Bài tiểu luận
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU
NĂM 2008 GVHD: TS Lê Phan Diệu Thảo
Lớp: MBA12C
Nhóm thực hiện:
Trần Ngọc Thương
Đào Phi Lâm
Nguyễn Thanh Nhân
Lương Thị Ngọc Quỳnh
Võ Trí Dũng
Huỳnh Thị Hiền
Hồ Chí Minh, 02/2014
1"
"
MỤC LỤC
I. Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2
II. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 13
1. Tự do hóa tài chính………………………………………………… 15
2. Bùng nổ tín dụng……………………………………………………. 19
3. Bong bóng bất động sản…………………………………………… 20
III. Hậu quả của khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 23
tại Mĩ (khoảng năm 2005- 2006) với những khoản cho vay dưới chuẩn có rủi ro cao và
những khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh. Điều này cho thấy, cuộc khủ ng hoả ng tài
chính tại Mĩ lần này thực chất là những biểu hiện rõ nét của một quá trình khủng hoảng
rất lâu trước đó. Dưới đây là chuỗi những sự kiện chính, nổi bật gây nên tình trạng khủng
hoảng như hiện nay, qua đó có thể thấy khủng hoảng đã được hình thành như thế nào.
• Năm 2000: bong bóng Dot-com vỡ, Cục dự trữ liên bang Mĩ đã hạ lãi suất cho
vay qua đêm liên ngân hàng để cứu nền kinh tế khỏi suy thoái, nhất là từ sau thảm
họa khủng bố 11/09/2001.
• Từ tháng 05/2001 đế n 12/2002: lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5%
xuống còn 1,75%, tín dụng thứ cấp cũng giảm lãi suất theo ! đi vay ồ ạt kể cả
nhằm mục đích đầu cơ ! hình thành nên bong bóng nhà ở.
• Năm 2002- 2004: giá cả nhà đất tại các bang Arizona,California, Florida, Hawaii,
và Nevada tăng trên 25% một năm. Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu.
• Năm 2005: Bong bóng nhà đấ t ở Mỹ bắt đầu rạn vỡ vào tháng 08/2005. Thị
trường bất động sản tạm gián đoạn tại mộ t vài bang ở Mỹ vào cuố i hè năm 2005
khi tỷ lệ lãi suất tăng từ 1% lên đến 5.35%.
• Năm 2006: Thị trườ ng bất động sản tiếp tục suy giảm ! một lượng nhà dư thừ a
đáng kể. Chỉ số Xây dựng Nhà ở tại Mỹ giữa tháng 08 giảm hơn 40% so với
tháng 08/2006.
• Năm 2007: Kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại. Số lượ ng nhà tồn ước tính
cao nhấ t từ năm 1989. Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổ chức cho
vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản. Gần 1,3 triệu bấ t động sản nhà ở bị tịch thu để thế chấp
3"
"
nợ, tăng 79% từ năm 2006. Thư ký bộ tài chính Mỹ gọi bong bóng bất độ ng sản lần này
là “mối nguy hiểm ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế”
- Ngày 05/02/2007: Công ty Mortage Lenders Network USA đứng thứ 15 trong
số các nhà cho vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ, với tổng dư nợ 3.3 tỷ đô la vào quý 3
năm 2006, tuyên bố phá sản.
- Ngày 27/02/2007: The Federal Home Loan Mortgage Corporation (Freddie Mac)
hiểm của việc vỡ bong bóng bất động sản.
- Ngày 31/10/2007: Cục dự trữ liên bang hạ lãi suất quỹ liên bang 25 điểm xuống
4.5%.
- Tháng 11/2007: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng
vay với lãi suất thấp. Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang kể từ 19/ 9/
2001 (50.35 tỷ đô la).
- Tháng 12/2007: Tổng thố ng Bush tuyên bố kế hoạch giúp đỡ cho thêm 1,2 triệu
chủ sở hữu bất động sản trong việc thanh toán các khoản nợ tại ngân hàng.
