Tiểu luận môn tài chính quốc tế khủng hoảng tài chính mỹ giai đoạn 2007 2009 - Pdf 14

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
“KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ GIAI ĐOẠN 2007-2009” Giảng viên hướng dẫn: TS. Mai Thu Hiền
Nhóm: 6
Học viên: Phạm Thị Mai Anh
Đỗ Mạnh Cường
Phạm Thị Thu Hoài
Lương Thị Xuân Hồng
Lương Thị Hồng Loan
Nguyễn Hồng Anh
Lớp: 19A TCNH

2

LỜI NÓI ĐẦU

Cuộc khủng hoảng tài chính- kinh tế Mỹ dù đã đi qua tuy nhiên hậu quả mà nó để lại
cho nền kinh tế nhiều nước là hết sức nặng nề, thậm chí đến lúc này nhiều nước vẫn đang gồng
mình vật lộn với những khó khăn mà nó để lại. Đây là cuộc khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực,
bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp và bản thân nó lại là nguồn gốc trực tiếp dẫn
đến cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2010.
Khủng hoảng Mỹ xảy ra với sự bất ngờ lớn của thế giới. Không ai có thể ngờ rằng một

lượng các giấy tờ đã được giảm thiểu tới mức thấp nhất. Các khoản vay này còn được gọi là
“không giấy tờ” bởi vì chúng hầu như không được bảo đảm bằng bất kỳ giấy tờ nào. Điểm tín
dụng trở thành tiêu chuẩn duy nhất. Nếu điểm tín dụng của một cá nhân thấp thì khoản vay
mang hình thức dưới chuẩn (Đây là khoản vay với chất lượng thấp hơn so với khoản vay đạt
chuẩn, vốn được cho vay với đầy đủ các giấy tờ cần thiết). Để bù đắp lại rủi ro cao, những
khoản vay này là những khoản vay với lãi suất cao hoặc người đi vay phải vay theo lãi suất
ARM với lãi suất ban đầu thấp sau đó được điều chỉnh dần lên những mức cao hơn. Theo
truyền thống, người mua thường muốn vay tiền mua nhà với lãi suất cố định hơn là lãi suất linh
hoạt, theo đó, họ sẽ phải thanh toán hàng tháng tiền lãi với lãi suất cố định trong suốt 30 năm.
Tuy nhiên, lãi suất ARM lại rất thấp với thời hạn từ 3 đến 5 năm. Chính vì vậy, nó đã thu hút
được những người mua có thu nhập thấp.
2.Chứng khoán hóa
Các sản phẩm chứng khoán hóa xuất hiện từ đầu thập niên 1970 và phát triển mạnh trong
môi trường chính sách tiền tệ được nới lỏng từ năm 2001.
4

Chứng khoán hóa và việc ra đời các sản phẩm của quá trình này như chứng khoán đảm bảo
bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) và các loại tương tự là một
phát minh lớn về công cụ tài chính. Tuy nhiên, vì có ít nhất tới 4 loại chủ thể kinh tế liên quan
đến chứng khoán hóa (thay vi 2 loại chủ thế kinh tế là người thế chấp - đi vay và tổ chức tín
dụng cho vay - nhận thế chấp như giao dịch tín dụng truyền thống), vì sự xuất hiện của bảo
hiểm cho các sản phẩm chứng khoán hóa như hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng (CDS), vì sự
ra đời của các thể chế như các thể chế mục đích đặc biệt (SPV) và những công cụ đầu tư kết
cấu (SIV) để mua bán MBS và CDO, nên đã tồn tại những rủi ro hệ thống bao gồm cả rủi ro
đạo đức và lựa chọn trái ý. Trong khi đó, mô hình giám sát tài chính của Hoa Kỳ trước khủng
hoảng không đủ năng lực giám sát các rủi ro này.
Những rủi ro mang tính hệ thống đã tồn tại và một khi sự cố đối với bong bóng thị trường
tài sản xảy ra thì những rủi ro này sẽ làm mất lòng tin ghê gớm của các bên liên quan. Thêm
vào đó, việc thực hành cho vay liên ngân hàng sẽ làm cho những tổn thất tín dụng lây lan ra
toàn hệ thống ngân hàng; một ngân hàng phá sản sẽ kéo theo nhiều ngân hàng khác phá sản. Và


