2007): 2,5
tỷ đôla
Mất giá tài sản
(2007): 1 tỷ đôla
01/07/2008: Bán cho ngân
hàng Mỹ với giá 4,1 tỷ
đôla
5
Bear Stearns
Tổng tài sản: 350,4 tỷ
đôla
Tổng vốn góp cổ
phần: 66,7 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
15.500 người
Là công ty chứng
khoans lớn thứ 7 thế
giới
Thiệt haiij quý
IV/2007: 859 triệu
đôla
Mất giá tài sản
(2007): 1,9 tỷ đôla
30/05/2008: Bán cho JP
Morgan Chase với giá 1,1
tỷ đôla
6 IndyMac
Tổng tài sản: 32 tỷ đô
đôla
Thua lỗ (2007): 4,6
tỷ đôla
Thua llox quý
II/2008: 821 tri
ệ
u
07/09/2008: FED kí hợp
đồng bỏ ra 1 tỷ đô hỗ trợ
cho Freddie Mac, đổi lại
giành quy
ề
n ki
ể
m soát các
Khủng hoảng tài chính Nhóm 913 Số lượng nhân viên:
5.281 ngườich
Là công ty công lớn
thứ 20 trên thế giới
là công ty tài chính
lớn thứ 2 về thế chấp
tại Mỹ
7.200 người
Là tập đoàn cho vay
dưới chuẩn lớn nhất
của Mỹ
Cổ phiếu mất 90%
giá trị (tháng
03/2007)
Giá trị thị trường
giảm xuống còn 55
triệu đôla
Nộp đơn phá sản theo
chương 11 Luật Phá sản
Mỹ
10 Ameri Bank
Tổng tài sản: 115
triệu đôla
Tiền gửi khách
hàng: 102 triệu đôla
Chi phí 42 triệu đôla
cho quỹ bảo hiểm
tiền gửi
19/09/2008: Tập đoàn Bả
o
hiểm Tiền gửi Liên Bang
Mỹ FDIC tiếp quản
11
Washington
Mututal Inc
Tổng tài sản: 307 tỷ
13
Thornburg
Mortgage
Giá trị tài sản 36,5 tỷ
USD
Thua lỗ lên tới 2,75
tỷ USD trong 3 quý
đầu tiên của năm
2008
tuyên bố phá sản theo
chương 11 vào ngày
1/5/2009
Khủng hoảng tài chính Nhóm 914
Đánh giá thiệt hại của cuộc khủng hoảng bất động sản – tài chính. Quỹ Tiền tệ
Quốc tế IMF ước lượng thiệt hại đối với các tập đoàn tài chính – ngân hàng có thể lên
tới 945 tỉ đô là. Con số này chưa tính đến thiệt hại trực tiếp đối với người tiêu dùng Mỹ.
Tốc độ tăng trưởng GDP
Vào quý 3/2008, nền kinh tế Mỹ bắt đầu nhận thấy rõ ràng nhất ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính tín dụng lên nền kinh tế vật chất. Tốc độ tăng trưởng GDP của
quý 3/2008 so với quý 2/2008 giảm 0,5%. Nền kinh tế Mỹ chính thức bước vào giai
đoạn suy thoái. Và kết quả công bố sắp tới của quý 4/2008 cũng như 2 quý đầu năm
2009, chúng ta sẽ còn chứng kiến sự suy giảm mạnh mẽ hơn nữa của nền kinh tế lớn
nhất thế giới này. Theo nhiều dự đoán,. 2 quý đầu năm 2009 sẽ tiếp tục chứng kiến sự
Anh đã phải thông qua góp giải pháp trị giá 1 tỷ Bảng Anh, tương đương 1,78 tỷ USD
nhằm cứu vãn thị trường nhà đất tại Anh đang xuống dốc.
Ngày 29-9-2008, Bộ Tài chính Anh đã chính thức tuyên bố quốc hữu hóa Tập
đoàn cho vay kinh doanh bất động sản lớn nhất nước này là Bradford & Bingley Plc
nhằm bảo vệ khách hàng của tập đoàn này do thua lỗ lớn liên quan đến cuộc khủng
hoảng tín dụng thứ cấp tại Mỹ và không có khả năng trụ vững. Tổng giá trị sổ sách các
khoản thế chấp và vay là 50 tỷ Bảng Anh, tương đương 91 tỷ USD. Đây là ngân hàng
lớn thứ 3 tại Anh.