- Ngày 11/12/2007: Fed hạ lãi suất quỹ liên bang xuống còn 4.25%
• Năm 2008:
- Ngày 11/01/2008: Bank of American đã bỏ ra 4 tỷ USD để mua lại Countrywide
Financial sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản
vay khó đòi quá lớn.
Cục Dự Trữ Liên bang tiếp tục hạ lãi suất 50 điểm xuống 3.5%.
- Tháng 02/2008: Fannie Mae, nguồn tiền lớn nhất rót vào các khoản vay bất động
sản Mỹ thông báo chỉ trong quý 4 của năm 2007, hãng đã thua lỗ 3,35 tỉ USD, khoản thua
lỗ cao gấp 3 so với dự đoán, cho thị trường này.
- Ngày 16/03/2008: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla một
cổ phiếu để tránh phá sản. Cục dự trữ liên bang phải cung cấp 30 tỷ đô la để trợ giúp các
khoản lỗ của Bear Stearn. Carlyle Capital trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng tín
dụng Mỹ với khoản nợ lên tới 16,6 tỉ USD. Nước Mỹ cũng phải rút 200 tỉ USD nhằm cứu
vãn Fannie Mae và Freddie Mac thoát khỏi khó khăn.
- Tháng 04/2008: IMF thông báo đã chịu thua lỗ 945 tỉ USD cho cuộc khủng
hoảng tài chính. Bộ trưởng các nước G7 tán thành đề xuất đưa ra các điều chỉnh tài chính
mới để chống lại cuộc khủng hoảng đang ngày càng lan rộng.
- Tháng 06/2008: Một điều đáng nói là trong khi thị trường bất động sản Mỹ ngày
càng khủng hoảng nghiêm trọng hơn thì số lượng người được nhận lại các ngôi nhà đã
5"
"
thế chấp lại tăng gấp đôi. Bear Stearns đã góp sức vào hiện tượng lạ này khi liên hiệp
dụng. Tuy nhiên, quốc hội Mỹ đã không thông qua bản dự thảo này.
6"
"
- Ngày 20-21/09/2008: Công bố các chi tiết bản kế hoạ ch giải cứu 700 tỷ USD.
Hai ngân hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tậ p đoàn ngân
hàng đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tạ i Phố Wall.
- Ngày 22/09/2008: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 USD để thâu
tóm hoạt động của Lehman tại châu Á. Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu
Âu và Trung Đông. Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan Stanley.
- Ngày 23/09/2008: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman
Sachs. Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi
ngờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ.
- Ngày 25/09/2008: Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng
lớn nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đó đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp. Cơ
quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đ oạt quyền kiểm soát WaMu và sau đó
bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhấ t Mỹ cho JPMorgan Chase & Co. với giá
1,9 tỷ USD (ngày 26/09). Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị
phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ. Trong khi đó tại Washinton D.C, các thành viên chủ
chốt trong quốc hội đã đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ
USD.
- Ngày 29/09/2008: Quốc hội Mỹ bác bỏ kế hoạ ch giải cứu thị trường tài chính Mỹ
do bộ Tài chính Mỹ đề xuất. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công
nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm – mức giảm trong một ngày mạnh nhấ t từ trước
tới nay.
- Ngày 30/09/2008: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân
hàng cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đ ồ ng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán lẻ cho đối
thủ Citigroup.
- Ngày 01/10/2008: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD
(tỷ lệ 74 – 25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế
thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD); tăng
cấu, nhà sản xuất xe hơi đang thiết lập mối hợp tác với hãng xe Fiat đến từ Italy. Hiệp hội
Công đoàn ngành ô tô Mỹ (UAW) sẽ nắm quyền kiểm soát lương hưu của hãng, trong khi
chính quyền Mỹ có nhiệm vụ bơm 12 tỷ USD cho Chrysler.