kể cả các dịch vụ mua nhà cửa. Các năm kế tiếp, người mua nhà sẽ trả tiền lời cao hơn. Những
người mua nhà đầu tư hy vọng giá nhà tăng, họ có thể bán lại căn nhà đầu tư để kiếm lời.
Bong bóng Dot.com vỡ vào năm 2001 và suy thoái kinh tế hiện rõ sau sự kiện 11 tháng 9,
Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã có những biện pháp tiền tệ để cứu nền kinh tế nước này khỏi
suy thoái, đó là hạ lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng Chỉ trong thời gian ngắn từ tháng
5 năm 2001 đến tháng 12 năm 2002, lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5% xuống còn
1,75%. Tín dụng thứ cấp cũng giảm lãi suất theo. Điều này kích thích sự phát triển của khu vực
bất động sản và ngành xây dựng làm động lực cho tăng trưởng kinh tế. Trong môi trường tín
dụng dễ dãi, những tổ chức tài chính đã có xu hướng cho vay mạo hiểm
,
kể cả cho những người
nhập cư bất hợp pháp vay. Hệ quả là vay và đi vay ồ ạt nhằm mục đích đầu cơ dẫn tới hình
thành bong bóng nhà ở. Năm 2005, có tới 28% số nhà được mua là để nhằm mục đích đầu cơ
và 12% mua chỉ để không. Năm này, bong bóng nhà ở này phát triển đến mức cực đại và vỡ.
Từ quý IV năm 2005 đến quý I năm 2006, giá trị trung vị của giá nhà giảm 3,3%. Thời điểm
đó, tổng giá trị tích lũy các khoản tín dụng nhà ở thứ cấp lên đến 600 tỷ đô-la.
Sau khi bong bóng nhà ở vỡ, các cá nhân gặp khó khăn trong việc trả nợ. Nhiều tổ chức tín
dụng cho vay mua nhà gặp khó khăn vì không thu hồi được nợ. Giá nhà ở giảm nhanh khiến
cho các loại giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO - viết tắt của collateralized debt obligations)
và chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS - viết tắt của mortgage-backed security)
do các tổ chức tài chính phát hành bị giảm giá nghiêm trọng. Kết quả là bảng cân đối tài sản
của các tổ chức này xấu đi và xếp hạng tín dụng của họ bị các tổ chức đánh giá đánh tụt. Cuộc
khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra.
Tóm lại, sự cho vay dễ dãi của các ngân hàng tín dụng tại Hoa Kỳ đã đưa tới sự sụp đổ
thị trường bất động sản, kéo theo sự lỗ lã của các ngân hàng, làm cho các ngành nghề khác bị
đóng cửa, thợ thuyền thất nghiệp. Tiền đầu tư, hưu trí của dân chúng bị bốc thành hơi. 7

* Ngày 15/10/2007: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công bố lợi nhuận
Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5 tỷ USD. Giám
đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ chức vào ngày 4/11.
* Ngày 17/12/2007: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với nạn nhân là Tập đoàn
Centro Properties, một chủ sở hữu của các phố buôn bán lớn ở Mỹ tại Úc sau khi tập đoàn này
đưa ra cảnh báo lợi nhuận giảm. Cổ phiếu Centro Properties đã tụt giá 70% tại các giao dịch ở
Sydney.
Tháng 12 năm 2007, cuộc khủng hoảng tiến sang nấc trầm trọng hơn khi những báo cáo kinh
tế cuối năm cho thấy sự điều chỉnh của thị trường bất động sản diễn ra lâu hơn dự tính và quy
mô của khủng hoảng cũng rộng hơn dự tính. Tình trạng đói tín dụng trở nên rõ ràng. Hệ thống
dự trữ liên bang cố gắng giảm mạnh lãi suất liên ngân hàng vào tháng 12/2007 và tháng 2 năm
2008 nhưng không có hiệu quả như mong đợi.
GDP trong quý IV năm 2007 đã giảm mức tăng đáng kể, chỉ tăng 0,6% so với mức tăng 4,9%
quý III/2007
Năm 2008-2009: Đại suy thoái

