Tiểu luận tài chính quốc tế: Tác động của việc định giá thấp đồng nhân dân tệ đến thương mại toàn cầu - Pdf 14

Tiểu luận môn học Tài chính quốc tế
GVGD: TS. Mai Thu Hiền

TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐỊNH GIÁ THẤP ĐỒNG
NHÂN DÂN TỆ ĐẾN THƯƠNG MẠI TOÀN CẦU
Giảng viên hướng dẫn : TS. MAI THU HIỀN

Nhóm sinh viên : Nhóm 14
PHÙNG MINH BẮC
LÊ NGỌC QUÂN
NGUYỄN THỊ HỘI
NGUYỄN VĂN ĐỨC
LÊ HOÀNG LONG
NGÔ THÁI SƠN
LÊ HƯƠNG GIANG

Lớp : 19A Cao học TCNH



1

LỜI NÓI ĐẦU
Toàn cầu hóa giúp cho sự phát triển của các nên kinh tế khác nhau trên thế giới,
đó là một thế giới phẳng. Khi các quốc gia tham gia vào toàn cầu hóa, tham gia vào tổ
chức WTO đem đến cơ hội cho các nước là ngang nhau. Các nước tham gia vào sân
chơi chung là tổ chức thương mại thế giới WTO, ở đó có các quy định và luật lệ mà
các nước phải tuân theo để đảm bảo cuộc chơi công bằng và bỉnh đẳng giữa các nước.
Toàn cầu hóa với một luật lệ chung, nó thúc đẩy lợi thế kinh tế của mỗi nước, phát huy
tối đa lợi thế của các nước trên thế giới khi tham gia vào t oàn cầu hóa. Giúp cho sự
phát triển kinh tế của các nước trên thế giới do toàn cầu hóa đem lại, cũng như qua đó
nâng cao hiệu quả sản xuất của kinh tế thế giới do tận dụng và tối ưu được nguồn lực
trên thế giới cả về nguyên liệu sản xuất và nhân công đem đến một nguồn hang hóa
dồi dào cho người dân thế giới.
Nhưng ngoài những thành công mà thế giới đạt được thì cũng bộc lộ không ít
vấn đề mà gần đây nó bộc lộ ảnh hưởng mạnh mẽ đến thành quả của toàn cầu hóa đem
lại, đó là sự mất cân bằng trong thương mại của toàn cầu. Một số nước đã cố tình lợi
dụng dùng những chính sách mà có lợi thương mại cho nước mình dẫn như chính sách
định giá thấp đồng nội tệ của nước mình để có lợi thương mại cho nước mình. Điển
hình là trong một thời gian dài Trung quốc luôn định giá đồng nhân dân tệ của mình
thấp so với thực tế để đẩy mạnh xuất khẩu tạo tăng trưởng cho đất nước trong một thời
gian dài. Việc định giá thấp đồng nhân dân tệ của Trung quốc trong một thời gian dài
như vậy mặc dù đã giúp Trung quốc phát triển vượt bậc như vậy từ một nước kém phát
triển đã trở thành cường quốc thứ hai thế giới sau Hoa Kỳ, nhưng hậu quả là sau quá
trình mất cân bằng thương mại trên thế giới hiện nay cực kỳ trầm trọng. Cuộc khủng
khoảng kinh tế thế giới hiện nay đóng góp không nhỏ bởi nguyên nhân này.
Trong tiểu luận môn học Tài chính quôc tế, chúng em xin được trình bày “Tác
động của việc định giá thấp đồng Nhân dân Tệ đến thương mại toàn cầu”


Tại Trung Quốc, những xã hội t iền thành thị có thể đã phát triển từ 2500 TCN,
nhưng triều đình đầu tiên được khảo cổ học xác định là nhà Thương. Thiên niên kỷ thứ
2 TCN chứng kiến sự nổi lên của nền văn minh ở Crete, lục địa Hy Lạp và trung
tâm Thổ Nhĩ Kỳ.
Ở Châu Mỹ, các nền văn minh như Maya, Moche và Nazca nổi lên
ở Mesoamerica và Peru vào cuối thiên niên kỷ thứ 1 TCN. Những đồng t iền xu đã
được sử dụng ở Lydia.
Tiểu luận môn học Tài chính quốc tế
GVGD: TS. Mai Thu Hiền3