- Ngày 01/05/2009: Quỹ đầu tư bất động sản và cho vay thế chấp nhà Thornburg
Mortgage nộp đơn bảo hộ phá sản. Thornburg chịu tác động nặng nề từ cuộc khủng
hoảng nợ dưới chuẩn 2007 tại nước này, khiến giá cổ phiếu của quỹ lao dốc không
phanh. Để tránh đổ vỡ, công ty đã ngừng nhận đơn xin vay tiền và huy động thêm vốn
qua con đường phát hành thêm cổ phiếu. Năm 2008, các chủ nợ nhất trí để Thornburg
8"
"
huy động thêm vốn nhưng tới ngày 01/05/2009, quỹ đã tuyên bố sẽ đóng cửa và nộp đơn
xin phá sản theo Chương 11 Luật Phá sản Mỹ, đồng thời bán lại toàn bộ số tài sản còn lại.
- Ngày 01/06/2009: General Motors chính thức nộp đơn xin bảo hộ phá sản. Tính
tới thời điểm nộp đơn xin bảo hộ phá sản, tổng tài sản của GM là 91 tỷ USD, trong khi số
nợ lên tới 172,81 tỷ. Chính phủ Mỹ sẽ tiếp tục bơm tiền cho GM và chuyển 50 tỷ USD
tiền nợ thành 60% cổ phần tại hãng xe mới hình thành sau phá sản. Sau khi tái cấ u trúc,
GM sẽ có quy mô nhỏ hơn nhiều nhưng những nhãn hiệu nổi tiếng như Chevy, Cadillac,
Buick và GMC vẫn được giữ lại. GM đang lên kế hoạch bán chi nhánh Opel tại Đức cho
một nhà sản xuất phụ tùng ôtô từ Canada. Những chi nhánh hoạt động kém hiệu quả khác
sẽ bị bán đi hoặc xóa sổ. Theo như thỏa thuận, chính phủ Mỹ nắm gần 72,5% và Hiệp hội
Công đoàn ngành ôtô Mỹ nắm 17,5% cổ phần của công ty mới.
- Ngày 01/11/2009: Tập đoàn tài chính CIT- một trong những ngân hàng hàng đầu
nước Mỹ chuyên cho vay đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã công bố phá sản.
CIT đã không thể gượng dậy với những khoản nợ khổng lồ từ sau cuộc khủng hoảng tài
chính. Vụ phá sản này còn làm thiệt hại lớ n cho chính phủ Mỹ khi đã bỏ 2,33 tỷ USD vào
CIT.
Trên đây là những diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính Mĩ. Không chỉ dừng
lại ở đây, cuộc khủng hoảng này còn lan sang các khu vực khác trên thế giới với hậu quả
tương tự.
Tại châu Âu:
- Ngày 17/07/2008: Martina-Fadesa, hãng đầu tư tài sản lớn nhất của Tây Ban Nha
tuyên bố phá sản.
- Ngày 31/07/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là
3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD. Deutsche Bank trở
thanh 1 trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu.
- Ngày 29/09/2008: Chính phủ Anh quyết định can thiệp để giữ lạ i nhà cho vay thế
chấp quan trọng Bradford & Bingley. Chính phủ Hà Lan, Bỉ và Luxembourg quyết định
tiếp quản phần lớn ngân hàng Belgian- Dutsch và công ty bảo hiểm Fortis. Bộ Tài chính
Đức thông báo Chính phủ và các ngân hàng hàng đầu đã bơm hàng tỉ euro vào nhà cho
vay thế chấp Hypo Real Estate để cứu vãn khó khăn. Chính phủ Iceland cùng ngân hàng
Glinir chính thức tuyên bố chính phủ sẽ nắm quyền kiểm soát 75 % cổ phiếu của ngân
hàng này.
- Ngày 04/10/2008: Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã triệu tập cuộc họp
thượng đỉnh khẩn cấp với lãnh đạo 4 nước lớn nhất trong Liên minh châu Âu là Anh,
Pháp, Đức và Ý. Phiên họp kết thúc với tuyên bố hợp tác xử lý khủng hoảng nhưng
không thống nhất được một gói giải pháp tổng thể theo mô hình của Mỹ.