Khủng hoảng tài chính Nhóm 916 Ngày 13-10-2008, 3 ngân hàng lớn nhất Anh là Royal Bank of Scotland, Lloyds
TSB và HBOS công bố tiếp nhận khoản hỗ trợ từ Chính phủ trị giá 37 tỷ Bảng, tương
đương 63 tỷ USD để đảm bảo thanh toán.
Tiếp theo ngân hàng nói trên của Anh, cuối tháng 9-2008 có thêm một số ngân hàng
lớn khác tại Châu Âu như: Fortis (Bỉ và Luxemburg), Dexia (Bỉ và Pháp); đầu tháng
10-2008 là Hypo Real Estate (Đức) cũng lâm vào khủng hoảng được Chính phủ các
nước đó cứu trợ bằng biện pháp tài chính. Ngày 20-10-2008, Chính phủ Hà Lan cũng
phải bơm trên 13,4 tỷ USD vào tập đoàn Ngân hàng ING Bank.
Hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán, và thị trường tài chính của Nga
cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đợt sụt giảm trên thị trường chứng khoán Nga diễn ra
trong tháng 9-2008 đã làm bốc hơi 800 tỷ USD giá trị cổ phiếu. Chính quyền Nga cũng
phải bơm vào hàng chục tỷ USD để cứu vãn thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng
nước này. Cho đến ngày 7-10-2008, thị trường chứng khoán Nga đã 2 lần phải tạm
đóng cửa, chỉ số chứng khoán giảm mạnh. Chỉ trong quý II và III 2008, các nhà đầu tư
nước ngoài đã rút khoảng gần 50 tỷ USD từ Nga; trong đó tính riêng tháng 8-2008 số
vốn các nhà đầu tư nước ngoài đã rút khoảng 5 tỷ USD và tháng 9-2008 rút 30 tỷ USD.
không mấy khả quan, thậm chí còn ảnh hưởng đến cục diện chính trị.
Thị trường tiền tệ biến động:
Vài tháng gần đây, các TTCK lớn tại khu vực Mỹ Latinh có xu hướng giảm,
TTCK Sao Paulo (Brazil), Buenos Aires (Argentina) giảm hơn 30%, giá cổ phiếu tại
các TTCK chủ đạo của Mexico và Chi-lê lần lượt giảm 20% vaì 10%.
Cùng với TTCK, các mệnh giá tiền tệ của khu vực Mỹ-Latinh cũng giảm so với
tỷ giá đồng Đô-la. Tỷ giá các tiền Brazil, Chi-lê, Mexico, và Argentina so với đồng đô-
la lượt giảm 13,5 %, 6,5%, 4,64%, và 2,63%.
Thị trường tiền tệ bất ổn khiến niềm tin của các nhà đầu tư giảm sút.
Các loại nguyên liệu như dầu thô, khí đốt thiên nhiên, đồng, các mặt hàng nông
phẩm đều chiếm tỷ trọng lớn trong ngành xuất khẩu của Mỹ Latinh, trong hoàn cảnh
nền kinh tế thế giới hỗn loạn, nền kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng, giá dầu giảm mạnh
như hiện nay lượng thu về từ xuất khẩu giảm ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế Mỹ
Latinh, đồng thời cũng ảnh hưởng đến tỷ giá tiền tệ của khu vực. 1.4 - Phản ứng của Mỹ và các quốc gia
1.4.1 – Phản ứng của chính phủ Mỹ
Để ổn định thị trường và ngăn chặn cuộc khủng hoảng có nguy cơ lan rộng hơn
nữa, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã ngay lập tức bơm vốn cho thị trường cũng
như cam kết luôn trong tư thế sẵn sàng đáp ứng vốn nếu thị trường cần. Điều đáng lo
ngại là dù hàng trăm tỷ USD đã được FED bơm vào hệ thống ngân hàng, tín dụng của
nước Mỹ song hiệu quả không nhiều, vẫn chưa giải quyết được cơn khát vốn của những
ngân hàng, tổ chức tín dụng làm ăn thua lỗ. Tính tới nay (thời điểm đến tháng 3/2008)
FED đã bơm 310 tỷ USD cứu trợ khẩn cấp song vẫn còn 91 ngân hàng và tổ chức tài
Khủng hoảng tài chính Nhóm 918
Chính phủ Mỹ nâng mức bảo hiểm tiền gửi tối đa từ 100.000 USD lên 250.000
USD. Chính phủ New Zealand cũng có hành động tương tự. Đặc khu hành chính Hồng
Kông cũng dỡ bỏ mức giới hạn bảo hiểm tiền gửi hiện nay tương đương 100.000 USD.