Những con đường thương mại tầm xa xuất hiện lần đầu thiên niên kỷ thứ 3
TCN, khi những người Sumerians ở Lưỡng Hà buôn bán với nền văn minh
Harappan ở lưu vực sông Ấn. Những con đường thương mại cũng xuất hiện ở phía
đông Địa Trung Hải vào thiên niên kỷ thứ 4 TCN. Con đường tơ lụa giữa Trung
Quốc và Syria bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ 2 TCN. Các thành phố ở Trung Á và Ba
Tư là nơi ngã ba đường của những con đường thương mại đó. Các nền văn
minh Phoenician và Hy Lạp đã lập ra các đế quốc ở lưu vực Địa Trung Hải vào thế kỷ
thứ 1 TCN dựa trên thương mại. Người Ả Rập thống trị các con đường thương mại
ở Ấn Độ Dương, Đông Á, và Sahara vào cuối thiên niên kỷ thứ 1 và đầu thiên niên kỷ
thứ 2. Những người Ả Rập và Do T hái cũng thống trị thương mại ở Địa Trung Hải vào
cuối thiên niên kỷ thứ 1. Người Ý chiếm vai trò này vào đầu thiên niên kỷ thứ 2.
Các thành phố người Flemish và Đức nằm ở trung tâm các con đường thương
mại ở Bắc Âu vào đầu thiên niên kỷ thứ 2. Ở mọi vùng, các thành phố chính phát triển
ở những ngã ba đường dọc theo những con đường thương mại.
1.2. Khái niệm toàn cầu hóa
Trong hơn một thập kỷ trở lại đây xu thế toàn cầu hoá gia tăng ngày càng mạnh
mẽ. Và cùng với điều đó là những cách lý giải và thái độ không giống nhau đối với xu

dịch vụ, lao động, công nghệ ngày càng tự do trong phạm vi khu vực và toàn cầu, hỗ
trợ cho mọi quốc gia tham gia toàn cầu hóa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
một cách nhanh chóng hơn.
Đó là tích cực mang tính tổng quát nhất của toàn cầu hóa kinh tế, mà thể hiện
nổi trội và dễ nhận thấy nhất là tăng trưởng và giảm thiểu đói nghèo. Điều này thể hiện
đặc biệt rõ đối với các nước đang phát triển chủ động tham gia toàn cầu hóa có chính
sách đúng đắn và lựa chọn các bước đi thích hợp trong quá trình hội nhập kinh tế.
Nhiều nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á đã tạo nên thần kỳ phát triển kinh tế, gớp
phần tăng trưởng và giảm thiểu đói nghèo một cách rõ rệt. Nhìn chung các nước đang
phát triển tham gia mạnh mẽ toàn cầu hóa đã được tăng tỷ lệ tăng trưởng trên đầu
người từ 1% vào thập kỷ 60 lên 3 % vào thập kỷ 70,4 % vào thập kỷ 80 và 5% vào
thập kỷ 90.
Tiểu luận môn học Tài chính quốc tế
GVGD: TS. Mai Thu Hiền5

Chương 2: Tác động của việc định giá thấp ảnh hưởng đến
thương mại toàn cầu hiện nay
2.1 Thế nào là tỷ giá hối đoái việc xác định nó như thế nào và tác động của nó lên
thương mại của quốc gia
2.1.1 Khái niệm về tý giá
Có hai khái niệm về tỷ giá hối đoái:
- Khái niệm 1: Các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên thị
trường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một giá cả nhất định. Vì vậy,
giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị t iền tệ nước kia gọi là tỷ
giá hối đoái.
Ví dụ: M ột người nhập khẩu ở nước Mỹ phải bỏ ra 160.000 USD để mua một tờ
séc có mệnh giá 100.000 GBP để trả tiền hàng nhập khẩu từ nước Anh. Như vậy, giá 1