10"
"
- Ngày 05/10/2008: Mặc dù Thủ tướng Đức Angela Merkel đã chỉ trích quyết định
của Ireland về bảo hiểm toàn bộ các tài khoản ngân hàng tại Ireland, ngày 5.10 Bộ trưởng
Tài chính Đức đã thông báo tất cả các tài khoản tiền tại ngân hàng tại Đức sẽ được bảo
hiểm không có giới hạn.
- Ngày 06/10/2008: Trong đêm chủ nhật ngày 5.10, ngân hàng BNP Paribas SA
của Pháp gửi email thông báo đã thỏa thuận chi 14,5 tỷ Euro (tương đương 18,9 tỷ USD)
để mua lại ngân hàng Fortis, trong đó có 9 tỷ Euro bằng cổ phiếu và 5,5 tỷ Euro bằng tiền
mặt. BNP sẽ sở hữu 75% Fortis tại Bỉ, 67% Fortis tại Luxembourg, và toàn bộ mảng bảo
hiểm của Fortis tại Bỉ.
Tại các châu lục khác:
- Ngày 17/12/2007: Cuộc khủ ng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với nạn nhân
là tập đoàn Centro Properties, một chủ sở hữu các phố buôn bán lớn ở Mỹ tại Úc sau khi
Cổ phiếu mất giá trên
90% vào ngày
15/09/2008
15/09/2008: nộp đơn phá
sản theo chương 1 Luật
Phá sản Mỹ
Là vụ phá sản lớn nhất
trong lịch sử Hoa Kỳ
11"
"
2
Merrill Lynch
Tổng tài sản: 1,02 nghìn
tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
60.000 người
Xếp thứ 32 trong danh
sách Global 2000 (các
công ty lớn nhất thế
giới)
Thua lỗ quý IV/2007:
9,83 tỷ đô
Thua lỗ ròng quý
I/2008: 1,97 tỷ đôla
mất giá tài sản (2007):
16,7 tỷ đôla
Bán cho ngân hàng Mỹ
(BoA) với giá 50 tỷ đôla
3
AIG
trong lịch sử nước Mỹ
Thua lỗ (2007): 2,5 tỷ
đôla
Mất giá tài sản (2007):
1 tỷ đôla
01/07/2008: Bán cho
ngân hàng Mỹ với giá 4,1
tỷ đôla
5
Bear Stearns
Tổng tài sản: 350,4 tỷ
đôla
Tổng vốn góp cổ phần:
66,7 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
15.500 người
Thiệt haiij quý
IV/2007: 859 triệu
đôla
Mất giá tài sản (2007):
1,9 tỷ đôla
30/05/2008: Bán cho JP
Morgan Chase với giá 1,1
tỷ đôla
12"
"
Là công ty chứng
khoans lớn thứ 7 thế
giới
6
Thua lỗ (2007): 4,6 tỷ
đôla
Thua llox quý II/2008:
821 triệu đôla
07/09/2008: FED kí hợp
đồng bỏ ra 1 tỷ đô hỗ trợ
cho Freddie Mac, đổi lại
giành quyền kiểm soát
các cổ phiếu ưu đãi đặc
biệt của công ty này.