Khủng hoảng tài chính Nhóm 919 Chính phủ Nhật Bản đã tuyên bố không giới hạn mức bảo hiểm tiền gửi trong vòng 2
năm
+ Thứ hai, sử dụng nguồn lực tài chính mạnh mẽ để hỗ trợ thanh khoản,
cứu trợ trực tiếp cho các ngân hàng và tổ chức tài chính.
Chính phủ các nước trên thế giới đều sử dụng các nguồn lực tài chính trị giá
hàng chục tỉ, thậm chí hàng trăm tỉ USD để bơm vào hệ thống ngân hàng, công ty tài
chính và thị trường tài chính thông qua các nghiệp vụ cho vay nhằm bảo đảm vấn đề
thanh khoản có tính chất khẩn cấp và tức thời; đồng thời tiến hành quốc hữu hóa, mua
lại các khoản nợ xấu, mua cổ phần chi phối và nắm quyền điều hành,
Cục Dự trữ liên bang Mỹ ( FED) tăng khoản vay kỳ hạn 28 ngày và 84 ngày lên
150 tỉ USD cho mỗi kỳ hạn, có hiệu lực từ ngày 6-10-2008. Như vậy, với số tiền 300 tỉ
USD mới bơm thêm vào thị trường tài chính, nâng tổng số tiền định kỳ rót theo chương
trình cho vay khẩn cấp mang tên “Chương trình đấu giá cho vay kỳ hạn” (TAF) của
Chính phủ Mỹ sẽ tăng lên 600 tỉ USD. Trong tháng 11-2008, số tiền các ngân hàng Mỹ
được vay theo hai kỳ hạn nói trên tiếp tục được duy trì ở mức 150 tỉ USD cho mỗi kỳ
hạn. Do đó tổng số tiền cho vay theo chương trình TAF đến cuối năm 2008 có khả năng
lên tới 900 tỉ USD.
Chính phủ Anh tung ra 50 tỉ bảng Anh, tương đương khoảng 87 tỉ USD để cứu 8
ngân hàng của nước này có nguy cơ bị phá sản. Đây là một phần trong cả gói cứu trợ
gồm ba phần với tổng trị giá lên đến xấp xỉ 550 tỉ bảng Anh, tương đương trên 870 tỉ
USD để bơm vào hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính Anh theo các kênh khác
Mười lăm quốc gia trong khu vực đồng euro cùng cam kết các khoản cho vay
trên thị trường liên ngân hàng từ nay đến cuối năm 2009, thông qua việc bảo lãnh các
khoản nợ của các ngân hàng tại nước mình phát hành với thời hạn tối đa lên tới 5 năm.
Chính phủ cam kết sẽ cứu trợ các ngân hàng bằng giải pháp mua cổ phiếu ưu đãi.
Tại châu Á, Chính phủ Nhật Bản đã bơm ra 20,7 tỉ USD vào hệ thống ngân hàng
nước này để bảo đảm tính thanh khoản của thị trường tài chính và tiếp theo đưa ra kế
hoạch 110 tỉ USD để cứu vãn hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính. Chính phủ ấn
Độ cũng bơm 12 tỉ USD và Chính phủ Australia bơm khoảng trên 10 tỉ USD vào các
ngân hàng đang có vấn đề về thanh khoản.
Chính phủ Hàn Quốc cũng dành 100 tỉ USD để cứu trợ các ngân hàng và thị
trường tài chính. Ngày 20-10-2008, chính quyền vùng lãnh thổ Đài Loan đã tiến hành
quốc hữu hóa một tập đoàn ngân hàng đứng vào các ngân hàng lớn nhất của nước này.
Một quỹ cứu trợ trị giá 350 tỉ USD cũng đã được đề xuất đối với châu á, nhằm
bảo vệ hệ thống tài chính thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tương đương
khoảng 10% dự trữ ngoại tệ của các quốc gia trong khu vực châu á. Số tiền này do các
nước trong khối ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc cùng đóng góp.