9 Tình hình phá sản 2007-2008
Năm 2008 bắt đầu những dấu hiệu ảm đạm. Bong bóng nhà đất xuất hiện tại Mỹ với trên
1 triệu chủ nhà đất đối mặt với nguy cơ tịch thu tài sản thế nợ. Nhiều ngân hàng vướng phải các
khoản nợ dưới chuẩn (subprime loan) phải hứng chịu những khoản thua lỗ nặng.
* Ngày 11/1/2008: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và vốn hoá
thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi ngân hàng cho vay thế
chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi quá lớn.
* 30/1/2008: Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập dự phòng 4 tỷ USD, nâng
tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do những thất thoát quan đến cuộc khủng
hoảng cho vay cầm cố.
* 17/2/2008: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock.

* 15/9: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở cửa trở lại sau vụ
khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001. Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ
phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bị Bank of America Corp thâu tóm; American
11

International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những
khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố.

Tập đoàn AIG. (Ảnh: Foxbusiness)
* 16/9: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD vào các thị trường tiền
tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và ngăn chặn sự đóng băng của hệ thống tài chính
toàn cầu. Cổ phiếu AIG giảm gần một nửa. Fed công bố kế hoạch bơm 85 tỷ USD vào AIG và
nắm giữ 80% cổ phần. Ngân hàng Barclays của Anh mua lại một phần tài sản tại Bắc Mỹ của
Lehman với trị giá 1,75 tỷ USD.
* 17/9: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh; Tập đoàn Lloyds TSB
của Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứng khoán Mỹ kiềm chế tình trạng bán khống.
* 19/9: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ công bố kế hoạch mua lại tài
sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn, giúp làm thanh sạch hệ thống tài chính.
* 20-21/9: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD. Hai ngân hàng Goldman
Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng đa năng, đánh dấu sự kết
thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall.
* 22/9: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâu tóm hoạt động của
Lehman tại châu Á. Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu Âu và Trung Đông.
Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan Stanley.
12

* 23/9: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs; Cục điều tra liên bang
Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi ngờ có sự gian lận trong cuộc
khủng hoảng tài chính tại Mỹ.
* 25/9: Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ đã sụp đổ

nhất từ năm 1946

14

CHƯƠNG III: TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH MỸ
1. Đối với Hoa Kì
Cuộc khủng hoảng đã đưa nước Mỹ bước vào thời kì tồi tệ nhất trong lịch sử từ sau cuộc đại
suy thoái thập niên 1930.
Hàng loạt các ngân hàng hàng đầu thế giới như Lehman, Merrill Lynch,… tuyên bố phá
sản hoặc bị bán rẻ cho nước ngoài.
Năm 2008, Mỹ nợ 10000 tỷ đô-la, một món nợ lứn nhất mà chưa quốc gia nào có.
Năm 2009, kinh tế mỹ tăng trưởng âm 2,4%, thấp nhất từ 1946.
Tỉ lệ thất nghiệp tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tiêu dùng của các hộ gia đình
giảm làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa. Hàng hóa ế thừa, mức giá chung của
nền kinh tế giảm liên tục, dẫn đến lạm phát cao.
Tỷ lệ thất nghiệp Hoa kì (%)
Tháng

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
2007 4.6 4.5 4.4 4.5 4.5 4.6 4.7 4.6 4.7 4.8 4.7 4.9
2008 4.9 4.8 5.4 5.0 5.5 5.6 5.8 6.2 6.2 6.6 6.8 7.2
2009 7.6 8.1 8.5 8.9 9.4 9.5 9.4 9.7 9.8
Cuộc khủng hoảng đã làm cho nền công nghiệp hàng đầu nước Mỹ sụp đổ-Công nghiệp ô tô