8
Fannie Mae
Tổng tài sản: 882,5 tỷ
đôla
Tổng vốn góp cổ phần:
44 tỷ đôla
Là tổ chức hàng đầu
trong thị trường thế
chấp dưới chuẩn của
Mỹ
Thua lỗ (2007): 2 tỷ
đôla
Thua lỗ quý II/2008:
2,3 tỷ đôla
07/09/2008: cùng với
Freddie Mac bị FED tiếp
quản
9
New Century
Financial Corp
đôla
10
Ameri Bank
Tổng tài sản: 115 triệu
đôla
Tiền gử i khách hàng:
102 triệu đôla
Chi phí 42 triệu đôla
cho quỹ bảo hiểm tiền
gửi
19/09/2008: Tập đoàn
Bảo hiểm Tiền gửi Liên
Bang Mỹ FDIC tiếp quản
11
Washington
Mututal Inc
Tổng tài sản: 307 tỷ
đôla
Washington Mutual là
ngân hàng tiết kiệm lớn
nhất Mỹ
Thua lỗ 53 tỷ đôla để
từ tháng 6 và 17 tỷ
đôla trong 2 tuần gần
đây
26/09/2008: Chính phủ
tiếp quản và sau đó bán
lại cho JP Morgan Chase
& Co với giá 1,9 tỷ đôla
12
rộng cho vay cầm cố.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, hệ thống tài chính thế giới chủ yếu là Mĩ đã
phát minh ra một loại dịch vụ tài chính mới, gọi là chứng khoán hóa các món cho vay có
nguồn gốc cầm cố. Các công ty tài chính và các ngân hàng gom các khoản cho vay cầm
cố lại thành những món lớn. Sau đó phát hành chứng khoán dựa trên cơ sở giá trị của
món vay đó (CDO). Các công ty tài chính và các ngân hàng thu được tiền mặt và tiếp tục
mở rộng các khoản cho vay cầm cố dưới sự bảo lãnh của Fannie Mae và Freddie Mac.
Như vậy, một dòng tiền lớn được huy động không phải chỉ từ nướ c Mĩ mà trên khắp thế
giới đổ vào thị trường bất động sản Mĩ vì các chứng khoán hóa các khoản cho vay cầm cố
này được bán ra trên khắp thế giới. Tình trạng này đẩy đầu cơ lên đỉnh điểm trên thị
trường nhà đất Mĩ.
Thêm vào đó, do lo lắng về diễn biến lạm phát, Fed bắt đầu tăng dần lãi suất, dẫn
đến việc thị trường bất động sản bắt đầu chững lại vào đầu năm 2006. Trong khi vào
giữa năm 2003 lãi suất căn bản của Fed chỉ có 1% thì vào giữa năm 2006 nó đó tăng lên
đến 5,25%, bắt buộc các ngân hàng thương mại phải đẩy lãi suất cho vay tiền mua nhà
lên cao hơn nhiều nữa. Tình hình lãi suất cao đó khiến cường độ vay để mua nhà giảm
lại. Giá nhà bắt đầu trượt dốc vỡ cung vượt cầ u. Giá trị thị trường của căn nhà mà họ mua
trước đây dường như đã thấp hơn so với giá trị khoản vay. Rồi những người đã vay tiền
để mua nhà thì cũng không thể có khả năng chi trả nữa vì khoản vay đó là quá lớn so với
15"
"
giá trị căn nhà, có nghĩa là họ có bán nhà thì cũng không thể trả hết nợ. Điều đó dẫn đến
tình trạng bán tháo tất cả, và cả tình trạng bị xiết nợ và phát mại tài sản vì không trả được
nợ.
Tình hình trên ngay lập tức làm cho tất cả những chứng khoán có nguồn gốc cầm
cố không bán được, dẫn đến sự xuống dốc của thị trường vốn. Do không bán được các
chứng khoán loại này và giá trị của chứng khoán đó bị sụt giảm mạnh nên các ngân hàng
thương mại trở nên khan hiếm tiền mặt để tiếp tục cho vay vào nền kinh tế, dẫn đến tình
trạng đóng băng trên thị trường tín dụng. Các ngân hàng ngại không cho nhau vay và
cũng không muốn cho các công ty và người tiêu dùng vay, trong khi chi tiêu của ngư ời
sự xuất hiện của thông tin mới và không thể dự báo”. Hai luồng tư tưởng này kết hợp tạo
thành một cuộc cách mạng thự c sự trong khoa học tài chính, tạo nền tảng vững chắc để
giới cầm quyền Mỹ nới lỏng các can thiệp vào thị trường tài chính trong thời gian sau đó.