Ngang giá sức mua là:
USDGBP 78,1
100
1
1 

Đây là tỷ giá hối đoái giữa bảng Anh và đôla Mỹ
2.1.2 Tác động của tỷ giá hối đoái lên thương mại quốc gia
Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan
trọng của mỗi quốc gia. Diễn biến của TGHĐ giữa U SD với Euro, giữa USD/JPY
cũng như sự biến động tỷ giá giữa USD/VND trong thời gian qua cho thấy, tỷ giá
luôn là vấn đề thời sự, rất nhạy cảm. Ở Việt Nam, TGHĐ không chỉ tác động đến xuất
nhập khẩu, cán cân thương mại, nợ quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp, mà còn
ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của dân chúng. Khi TGHĐ biến động theo chiều
hướng không thuận, N gân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện nhiều giải
pháp như: nới rộng biên độ +/-5% (3/2009); hạ biên độ xuống +/- 3% (2/2010), đồng
thời với việc điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng 3,36% ; 4/2010 NHNN yêu cầu các
Tổng công ty, Tập đoàn có thu ngoại tệ phải bán cho ngân hàng và kiểm kiểm soát
chặt chẽ các giao dịch mua bán ngoại tệ tại các địa điểm mua bán ngoại tệ. Gần đây
nhất vào ngày 18/8/2010, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng lên hơn 2%
(từ 18.544VND/USD lên 18.932 VND/USD) và giữa nguy ên biên độ. Với những giải
pháp này, thị trường ngoại tệ, thị trường vàng đã từng bước bình ổn, tỷ giá chính thức
so với tỷ giá trên thị trường tự do được thu hẹp, từng bước lành mạnh hóa các giao
dịch vốn trong xã hội.
Trong thời gian tới, TGHĐ biến động theo hướng nào, quả thật không dễ dự
đoán. Sự biến động của tỷ giá sẽ khó lường, bởi nhiều nhân tố tác động như: nhập siêu
còn lớn không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong trung hạn; thâm hụt ngân s ách vẫn ở
mức cao (trên dưới 6%/GDP); giá vàng trong nước và thế giới luôn tăng mạnh (do
khủng hoảng chi tiêu công tại một số quốc gia Châu Âu, châu Mỹ); nhu cầu ngoại tệ
Tiểu luận môn học Tài chính quốc tế
8

việc ổn định tỷ giá và khắc phục áp lực cộng hưởng lên tỷ giá và thị trường. Với kinh
nghiệm này, khi tỷ giá đang dần ở thế ổn định, NHTW sẽ chủ động (tính toán một
cách cụ thể) điều chỉnh tăng/giảm nếu dự báo trong thời gian tới là cần thiết, không
nên để diễn biến tỷ giá ở mức “nóng” mới điều chỉnh, bởi điều chỉnh t hời điểm này dễ
gây hiệu ứng bất ổn từ tỷ giá sang các chỉ tiêu vĩ mô khác.
Hai là : Để khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, thì xử lý TGHĐ có
phải là biện pháp hữu hiệu? Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu đã cho rằng:
các đợt phá giá tiền vừa qua, không có t ác dụng cải thiện cán cân thương mại”, vì thế
nếu cứ coi TGHĐ là một trong những rào cản cho xuất khẩu, để “lập luận” cần phải
giảm giá VND, để cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam sẽ là chưa ổn. Do cơ
cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có nhiều bất cập, 70 -80% đầu vào của m ặt
hàng xuất khẩu là nhập khẩu, trong khi xuất khẩu lại lệ thuộc vào biến động trên thị
trường quốc tế về điều kiện thương mại cũng như biến động giá cả. Ở khía cạnh nhập
khẩu, TGHĐ có thực sự hạn hạn chế nhập khẩu, để thông qua đó hạn chế nhập siêu.
Điều này cũng không hẳn như vậy. Do xuất khẩu nhiều, nhưng hầu hết ở dạng thô, giá
trị gia tăng trên từng đơn vị xuất khẩu không cao, trong khi nhập siêu rất lớn, chủ yếu
từ Trung Quốc (chiếm đến 80-90%/tổng kim ngạch nhập khẩu). Như vậy sự phụ thuộc
của giá cả trong nước vào giá cả thị trường quốc tế khá lớn. Do đó, các ý kiến cho rằng
cần xử lý tỷ giá theo hướng tăng để khuyến khích xuất khẩu, chủ động nhập khẩu là
trực tiếp hoặc gián tiếp thu hẹp vai trò của tỷ giá , trong khi TGHĐ còn liên quan đến
hàng loạt vấn đề như cán cân thanh toán, nợ quốc gia, thị trường tiền tệ, thị trường
chứng khoán và bất động sản. Chỉ xét riêng mối quan hệ giữa tỷ giá với nợ quốc gia
cũng cho thấy cần rất thận trọng trong việc nâng hay giảm giá của tiền đồng. Nợ quốc
gia của Việt Nam chủ yếu là nợ nước ngoài (khoảng 40% GDP), nếu giảm giá tiền tệ
thì ảnh hưởng không nhỏ đến nợ quốc gia. Với cơ cấu nợ công
iv