EURO 11,4 32,7
Yên 17,6 9,9
Nhân dân tệ 7,2 - 0,5
2. Đối với thế giới
Hoa kì là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi kinh tế Mỹ suy
thoái, xuất khẩu nhiều nước bị thiệt hại. Nhất là các nước xuất khẩu theo hướng đông á. Một số
16

nền kinh tế như Nhật bản, Đài Loan, Singapo rơi vào suy thoái, Các nền kinh tế khac tăng
trưởng chậm lại.
Châu Âu vốn có mối quan hệ mật thiết với Mỹ chịu tác động nghiêm trọng cả về tài
chính lẫn kinh tế. Nhiều tổ chức tài chính ở đây lâm vàophá sản đến mức khủng hoảng ở một
số nước như Iceland, Nga…Khu vực đồng Euro chính thức rơi vào cuộc khủng hoảng kể từ
ngày đầu thành lập.
Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn bị rút
khỏi khu vực và giá dầu giảm mạnh.
Khủng hoảng ở Mỹ là nguyên nhân cuộc khủng hoản kinh tế toàn cầu 2008-2009
Chi phí để thế giới khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng này là khoảng 11.900 tỉ USD,
theo ước tính của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Điều đó có nghĩa là nếu chia bình quân, mỗi
người trong thế giới 6,7 tỉ dân vào thời điểm đó đã có thể có thêm 1.779 USD nếu cuộc khủng
hoảng không xảy ra.
Tính ra thiệt hại tương đương 1/5 sản lượng kinh tế toàn cầu đã biến mất. Khoản tiền chi ra để
cứu nguy nền kinh tế thế giới lần này là lớn nhất trong lịch sử. Theo tính toán của IMF trong
báo cáo đưa ra trước dịp “kỷ niệm” hai năm bắt đầu khủng hoảng, chi phí cứu nguy này vẫn
đang tiếp tục tăng. Hầu hết số tiền chi ra là từ các nước phát triển, với con số lên tới 10.200 tỉ
USD. Trong khi đó, các nước đang phát triển chỉ chi 1.700 tỉ USD.
GDP toàn cầu năm 2009 giảm 5.826 tỷ USD so với năm 2008 (đây là lần đầu tiên GDP toàn
cầu tăng trưởng âm trong vòng 20 năm trở lại đây), kéo tốc độ phát triển trung bình của toàn
giai đoạn đi xuống, từ 4,04%/năm cho giai đoạn 2001 đến 2007, xuống còn 3,2% cho cả giai
đoạn 2001-2010. Trong năm 2010, ước tính kinh tế thế giới đã bước đầu phục hồi với tốc độ

vay thế chấp đối với các tổ chức tài chính với số tiền tổng cộng tới 1,6 nghìn tỷ tính đến tháng
11 năm 2008.
2, Chính phủ
Trước tình hình khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, chính quyền Bush đã trình quốc
hội thông qua gói tài chính 700 tỷ dollar. Ban đầu Hạ viện Hoa Kỳ do Đảng Dân chủ Hoa Kỳ
chiếm đa số bác bỏ vì cho rằng không thể phí tiền để cứu không được quá nhiều tổ chức tài
chính gặp khó khăn. Song sau khi kế hoạch sử dụng 700 tỷ dollar được điều chỉnh sang hướng
chi cho cả các chương trình phục vụ đông đảo người dân nhằm kích thích tiêu dùng (như trợ
giúp cho người thất nghiệp, hỗ trợ dinh dưỡng cho người nghèo và người thu nhập thấp, phát
triển cơ sở hạ tầng), qua đó vực dậy nền kinh tế, nó đã được Thượng viện thông qua. Ngày 3
tháng 10 năm 2008, Tổng thống Bush đã ký Emergency Economic Stabilization Act of 2008
cho phép thực hiện gói kích thích 700 tỷ dollar này.
19