Những năm 70, các quan điểm được ủng hộ rộng rãi đã cho rằng việ c can thiệp của chính
phủ vào thị trường tài chính nói riêng và các khu vực khác nói chung, đã tạo nên sự bóp
méo thị trường, dẫn đến việc phân bổ kém hiệu quả các nguồn lực kinh tế. Năm 2000,
chính phủ thông qua đạo luật Gramm-Lech-Bliley, chấm dứt đạo luật Glass-Steagall, kết
thúc việc ngăn cấm không cho các công ty chủ quản hoặc các ngân hàng đư ợc đồng thời
cung cấp dịch vụ Ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm. -> chấp nhận lời đề nghị phi
điều tiết thị trường trong thời gian trước đó. Việc thông qua đạo luật mới cung cấp khả
năng đa dạng hoá các hoạt động cho các tổ chức này và góp phần giảm thiểu rủi ro của
các công ty chủ quản. Mỹ cho phép ngân hàng thương mại hoạt động đa năng và rộng
khắp cả nước, thay vì hạn chế mỗi ngân hàng ở một bang, ngân hàng được phép hoạt
động trên khắp liên bang. Trước đó ngân hàng thương mại chỉ hoạt động thu nhận tiền ký
gửi rồi cho vay. Sau thay đổi, ngân hàng thư ơng mại cũng được hoạt động như một công
ty đầu tư tài chính, loại công ty này chỉ được làm dịch vụ tạo vốn đầu tư, tức là phát hành
và buôn bán cổ phiếu công ty, trái phiếu… Loại hoạt động nhận tiền ký gửi và cho vay
chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước như Fed, còn loại hoạt động sau liên quan đến
chứng khoán không bị một rào cản nào, trừ việc tuân thủ các định chế buôn bán chứng
khoán trên thị trường và nội dung các hợp đồng đã ký kết. Việc này cung sẽ khuyến
khích các hoạt động tư lợi 1 cách duy lý của các ngân hàng, dẫn đến kết quả tất yế u là sự
phân chia nguồn lực tài chính phù hợp giữa các thị trường và phân khúc thị trường. Ngoài
ra, Mỹ còn cho mở cửa tự do cho mọ i loại công cụ tài chính mới xuất hiện mà không có
sự kiểm soát nào. Quốc hội Mỹ cũng thông qua đạo luật “Commodity Futures
Modernization”, cho phép loại trừ 1 số sản phẩm tài chính phái sinh đã đạt được các tiêu
chuẩn theo luật định trước đó ra khỏi danh sách các sản phẩm tài chính được giám sát. Sự
“phi điều tiết thị trường này” làm bùng nổ các loại chứng khoán phái sinh như CDS,
CDO, MBS Mỹ cho phép công ty bảo hiểm cả những gì gần như không thể bảo hiểm
được như bảo hiểm giá trị chứng khoán (nợ hay cổ phiếu), nhất là chứng khoán không có
bảo chứng, hoàn toàn chỉ dựa vào niềm tin là thị trường không bao giờ xuống dốc (nhìn
loại chứng khoán đảm bảo bằng tài sản khác ra đời, như giấy nợ đảm bảo bằng tài sản
(hay CDO) và các thứ tương tự CDO. Nếu như MBS đóng gói các tài sản thế chấ p thực
thụ khác nhau lại, thì CDO, xuất hiện từ năm 1987 và chỉ thực sự phổ biến từ cuối cuối
thập niên 1990, thậm chí lại còn đóng gói MBS và một số tài sản khác. Nghiên cứu của
Mason and Rosner (2007) cho biết vào năm 2005, có đến 81% tài sản đảm bảo cho CDO
là từ MBS, tức là vào khoảng 200 tỉ USD Mĩ. Do đó có quan điểm cho rằng CDO là sản
phẩm tái chứng khoán hóa các loại chứng khoán khác. Và thứ giấy nợ đảm bảo bằng tài
18"
"
sản này có thể có nhiều loại là sản phẩm chứng khoán hóa của việc đóng gói các loại tài
sản có mức độ rủi ro khác nhau, và hướng tới các đối tượng nhà đầu tư khác nhau.