Tại Trung Quốc, ngày 6-11-2008, Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (ABC)
cũng đã nhận được 19 tỉ USD tiền mặt cứu trợ của Chính phủ. Theo đó, thỏa thuận cứu
vãn này được ABC ký kết với Tập đoàn đầu tư quốc gia Trung Quốc (CIC). Tập đoàn
Khủng hoảng tài chính Nhóm 921 này sẽ sở hữu 50% vốn của ABC và Bộ Tài chính Trung Quốc sẽ sở hữu 50% phần còn
lại. ABC chuẩn bị cổ phần hóa và phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng vào năm
2009.
- Thứ ba, cắt giảm lãi suất cơ bản.
Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 9 đến tháng 11-2008, ngân hàng trung
22 Nhìn chung, số đông ngân hàng trung ương các nước có mức cắt giảm lãi suất
mạnh nhất trong hàng chục năm qua nhằm hy vọng tác động tích cực vào thị trường tài
chính. Riêng Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã được cắt
giảm 1%, từ 17,5% xuống còn 16,5%, thực hiện từ ngày 25-9-2008. Đồng thời Ngân
hàng Trung ương Trung Quốc còn tính tới việc tiếp tục cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc để
nới lỏng tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế. Cơ quan tiền tệ
Hồng Kông và ngân hàng thương mại vùng lãnh thổ Đài Loan cũng có hành động tương
tự, thực hiện cắt giảm lãi suất cơ bản của mình.
Ngân hàng Trung ương Ấn Độ, Nga, Brazil, Argentina, cũng thực hiện cắt
giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các tỷ lệ khác nhau.
- Thứ tư, thực hiện các biện pháp kích thích tăng trưởng kinh tế và hỗ trợ
trực tiếp cho các doanh nghiệp.
Chính phủ các nước Châu Âu có các kế hoạch tổng cộng khoảng 3.000 tỷ USD
để mua lại nợ xấu, cơ cấu lại tài sản của các ngân hàng, mua cổ phần ngân hàng, cho
các ngân hàng vay dài hạn để mua lại cổ phiếu của chính mình, điều chỉnh tăng tiền bảo
hiểm tiền gửi;
Ngày 24/11/2008, Chính phủ Anh đã công bố một gói giải pháp kích thích kinh
tế trị giá 20 tỷ bảng Anh, tương đương 30 tỉ USD, để khuyến khích tiêu dùng và giảm
mức độ suy thoái; trước đó, Chính phủ Anh dành 87 tỷ USD để cứu hệ thống ngân
hàng, quốc hữu hoá ngân hàng cho vay bất động sản như Bradford&Bingley trị giá 39
tỷ USD, dành 200 tỷ USD cho vay ngắn hạn các ngân hàng gặp khó khăn.
Chính phủ Đức thông qua các gói giải pháp cứu các ngân hàng Đức với tổng chi
phí trị giá 500 tỷ EURO; Ngày 12/1/2009, Chính phủ Đức cũng đã thống nhất đưa ra
gói hỗ trợ thứ hai giá trị 50 tỷ EURO (khoảng 67 tỷ USD).
Chính phủ Thuỵ Điển công bố Quỹ bình ổn tài chính trị giá 205 tỷ USD để hỗ
trợ các ngân hàng;
Chính phủ Trung Quốc tiến hành gói hỗ trợ 4.000 tỷ nhân dân tệ (tương đương
ngày 29/12/2008, thông qua ngân sách kỷ lục 88.500 tỷ Yên (980 tỷ USD) dành cho tài
khoá năm 2009 (bắt đầu từ 4/2009). Hiện nay cả Chính phủ và Ngân hàng Trung ương
nước này cũng đang cân nhắc cho khoảng 10.000 tỷ Yên (110 tỷ USD) để hỗ trợ các
ngân hàng chống đỡ với các khoản nợ xấu và tài sản mất giá.
Chính phủ Trung Quốc cũng đã thông qua gói kích thích kinh tế khổng lồ trị giá
khoảng 586 tỉ USD để thúc đẩy kinh tế phát triển cũng như kích thích tiêu dùng trong
nước. Khoản vốn này sẽ được giải ngân trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 để tài trợ
cho 10 lĩnh vực chính, trong đó có xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp, nâng
cấp hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, phát triển mạng lưới giao thông vận tải, tăng
chi phí phúc lợi xã hội, Bên cạnh đó, gói kích thích kinh tế này cũng được sử dụng
cho các chương trình về cải cách thuế giá trị gia tăng, nới lỏng tín dụng và tài chính.