Dù theo đảng Cộng Hòa hay đảng Dân Chủ, nhà cầm quyền Hoa Kỳ chỉ có thể can thiệp
vào sinh hoạt kinh tế một cách gián tiếp qua hai hệ thống tiền tệ và tài chính. Theo hệ thống
tiền tệ, chính phủ có thể giảm lãi suất để những người vay nợ có thể trả tiền nhà hay các hãng
có thể mượn nợ để khuếch trương xí nghiệp; tức là tạo công ăn việc làm. Hành động này nhằm
mục đích chận đứng giá nhà đổ, đồng thời làm giảm con số thất nghiệp.
Tổng thống Obama phải đối phó nhiều vấn đề cấp thiết và cần thiết cho sự khủng hoảng
kinh tế 2008 tại Hoa Kỳ. Thứ nhất là tạo niềm tin của người dân vào hệ thống tiền tệ; thứ hai là
chận đứng thất nghiệp đang gia tăng; thứ ba là kích thích nhu cầu thị trường; tức là làm tăng
mức cung để tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Do đó, trước tình trạng khẩn trương khủng
hoảng kinh tế, quốc hội Hoa Kỳ đã phê chuẩn cho tổng thống Obama xử dụng số tiền 800 tỷ
đô-la để cứu nguy kinh tế Hoa Kỳ.
Nhằm mục đích tạo niềm tin hệ thống ngân hàng, chính phủ giúp một vài ngân hàng, tín dụng
hay hãng bảo hiểm (thí dụ AIG) để bảo vệ số tiền hưu trí của người dân
Nhằm mục đích chận đứng nạn thất nghiệp, chính phủ phải giúp các đại công ty; thí dụ ba
hãng xe hơi GM, Chrysler và Ford
Nhằm mục đích tăng mức cầu, chính phủ giảm lãi suất, giảm thuế, xây cất các công tác hạ tầng

4- Số giờ làm việc (Worked hours) của khu vực tư:
Số giờ làm việc có chỉ số 2002 là gốc 100 (so sánh với 2002). Người ta định nghĩa số
giờ làm việc tùy theo các hãng tư cần sản xuất nhiều thì công nhân được làm thêm giờ tức là
giờ làm việc phụ trội và nếu số giờ làm việc này giảm tức là nền kinh tế không khá. Thường
thường tại các hãng tư khi nào kinh tế phát triển thì công nhân mới phải làm giờ phụ trội. Như
vậy số giờ làm việc này ổn định hay là tăng lên trong 3, 4 tháng liền thì chỉ số này chứng tỏ
21

nền kinh tế đang trên đà hồi phục. Cụ thể là tháng giêng năm 2009 số giờ làm việc của công
nhân có chỉ số 102.9, tháng 2 là 102.2, tháng 3 là 101.2, tháng 4 là 100.4, tháng 5 là 9.99, tháng
6 là 9.94, tháng 7 là 99.2, tháng 8 là 99.1…
6- Đơn đặt mua hàng hóa phi quốc phòng: (non defense capital goods orders)
Đơn đặt hàng phi quốc phòng là chỉ số kinh tế khi các nhà đầu tư chủ các hãng tin tưởng
vào nền kinh tế thì các công ty mới đầu tư vào máy móc mới, các máy điện toán và các hàng
hóa
Trong năm 2009, số đơn đặt hàng giá trị hàng tháng đều dưới 35 tỷ và chứng tỏ nền kinh tế của
Hoa Kỳ chưa được hồi phục.
7- Tiền tệ lưu hành (Money Supply):
Tiền tệ lưu hành còn có tên là tiền tệ cung cấp, là số tiền ký thác ở ngân hàng và trong
Quỹ Thị trường Tiền tệ (Money Market Fund) sau khi đã điều chỉnh vì lạm phát là trị số tín
dụng của số tiền có thể sử dụng được.
8- Giá chứng khoán
9- Chỉ số ISM.
ISM viết tắt của chữ Institute for Supply Management Index, viện quản lý chỉ số
hàng cung cấp.
10- Giá dầu thô
11- Số xe bán được
7 trong 11 chỉ thị kinh tế đã kể trong những loạt bài trước có chỉ số dương trong tháng 9 bao
gồm số giờ làm việc, giấy phép xây cất, đơn đặt hàng hóa phi quốc phòng, giá trị chứng khoán,
đơn đặt hàng xuất cảng gia tăng, lãi suất thực sự của quỹ Liên bang, đường biểu diễn tiền lời