Cùng với sự ra đời và phát triển của CDO là sự xuất hiện của những tổ chức cung
cấp dịch vụ bảo hiểm cho nhà đầu tư CDO và của những tổ chức liên kết cung cấp hợp
đồng hoán đổi tốn thất tín dụng (CDS). CDS là một thỏa thuận giữa hai bên, trong đó một
bên trả phí dịch vụ định kỳ cho bên kia và được cam kết nhận đủ số tiền cho vay tín dụng
nếu bên thứ ba không trả được nợ. Bên nhận được “bảo hiểm tín dụng” được gọi là bên
mua. Bên cung cấp dịch vụ “bảo hiểm tín dụng” được gọi là bên bán. Bên có thể bị phá
sản hay không thanh toán được nợ được gọi là bên liên quan. Dịch vụ CDS trở nên phổ
biến khi các rủi ro tín dụng xuất hiện ngày càng nhiều trong 7 năm qua ở Mỹ. Các ngân
hàng cho rằng, với CDS, các ngân hàng này có thể dàn trải rủi ro trên khắp toàn cầu.
CDS giống như một hợp đồng bảo hiểm, vì chúng có thể được các chủ nợ mua để đề
phòng nguy cơ bên vay không thanh toán được nợ. Tuy nhiên, trên thực tế, do không có
yêu cầ u cầm cố bất cứ tài sản nào nên CDS cũng có thể được sử dụng cho các mục đích
đầu cơ. Do ngày càng có nhiều các công ty của Mỹ không thanh toán được số chứng
khoán phát hành khi suy thoái kinh tế ngày một lún sâu nên sự đổ vỡ của các CDS là điều
không thể tránh khỏi, và phản ứng dây chuyền sự đổ vỡ của các CDS hoàn toàn có thể
dẫn đến khủng hoảng tài chính.
Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay
mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng
bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản
20"
"
cung cầu về vốn dẫ n đến việc thừa các nguồn vốn mà thị trường không sử dụng hiệ u quả.
Cho vay nợ dưới chuẩn là một giải pháp để giải quyết bài toán thừa vốn nhằm tối đa hóa
lợi nhuận. Nợ dưới chuẩn được hiểu là các khoản cho vay cho các đối tượng có mức tín
nhiệm thấp. Những đối tượng đi vay này thường là những người nghèo, không có công
ăn việc làm ổn định, vị thế xã hội thấp hoặc có lịch sử thanh toán tín dụng không tốt
trong quá khứ. Những đối tượng này tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thanh toán nợ đ ến
hạn và do đó rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng truyền thống vốn chỉ
dành cho những đối tượng trên chuẩn. Chính vì vậy, nợ dưới chuẩn có mức độ rủi ro tín
dụng rất cao song bù lại có mức lãi suất cũng rất hấp dẫn. Tại Mỹ, nợ dưới chuẩn được
thực hiện đối với các sản phẩm cho vay thế chấp mua nhà, thế chấ p mua trả góp ô tô, thẻ
tín dụng Các đối tượng tín dụng dưới chuẩn phần nhiều là dân nhập cư vào Mỹ. Nó
cũng đư ợ c gọi là tính dụng thứ cấp, hay tín dụng “hạng B”, để phân biệt với tín dụng
“hạng A” (hay tín dụng ưu tiên, tín dụng hạng nhất) dành cho những ngườ i vay có độ tín
nhiệm cao.
Vào giữa năm 2006, khi Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất đề
phòng lạm phát, lãi suất của các khoản vay dưới chuẩn bắt đầu tăng theo (do các hợp
đồng vay đa số là các khoản vay theo lãi suất điều chỉnh), người dân mất khả năng thanh
toán, ngân hàng mất khả năng thanh khoản dẫn đến sự sụp đổ hàng loạt củ a hệ thống tài
chính.
3. Bong bóng bất động sản
Lãi suất thấp, việc tiếp cận nguồn vốn dễ dàng cùng với niềm tin giá bất động sản
không thể sụt giảm, các khoản cho vay dưới chuẩn được đảm bảo bằng bất động sản được
ưa chuộng và phát triển mạnh. Nhu cầu nhà đất lớn, cùng với kỳ vọng giá nhà đất sẽ tăng
dẫn đến cuộc đua về giá nhà đất tăng vọt. Theo chỉ số S&P, giá nhà đất tăng khoảng 8,3%
từ quý 1/1990 đến quý 1/1997. Sau đó giá nhà tăng nhanh đột biến, đỉnh điểm vào quý
2/2006, giá nhà đất tăng trên 132% so với quý 1/1997. Bong bóng bất động sản ngày
càng phình to.