Chính phủ Trung Quốc cũng hy vọng, thông qua gói kích thích kinh tế này sẽ góp phần
Khủng hoảng tài chính Nhóm 924 thay đổi bộ mặt nông thôn, nhất là khu vực phía Tây còn kém phát triển, tạo thêm nhiều
việc làm mới, khuyến khích xuất khẩu,
Chính phủ các nước G7-G20 đều tuyên bố sẽ sử dụng tất cả các biện pháp nhằm
ổn định thị trường tài chính- tiền tệ.
Tính đến hết năm 2008, có ít nhất 35 nước đã phải thực hiện cam kết thực hiện
giải cứu kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo thanh khoản và cải cách hệ
thống tài chính với qui mô hỗ trợ từ 0,1%GDP (Thuỵ Sỹ) đến 34,6%GDP (Áo) thông
qua Bộ Tài Chính và Ngân hàng Trung ương. Tuy nhiên các nỗ lực này vẫn chưa đủ để
có thể ngăn chặn được hoàn toàn những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng.
Các tổ chức khác như IMF, ADB, OPEC, cũng tiến hành tham gia vào hoạt
động ngăn chặn khủng hoảng, hạn chế tối đa những đổ vỡ. Sau khi một số nước đã phải
đề nghị sự giúp đỡ từ IMF như Pakistan, Iceland, Ukraina và Hungary, IMF tham gia
nước. Chính phủ các nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính,
ngân hàng khác mua lại hay sáp nhập những ngân hàng bị đổ vỡ. Các ngân hàng thương
mại và định chế tài chính thắt chặt các hoạt động cho vay. Các quy định về giám sát tài
chính cũng đang được chính phủ, bộ tài chính và ngân hàng thương mại các nước xem
xét lại, chỉnh sửa, tăng cường các biện pháp giám sát có hiệu quả hệ thống tài chính
- Thứ sáu, các ngân hàng cơ cấu lại quản trị điều hành, đặc biệt là hệ thống giám
sát bảo đảm an toàn; cơ cấu lại các khoản cho vay, đầu tư, đồng thời cắt giảm nhân
viên, tiết kiệm chi phí, chấn chỉnh lại các quy định nội bộ. Tập đoàn ngân hàng HSBC
của Anh cuối tháng 9-2008 đã tuyên bố cắt giảm 1.100 nhân viên, nhằm làm giảm nguy
cơ thua lỗ. Tại Mỹ, từ đầu năm đến hết tháng 9-2008 có khoảng hơn 150.000 người bị
mất việc làm trong ngành tài chính - ngân hàng. Một số ngân hàng và định chế tài chính
còn thực hiện bán lại một số bộ phận, lĩnh vực kinh doanh kém hiệu quả, tập trung các
lĩnh vực có khả năng sinh lời và cơ cấu lại năng lực tài chính.
- Thứ bảy, phối hợp hành động chung giữa các chính phủ các nền kinh tế lớn
trên thế giới. Trong các biện pháp được phối hợp đồng thời, quan trọng nhất vẫn là biện
pháp về mặt tài chính. Bên cạnh các khoản cho vay trị giá hàng tỉ USD của Quỹ Tiền tệ
quốc tế (IMF) đối với Ucraina, Hungary, Iceland, ngày 7-11-2008, lãnh đạo khối EU
cũng quyết định tăng gấp đôi mức trần viện trợ khẩn cấp cho các nước thành viên chịu
tác động nặng nề của cơn bão tài chính từ 15 tỉ USD lên mức 32 tỉ USD; trong đó riêng
Hungary đã được cứu trợ 8,3 tỉ USD vào đầu tháng 11-2008.
Cùng với các biện pháp trên là việc chính phủ các quốc gia đẩy mạnh việc giải
thích với những tuyên bố, cam kết được đưa ra để tạo sự tin tưởng cho các nhà đầu tư,
trấn an tâm lý người gửi tiền.
PHẦN 2
ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG ĐẾN VIỆT NAM
2.1 – Ảnh hưởng đến Việt Nam