đặc biệt trong bối cảnh niềm tin của người dân bị suy giảm về sự không ổn định sức
mua của tiền đồng, họ có tiền nhàn rỗi sẽ nhanh chóng chuyển sang vàng và ngoại tệ
nắm giữ
v
.
Khi VND lên giá, có thể sẽ làm t ăng thêm tình trạng nhập siêu, xuất khẩu có thể giảm
đi. Nhưng như đã phân tích trên, yếu tố tỷ giá có tác động đến xuất nhập khẩu nhưng
không hẳn là yếu tố quyết định. Vì vậy hướng đến sự ổn định tỷ giá trong trung hạn,
rất cần thiết có cách nhìn mới về vấn đề này./.
2.2 Việc định giá thấp đồng nhân dân tệ của Trung quốc như thế nào tác động
của nó lên thương mại toàn cầu ra sao ( Trực tiếp là thương mại Trung –Mỹ)
2.2.1 Đồng nhân dân tệ yếu đang tấn công người nghèo
Chính sách tỷ giá của Trung Quốc chủ yếu được nhìn nhận thông qua lăng kính
của sự mất cân đối toàn cầu. Điều đó tạo ra những hậu quả đáng tiếc thứ nhất nó giúp
Trung Quốc đánh lạc hướng dư luận khỏi chính sách của mình, thứ hai nó che mờ đi
Tiểu luận môn học Tài chính quốc tế
GVGD: TS. Mai Thu Hiền10

nạn nhân thực sự của chính sách này và cuối cùng nó khiến giải pháp chính trị của
những nước mới nổi và đang phát triển trở nên khó khăn hơn.
Việc định giá thấp đồng tiền trên hết chính là chính sách bảo hộ thương m ại,
vừa áp đặt thuế nhập khẩu, vừa trợ cấp xuất khẩu. Nạn nhân thực sự của chính sách
này là các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển khác.Do yếu tố lợi thế so
sánh tương đồng mà họ đang cạnh tranh trực tiếp với Trung Quốc chứ không phải với
Mỹ hay EU. Thực tế, các nước đang phát triển phải chịu hai chi phí riêng biệt do chính
sách tỷ giá của Trung Quốc.
Trong ngắn hạn, khi nguồn vốn đổ vào các nước mới nổi, khả năng phản ứng

thuộc vì thâm hụt thương mại ngày càng phình to, trở thành những con nợ khổng lồ
của nước ngoài.

Bảng 1: Báo cáo nhập siêu của các nước đang phát triển với Trung Quốc năm 2012
Đơn vị: triệu USD Nước
Chỉ tiêu
Việt Nam Ấn Độ Philipines Thailand Malaysia
Giá trị nhập
siêu
9.118 28.930 10.202 6.780 1.520
(Nguồn: )

2.2.2 Đồng nhân dân tệ làm “mất ngủ” người giàu
2.2.2.1 Nhân tệ làm EU lo lắng
Người giàu là ai, đó chính là Mỹ và EU hai khu vực kinh tế hùng mạnh của thế
giới cũng đang cuống cuồng tìm cách đối phó với đồng nhân dân tệ yếu.
M ột thực tế đáng lo ngại đối với Liên minh châu Âu (EU) là thâm hụt thương
mại với Trung Quốc sẽ tăng lên đều đặn qua các năm từ mức 128 tỷ USD năm 2006
lên mức 168 tỷ USD trong năm 2011 và 170 tỷ USD năm 2012, trong bối cảnh đồng
Nhân dân tệ đang giảm giá tới 8% so với đồng EUR của châu Âu. Chính vì vậy, tỷ giá
đồng Nhân dân tệ đã trở thành một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất tại
Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc – EU gần đây.Dư luận châu Âu đang lo ngại rằng tỷ
giá đồng Nhân dân tệ quá thấp của Trung Quốc là nguyên nhân chính khiến hàng hoá
Trung Quốc tràn ngập thị trường châu Âu và đã khiến thâm hụt thương mại của châu
Âu với Trung Quốc ngày càng tăng. Điều đáng lo ngại là kể từ khi Trung Quốc nới
rộng biên độ tỷ giá đồng Nhân dân tệ, đồng tiền này tăng giá dần so với đồng USD,
nhưng lại giảm giá tới 8% so với đồng EUR của châu Âu. Kim ngạch thương mại

những chiếc răng nanh của thao túng tiền tệ.
Trung Quốc thao túng tiền tệ bằng cách cố tình “neo” nhân dân tệ với đô-la Mỹ
ở một tỉ giá sâu dưới giá trị thật. Để hiểu tại sao điều này lại phá hoại kinh tế Mỹ, điều
cốt yếu cần hiểu là kinh tế bất kỳ quốc gia nào cũng đều chỉ phụ thuộc vào bốn yếu tố:
mức tiêu dùng, mức đầu tư kinh doanh, chi tiêu chính phủ và “cán cân xuất nhập
khẩu”.
Tiểu luận môn học Tài chính quốc tế
GVGD: TS. Mai Thu Hiền13