2. Việt Nam đã làm gì để đối phó với khủng hoảng
Chính phủ Việt Nam đã đề ra 05 nhóm giải pháp cơ bản như sau:
- Giải pháp thúc đẩy sản xuất - kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu
- Giải pháp đẩy mạnh, kích cầu đầu tư và tiêu dùng
- Thực hiện chính sách tài chính tiền tệ linh hoạt
- Thực hiện sâu rộng chính sách an sinh và xã hội
- Phối hợp tốt trong tổ chức chỉ đạo, điều hành
3. Bài học rút ra từ khủng hoảng
Thực tế đã cho thấy, Trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam đã, đang và sẽ bị thử thách, kết qur chống
lạm phát, vượt qua khủng hoảng và triển vọng phát triển kinh tế bền vững ở nước ta sẽ còn tùy
thuộc rất lớn vào quyết tâm chính trị, nhận thức và cách thức giải quyết các điểm mấu chốt sau:
 Phối hợp hài hòa bàn tay Nhà nước pháp quyền và bàn tay thị trường
Những cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính-tiền tệ khu vực và thế giới đã, đang và sẽ còn
chứng tỏ, khi “bàn tay hữu hình” của Nhà nước hoặc nắm quá chặt, hoặc bị buông lỏng quá
mức, và cả khi “bàn tay vô hình” của thị trường bị lạm dụng và đề cao thái quá, thì đều có nguy
cơ dẫn đến những cực đoan, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế và thậm chí dẫn đến khủng hoảng
nếu có những bất đồng quá mức giữa nhà nước và thị trường.
Các khiếm khuyết của thị trường tự do phải được sửa chữa bằng sự can thiệp chủ động
và tích cực của Nhà nước kiểu mới, mang tính pháp quyền và đại diện cao hơn.
Đặc biệt, cần sớm khắc phục những bất cập về nhận thức và lạm dụng trong thực tế về
quyền lực chủ quan của nhà nước, về sức mạnh thị trường khách quan, về tính đa mục tiêu của
chính sách, cần nâng cao chất lượng xây dựng các quy hoạch, dự án; thực hiện nghiêm túc các
24

quy định về đấu thầu thực chất, chống thông thầu, ép thầu và các gian lận thầu khác gây tổn hại
lợi ích chung và dài hạn; tăng cường kiểm toán độc lập, xây dựng và áp dụng rộng rãi hệ thống
chỉ tiêu hiệu quả
Về dài hạn, cần chuyển nhanh từ mô hình “nhà nước – nhà đầu tư lớn nhất” và phát triển
chủ yếu theo bề rộng hiện nay, sang mô hình “nhà nước – nhà quản lý công” và phát triển theo

sự vận hành thông suốt của nền kinh tế với tư cách một chỉnh thể tự nhiên, là cội nguồn mọi
bất ổn, trở ngại và thách thức lớn nhất, gây tổn thất to lớn, khó lường cho lợi ích, uy tín
quốc gia, làm gia tăng tình trạng rối loạn kỷ cương xã hội, xu hướng ly tâm và mất đồng
thuận, kẻ thù nguy hiểm nhất từ bên trong đối với công cuộc đổi mới và phát triển ở Việt
Nam. Vì vậy, phòng, chống tham nhũng đang là bài toán khó mà vẫn chưa có lời giải triệt
để.Nền kinh tế trong sạch vững mạnh không thể có hiện tượng tham nhũng. Đảng và Nhà
nước ta cần mạnh tay hơn nữa, đấu tranh không khoan nhượng với nạn tham nhũng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status