21"
các khoản vay thông qua vay đảo nợ và bắt đầu trở nên mất khả năng chi trả và lâm vào
tình trạng phá sản. Không trả được nợ, hàng loạt người mua nhà bị xiết nợ và phát mại tài
sản. Cleveland (Ohio) là thành phố đầu tiên châm ngòi cho cuộc khủng hoảng kinh tế,
khoảng 1/10 số nhà tại Cleveland bị thu hồi để phát mại. Những người nhập cư với giấc
mơ mua nhà lại trở về tay trắng. Giá nhà tại Mỹ giảm thảm hại trong quý 3/2007, mức tồi
tệ nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1930. Ngay lập tức, Cụ c dự trữ liên bang Mỹ
và Ngân hàng Trung ương Châu Âu phải bơm số vốn khổng lồ vào thị trường. Từ tháng
9/2007, Cục dự trữ liên bang Mỹ đã liên tụ c cắt giảm lãi suất chiết khấu đồng USD. Đây
là những biện pháp rất mạnh nhằm cứu vãn nền kinh tế Mỹ khỏi cuộc khủng hoảng này.
Nhìn chung, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính 2008 được tóm gọn lại
như sau:
23"
" III. HẬU QUẢ CỦA KHỦNG HOẢN TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 2008
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đã diễn ra như vậy đó và sức tàn phá
của nó cũng thật ghê gớm, giống như một cơn bão lớn, một trận sóng thần, từng đợt sóng
cứ nối tiếp nhau, hết đợt này đến đợt khác để rồi tất cả đổ ập vào bờ và cuốn trôi đi hết
mọi thứ trên đó, để lại những đống đổ nát. Cả thế giới lại phải đối mặt với một cuộc Đại
suy thoái kinh tế mới mà cả 100 năm mới có một lần này với hi vọng sẽ chứng kiến sự
Có thể nói, sự sụp đổ của Lehman Brotherước ngày 15/09 là bước ngoặt tạo nên
tình trạng hỗn loạn trong hệ thống tài chính hiện nay. Trước đó, thị trường tài chính đã
chứng kiến hiệu ứng domino những vụ đổ vỡ của một loạt tên tuổi lớn liên quan đến cho
vay dư ới chuẩn như Bear Stearn (tháng 6), IndyMac Bancorp (tháng 7) rồi việc quốc hữu
hóa Fannie Mae và Freddie Mac vào tháng 9. Thiệt hại ước tính có thể lên tới hàng trăm
tỉ USD. Nhưng thị trườ ng vẫn vận hành bình thường cho đến khi những đại gia khác như
Lehman Brothers, AIG và Merrill Lynch tận số trong những ngày từ 13 đến 15 tháng 9.
Những sự kiện này vượt quá sức chịu đựng của một thị trường vốn đã rất rất mỏng manh
và dễ bị tổn thương trước đó. Thị trường tài chính trở nên hỗn loạn, người ta trở nên nghi
ngờ và đánh mất niềm tin vào các ngân hàng, các tổ chức tài chính. Chính những người
cho vay cũng từ chối những người đi vay vì sợ họ sẽ vỡ nợ và không có khả năng chi trả.
Tất cả đều muốn tháo chạy. Sau vụ đổ vỡ của Lehman Brothers thì người ta cũng chứng
kiến cảnh một loạt các ngân hàng, các tổ chức tài chính không chỉ tại Mĩ mà cả tại Anh,
Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, sụp đổ, phá sản hoặc bị sát nhập, bị quốc hữu hóa. Cổ phiếu của
các ngân hàng này cũng tức thì suy giảm. Ông Mervyn King- Thống đốc Ngân hàng