Động lực tăng trưởng sau cùng – cán cân xuất nhập khẩu – là quan trọng nhất
khi bàn về thao túng tiền tệ, vì nó đo lường sự chênh lệch khi đem tổng doanh số
chúng ta xuất khẩu ra thế giới trừ đi doanh số nhập khẩu. Nhận xét đặc biệt dưới đây
nhấn mạnh vai trò thiết yếu của cán cân xuất nhập khẩu lên nền kinh tế:
Khi nước M ỹ chịu thâm hụt triền miên với Trung Quốc, một số phần trăm tăng
trưởng kinh tế quan trọng bị bào mòn. Tỉ lệ tăng trưởng bị chậm lại này đến lượt nó lại
kéo giảm số công ăn việc làm được tạo ra.
Dĩ nhiên, khi kinh tế Mỹ chịu đựng mức tăng trưởng kém và thất nghiệp cao thì
ở đầu bên kia, Trung Quốc là người hưởng lợi. Con rồng Trung Quốc tăng trưởng
mạnh, trong khi nước Mỹ suy thoái.
Nước Mỹ Ngày một già cỗi hơn, chìm sâu hơn trong nợ nần và chậm hơn trong
tăng trưởng
Hãy bắt đầu với quy mô thâm hụt mậu dịch của Mỹ.Xét về con số tuyệt đối,
Hoa Kỳ nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu với Trung Quốc gần 1 tỷ đôla mỗi ngày. Đây
không phải lỗi đánh máy, hàng tỷ chứ không phải hàng triệu.Còn xét về con số tương
đối, mức thâm thủng cũng đem lại sự kinh ngạc không kém. Trung Quốc chiếm đến
khoảng một nửa mức thâm hụt thương mại về hàng hóa của M ỹ và tròn 75% khi loại
bỏ doanh số nhập khẩu dầu mỏ ra khỏi phép tính. Như vậy, suy luận lô-gích từ các

thấp dưới giá trị thực: khoảng 6 tệ ăn 1 đô-la. Đồng tệ siêu rẻ này đến lượt nó trở thành
một thứ trợ cấp hấp dẫn cho các nhà xuất khẩu Trung Quốc, trong khi lại là thứ thuế
nặng đánh lên hàng xuất khẩu của Mỹ. Kết cục của chính sách thao túng đồng tiền
này, song hành cùng các thủ đoạn thương mại bất công khác như đã được đề cập, đã
gây nên căn bệnh thâm thủng mậu dịch mãn tính của Hoa Kỳ mà chúng ta đã mổ xẻ,
phân tích ở trên.
Còn đây là chìa khóa cho vấn đề thâm hụt: sự bất cân xứng mậu dịch Mỹ-Trung
sẽ không bao giờ tồn tại trong thế giới thương mại tự do, khi mà Trung Quốc thả nổi tự
do đồng tiền của mình cũng như bao đồng tiền thả nổi khác trên thế giới
như yên Nhật, real Bra-xin, franc Thụy Sỹ, ru-pi Ấn Độ, và đô-la M ỹ.
Trong một thế giới tự do mậu dịch đặc trưng bởi các tỉ giá được thả nổi hoàn
toàn, sự bất cân xứng thương mại Mỹ-Trung sẽ không bao giờ hiện diện, bởi vì khi
mức thâm hụt tăng lên, giá trị đồng đô-la sẽ giảm tương đối với đồng tệ. Khi đô-la rớt
giá, hàng xuất khẩu của Hoa K ỳ sang Trung Quốc sẽ tăng lên, hàng nhập từ Trung
Quốc sẽ giảm, và mậu dịch sẽ quay về vị trí cân bằng. Tuy nhiên, bằng cách neo đồng
tệ vào đồng đô-la, một Trung Quốc bảo hộ đã làm đảo lộn tiến trình điều chỉnh thương
mại tự nhiên này, thậm chí nó còn làm suy yếu cơ cấu mậu dịch tự do toàn cầu vốn
dựa trên triển vọng các bên cùng có lợi.
Tiểu luận môn học Tài chính quốc tế
GVGD: TS. Mai Thu Hiền15

Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu một chiến dịch hiệp đồng tung ra các răn đe
kinh tế chống lại Hoa Kỳ, ngụ ý rằng họ có thể thanh lý số trái phiếu Mỹ khổng lồ họ
đang nắm giữ, nếu Washingt on áp đặt các trừng phạt mậu dịch… Được mô tả như là
“phương án chiến tranh hạt nhân” trên báo chí nhà nước của Trung Quốc, hành động
đó có thể kích hoạt một cuộc sụp đổ đồng đô-la… Nó cũng làm lãi suất trái phiếu
chính phủ Mỹ tăng vọt, làm chao đảo thị trường nhà đất và có lẽ sẽ đẩy nền kinh tế


nhà xuất khẩu được nhận lãi suất khoảng 4% trên các trái phiếu trung hòa tiền này. Kế
tiếp, chính phủ Trung Quốc xoay vòng và tái đầu tư những tờ đô-la này vào trái phiếu
chính phủ Hoa Kỳ với lãi suất thấp hơn 2% . Trung Quốc do đó mất 2% hay nhiều hơn
về lãi suất cho mỗi đô-la Mỹ được trung hòa, và khoản lỗ lã này lên đến hàng tỷ đô-la.
Câu hỏi là tại sao Ngân hàng Trung ương Trung Quốc sẵn sàng gánh khoản lỗ
khổng lồ như vậy ? Câu trả lời là bởi vì đảng Cộng sản Trung Quốc quan tâm nhiều
hơn đến việc tạo công ăn việc làm để duy trì sự ổn định chính trị và sự toàn trị đất
nước so với việc kiếm tiền thực tế. Đó là một trong những điều khác biệt lớn giữa chủ
nghĩa tư bản M ỹ thực dụng và chủ nghĩa tư bản nhà nước Trung Quốc đã bị bóp méo
qua chủ trương “lợi mình – hại người”. Và đừng bao giờ nghi ngờ rằng trong quá trình
thao túng tiền tệ có tổng bằng không này, rất nhiều công ăn việc làm mà Trung Quốc
lấy được sẽ bằng đúng số việc làm bị mất đi tại Hoa Kỳ.
Trên thực tế, quá trình thao túng tiền tệ này đã tích lũy được một quỹ dự trữ
ngoại hối trên hai nghìn tỷ đô-la Mỹ do Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc nắm giữ, mà
nay đã nghiễm nhiên trở thành một ngân hàng cho vay cầm cố của người Mỹ. Để hiểu
hết ý nghĩa con số gây sốc này, chúng t a nên biết nó còn lớn hơn tổng sản phẩm quốc
dân của Ấn Độ hay Canada, và gần bằng nếu so với nước Anh. Nó cũng lớn hơn GDP
của cả ba nước Hàn Quốc, M exico, và Ireland gộp lại!
Con số khổng lồ này cũng có nghĩa rằng: Trung Quốc có thể đem quỹ dự trữ
ngoại hối của họ mua quyền kiểm soát trong tất cả công ty lớn của Mỹ có niêm yết
trên danh sách chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones, gồm cả những gã khổng lồ
như Microsoft, Exxon, và Walmart, rồi tiền còn dư lại vẫn đủ để mua cổ phần đa số
của Apple, Intel, và Ford. Chính xác là sự tích lũy khổng lồ quỹ dự trữ ngoại hối bằng
đô-la Mỹ cho phép đảng Cộng sản Trung Quốc có cơ sở đe dọa “tấn công hạt nhân” hệ
thống tài chính Hoa Kỳ. Như He Fan thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc đã nói
khi đe dọa sử dụng “phương án tấn công hạt nhân” về tài chính, rằng nếu giả sử Trung
Quốc bắt đầu bán tháo đô-la, "sự rớt giá thê thảm của đồng đô-la sẽ xảy ra". Và như
trích dẫn ở đầu chương đã khéo léo mô tả, sự sụp đổ đồng đô-la “sẽ làm lãi suất trái
phiếu Mỹ tăng vọt, làm chao đảo thị trường nhà đất và có lẽ sẽ đẩy nền kinh tế Hoa Kỳ

Sự kiện Trung Quốc giúp chúng ta tài trợ các chương trình, như chương trình
kích thích tài chính hàng loạt của Hoa Kỳ, cũng như cám dỗ về việc in tiền dễ dàng
của Cục Dự trữ Liên bang M ỹ không phải là một sự chua chát bình thường. Sau rốt,
phần lớn bởi vì mức thâm hụt hút máu với Trung Quốc mà các chính khách Mỹ cảm
thấy họ cần tiếp tục mồi nước cho cỗ máy bơm kinh tế bằng các chi tiêu thâm thủng,
thậm chí cả khi chúng ta tiếp tục lún ngày một sâu vào nợ nần với một chế độ chuyên
chế, bòn rút cạn kiệt từ các nhượng bộ của Mỹ.
Tiểu luận môn học Tài chính quốc tế
GVGD: TS. Mai Thu Hiền18

Thực tế, toàn bộ quá trình đáng buồn này mà trong đó Trung Quốc đóng vai người
cho vay thế chấp của nước Mỹ, là một phần của cuộc “mặc cả với Quỷ” mà Tổng thống
Barrack Obama đã mắc phải ngay từ lúc nhậm chức và quên lời hứa sẽ mạnh tay với chủ
nghĩa con buôn Trung Quốc. Ởđây, chúng ta cần nhớ rõ rằng trong chiến dịch tranh cử
2008, tại các bang công nghiệp chủ chốt vẫn còn đang do dự như Illinois, Michigan, Ohio,
và Pennsylvania, ứng cử viên tổng thống Barack Obama đã hứa đi hứa lại rằng sẽ chấm dứt
các thủ đoạn thương mại không công bằng của Trung Quốc.
Nhưng từ khi nhậm chức, Bộ Tài chính của Tổng thống Obama, dẫn đầu bởi
Timothy Geithner như đã đề cập ở trên, đã từ chối nhiều lần việc quy tội Trung Quốc
là quốc gia thao túng tiền tệ. Đáng tiếc là, chính một lời quy tội như vậy sẽ cho phép
Hoa Kỳ áp đặt các nghĩa vụ bồi hoàn thích hợp, nhằm loại bỏ một trong các vũ khí
quan trọng nhất của chủ nghĩa con buôn Trung Quốc. Nhưng thay cho việc thực thi lời
hứa khi tranh cử, Tổng thống Obama đã chọn một cuộc mặc cả nguy hiểm với Quỷ:
“Ngài, Trung Quốc, hãy tiếp tục mua trái phiếu của chúng tôi, đổi lại chúng tôi sẽ
không áp dụng bất kỳ hành động nào đáng kể để cải cách mậu dịch”. Bằng cách này,
Tổng thống đã sai lầm khi đặt chính trị và nhu cầu tài chính trước mắt của nội các ông
ta lên trên triển vọng phục hồi kinh tế dài hạn của Hoa Kỳ. Đây là sai lầm chết người,

không khí ở Bắc Kinh thì trong lành, người Tây Tạng mong muốn là một phần của
Trung Quốc, người dân được phát biểu tự do ở Thượng H ải, và phi thuyền thăm dò
M ặt Trăng của Trung Quốc cho thấy chị Hằng được tạo ra từ phó mát Thụy Sĩ.
Trong thực t ế, với các kiểu trả lời vô lý như vậy trước áp lực quốc t ế của các
lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc, thật khó để nói việc chối bỏ mình đang thao túng
tiền tệ của Trung Quốc là giống với bi kịch Shakespear hay hài kịch của Molière. Sau
cùng, trong số các quốc gia hưởng lợi từ một đồng nhân dân tệ mạnh hơn, Trung Quốc
là nước hưởng lợi nhất.
Đầu tiên, một đồng tệ mạnh lên sẽ khắc phục lạm phát đang gia tăng nhanh chóng ở
Trung Quốc, vì một đồng tệ mạnh sẽ hạ nhiệt giá dầu, nguyên liệu, và vô số chi phí đầu vào
mà Trung Quốc cần để vận hành các nhà máy. Như một phần thưởng chống lạm phát quan
trọng, một đồng tệ mạnh cũng nhanh chóng chặn đứng các dòng tiền nóng đầu cơ đang thổi
phồng cả thị trường chứng khoán và bong bóng nhà đất Trung Quốc.
Điều quan trọng nhất là đồng tệ mạnh sẽ cải thiện đáng kể sức mua của người
tiêu dùng nghèo khó ở Trung Quốc. Bằng cách này, cải cách tiền tệ sẽ làm Trung Quốc
ít phụ thuộc hơn nhiều vào mức xuất khẩu ra thị trường thế giới –một điểm yếu được
mô tả như gót chân Achilles của mô hình tăng trưởng Trung Quốc.
Không may, các lãnh đạo Trung Quốc từ chối chấp nhận lý lẽ thuyết phục của
thông điệp này. Thay vào đó, họ bảo vệ quan điểm không khoan nhượng bằng tuyên
bố rằng đồng tệ mạnh lên sẽ hủy hoại nền kinh t ế Trung Quốc do xuất khẩu sẽ giảm
Tiểu luận môn học Tài chính quốc tế
GVGD: TS. Mai Thu Hiền20

mạnh. Nhưng đó cũng là một cách khác để nói phương thức duy nhất giữ Trung Quốc
tiếp tục phát triển là bằng cách làm nghèo đi phần còn lại của thế giới. Đây cũng rất có
thể là thông điệp cho thấy một trong những mục tiêu quân sự và chiến lược lâu dài của
Trung Quốc chính là làm nghèo phần còn lại của thế giới và đặc biệt là làm suy nhược

một đối tác t hương mại. Trong khi đó thặng dư t hương mại hàng năm của Trung Quốc
vào thời điểm đó đã vượt 100 tỷ USD và dữ trự ngoại hối cũng trên 800 tỷ U SD (theo
nghiên cứu của Frankel 2006, Zhang and Pan 2004), vì thế các học giả Mỹ cho rằng
Tiểu luận môn học Tài chính quốc tế
GVGD: TS. Mai Thu Hiền21

đồng nhân dân tệ đã được định giá thấp hơn so với giá trị thực tế từ 15 đến 35% và cần
phải tăng mức tối thiểu một lần là 15%. Về vấn đề Mỹ nóng vội như vậy trong việc
gây sức ép Trung Quốc tăng giá đồng nhân dân tệ là do ba lý do chính sau.
Thứ nhất, nhìn từ mục tiêu ngắn hạn, Trung Quốc chỉ cần liên hệ đến kế hoạch
của Mỹ do Chính quyền Obama đưa ra là t ăng gấp đôi kim ngạch xuất khẩu trong
vòng 5 năm tới, cũng như sự phụ thuộc cao độ vào xuất khẩu trong quá trình phục hồi
của nền kinh tế Mỹ, thì đã có thể thấy việc các chính khách quan trọng của Mỹ gây sức
ép với Trung Quốc, t hị trường nhiều khả năng trở thành điểm đến xuất khẩu lớn nhất
của hàng hóa M ỹ, yêu cầu Trung Quốc tăng giá đồng nhân dân tệ là rất rõ ràng.
Thứ hai, cùng với suy thoái của kinh tế toàn cầu, con số thâm hụt tài chính
khổng lồ của M ỹ cũng như tỷ lệ thất nghiệp trong nước Mỹ, khiến rất nhiều người Mỹ
lo ngại về khoản trái phiếu Mỹ mà Trung Q uốc có tron g tay. Một mặt người Mỹ lo
ngại Trung Quốc bất ngờ giảm bớt lượng nắm giữ trái phiếu sẽ tạo ra đòn tấn công rất
lớn đối với nền kinh tế Mỹ. Mặt khác cũng lo ngại sự gia tăng trái phiếu Mỹ mà Trung
Quốc nắm giữ trong tay sẽ khiến cho sự phụ thuộc tài chính của Mỹ vào Trung Quốc
gia tăng. Vậy là gây sức ép để đồng nhân dân tệ t ăng giá, khiến cho giá trị trái phiếu
Mỹ mà Trun g Q uốc có trong tay thu hẹp ở mức độ lớn, trở thành biện pháp chiến lược
quan trọng để Mỹ giảm bớt nợ nần.
Thứ ba, đồng nhân dân tệ đang tiến theo phương hướng thực hiện tự do chuyển
đổi và trở thành đồng tiền quốc t ế quan trọng, điều này không chỉ khiến cho nhu cầu
của quốc tế đối với đồng đôla M ỹ giảm mạnh, mà khá nhiều nước có kim ngạch mậu

ninh, ngày nay Mỹ phải hạn chế nhập khẩu và đẩy bộ máy công quyền vào hỗ trợ
doanh nghiệp xuất khẩu nhằm tạo thêm công ăn việc làm cho người dân
Phản ứng của các tổ chức và quốc gia khác
Sau Mỹ, đến lượt những nước đang phát triển như Brazil và Ấn Độ cũng cho
rằng Trung Quốc nên bắt đầu thay đổi chính sách đối với đồng nhân dân tệ. Sự t ăng
giá của đồng nhân dân t ệ rất cần thiết đối với sự cân bằng của kinh tế thế giới. Nếu
Trung Quốc tăng giá đồng nhân dân tệ, tác động tích cực sẽ sớm xuất hiện. Nếu một số
nước kiểm soát tỷ giá hối đoái và cố giữ chúng ở mức thấp, những tác động tiêu cực sẽ
rơi vào các nước thả nổi tỷ giá.
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng lên tiếng ủng hộ Mỹ trong việc kêu gọi Trung
Quốc xem xét nâng giá trị nhân dân tệ. Bởi theo đánh giá của IMF, chính sách thương
mại của Trung Quốc có bất lợi cho các nền kinh t ế khác. Chỉ riêng việc giữ giá nhân
dân tệ ở mức thấp cũng đã ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động xuất khẩu của các nền
kinh tế đang phát triển khác, chứ không chỉ riêng với Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Tại
hội nghị thượng đỉnh Âu - Á mới đây, Chủ tịch EU và Chủ tịch Ủy ban châu Âu nhấn
mạnh với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo rằng châu Âu mong muốn Bắc Kinh
Tiểu luận môn học Tài chính quốc tế
GVGD: TS. Mai Thu Hiền23

phải ấn định một tỉ giá chuyển đổi nhân dân tệ tương xứng với đồng euro để tránh hạn
chế xuất khẩu của châu Âu và từ đó tăng trưởng của châu Âu không bị ảnh hưởng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status