Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ ĐỀ TÀI:
Asia Confronts the Impossible Trinity
Ila Patnaik and Ajay Shah
GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
LỚP: CHNH ĐÊM 2
DANH SÁCH NHÓM
ngày càng mạnh mẽ, các nước này dường như buộc phải để luồng vốn chu chuyển tự
do nhằm phục vụ nhu cầu thu hút vốn để phát triển, tuy nhiên các nước này cũng
muốn thực thi chính sách tỷ giá cố định nhằm đảm bảo chính sách ngoại thương. Hai
điều trên chắc chắn sẽ khiến quốc gia gặp khó khăn trong việc thực thi chính sách tiền
tệ độc lập.
Ngoại trừ các nước Châu Âu, các nước phát triển nhất có một dòng vốn di
chuyển tự do, tỷ giá hối đoái thả nổi, và một chính sách tiền tệ độc lập. Ở châu Á, ví
dụ như Hồng Kông, Trung Quốc có một tỷ giá hối đoái cố định, một dòng vốn di
chuyển tự do, và chính sách tiền tệ không độc lập. Tuy nhiên, nhìn chung các nền
kinh tế châu Á không có khung chính sách tiền tệ xác định , với hầu hết là sự kết hợp
giữ kiểm soát vốn và tỷ giá hối đoái thiếu linh hoạt. Điều này đặt ra câu hỏi thú vị về
Trang 3
sự điều hành của Nhà nước hiện tại về một chính sách tiền tệ khả thi ở Châu Á, và
nhấn mạnh sự cần thiết của một khung chính sách tiền tệ phù hợp.
Bài báo này tập trung vào 11 nền kinh tế lớn ở châu Á: Ấn Độ, Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa (PRC), Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Singapore,
Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Việt Nam và Hàn Quốc. Đây là một nhóm
rất không đồng nhất, từ thành phố-quốc gia như Singapore đến gã khổng lồ như Trung
Quốc và các nền kinh tế nghèo như Ấn Độ đến các nền kinh tế giàu có như Đài Bắc-
Trung Quốc hay Hàn Quốc. Gọi chung là các nền kinh tế như khu vực châu Á-11.
Phạm vi nghiên cứu: Tiến hành điều tra tại khu vực Asia - 11 đứng trên góc d độ
của bộ ba bất khả thi: kiểm soát vốn, chế độ tỷ giá hối đoái, và chính sách tiền tệ độc
lập. Chúng ta có được số liệu thống kê tóm tắt cho mười một nền kinh tế, và cũng tập
trung vào ba nền kinh tế lớn nhất: Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc.
Kể từ khi các quốc gia thất bại vì không làm được những gì mình nói, bài viết
này tập trung vào thực tế hơn là kiểm soát vốn, chế độ tỷ giá có kiểm soát, và các
khuôn khổ chính sách tiền tệ. Cụ thể hơn, tác giả tập trung vào thực tế điều kiện cho
tự do hoá dòng vốn và tỷ giá hối đoái linh hoạt, và những ảnh hưởng của chúng đối
với chính sách tiền tệ được đo lường bằng lãi suất thực ngắn hạn.
2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Trong thời kì mà lạm phát đang trở thành vấn đề nhức nhối, nhất là ở các nước
đang phát triển thì chính sách lạm phát mục tiêu có thể là một lựa chọn tốt.
3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
3.1 Mô hình quản lý kiểm soát vốn : Cơ sở dữ liệu Chinn-Ito
Sử dụng phân tích thành phần chính, Chinn và Ito (2008) đã xây dựng một cơ
sở dữ liệu kiểm soát vốn dựa trên thông tin được cung cấp bởi các nền kinh tế đến cơ
sở dữ liệu AREAR Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Cơ sở dữ liệu xác định một điểm hàng
năm cho mỗi nền kinh tế, với các giá trị khác nhau, từ -1.81 với các tài khoản vốn
hoàn toàn đóng cửa, đến 2,53 cho những nền kinh tế tự do hóa hoàn toàn.
Mặc dù cơ sở dữ liệu thường được sử dụng để phân tích viêc kiểm soát vốn hợp pháp,
nó có những hạn chế nhất định. Đầu tiên, nó không phản ánh được hết việc nới lỏng
dần kiểm soát vốn, vì nó tiếp tục sẽ cung cấp những chỉ số tương tự nếu các điều kiện
Trang 5
không được loại bỏ. Thứ hai, chỉ số tăng đáng kể ở hầu hết các nước công nghiệp lớn
trong những năm gần đây, khi họ giới thiệu các biện pháp liên quan đến phòng chống
rửa tiền, tài trợ chống khủng bố
Hình 1: Tỷ trọng của đo lường theo chỉ số Chinn-Ito trên tất cả các nền kinh tế:
Năm 1970 và 2007
Biểu đồ này cho thấy mật độ phân bố các chỉ số theo phươg pháp đo lường
Chinn-Ito trong việc hợp pháp độ mở của tài khoản vốn trong tất cả các nền kinh tế.
Các line màu xanh và màu đỏ cho thấy các điều kiện trong năm 1970 và 2007. Cả hai
phân phối là hai đỉnh, với nhóm các nền kinh tế mở và một nhóm các nền kinh tế
đóng cửa. Hiện đã có một sự thay đổi đáng kể trong xác suất từ bên trái (chủ yếu là
đóng cửa) đến phần bên phải (chủ yếu là mở). Biểu đồ này cho chúng ta một khung
tham khảo để giải thích thông tin từ cơ sở dữ liệu Chinn-Ito.
Cơ sở dữ liệu Chinn-Ito cho thấy rằng trong những năm qua, hầu hết các quốc
gia trên thê giới đã nới lỏng việc kiểm soát tài khoản vốn. Hình 1 cho thấy mật độ các
cửa. Nền kinh tế tiếp tục tự do hóa nhanh chóng.
3.3 Mô hình Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009)
Mức độ kiểm soát vốn có hiệu quả giúp phát triển khu vực tài chính trong
nước. Tăng sự phức tạp trong hệ thống tài chính có xu hướng làm xói mòn hiệu quả
của kiểm soát vốn theo thời gian. Khi suy nghĩ về hiệu quả của hợp pháp kiểm soát
vốn, điều quan trọng là phải nhìn vào khả năng của hệ thống tài chính trong nước.
Để làm điều này, chúng ta nhắc đến Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009),
người đã phát triển một cơ sở dữ liệu vào sự phát triển lĩnh vực tài chính trong 26 nền
kinh tế mới nổi. Điều này bao gồm tất cả các nền kinh tế Châu Á-11, bao gồm Việt
Nam. Các giá trị của chỉ số này từ 0 (không phát triển hệ thống tài chính trong nước)
đến 1 (hệ thống tài chính trong nước rất có khả năng).
3.4 Mô hình Frankel-Wei
Trong thập kỷ qua, các tài liệu đã cho thấy rằng trong nhiều nền kinh tế, trên
văn bản chế độ tỷ giá hối đoái mà ngân hàng trung ương công bố thì khác nhau đáng
kể so với thực tế thị trường. Điều này đã thúc đẩy một nghiên cứu nhỏ về phương
pháp hướng dữ liệu để phân loại chế độ tỷ giá hối đoái (Reinhart và Rogoff 2004;
Levy-Yeyati và Sturzenegger 2003; Calvo và Reinhart 2002).
Một công cụ có giá trị cho sự hiểu biết trên thực tế chế độ tỷ giá hối đoái là một mô
hình hồi quy tuyến tính dựa trên tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền. Sử dụng từ
Haldane và Hall (1991), mô hình này đã được phổ biến bởi Frankel và Wei (và do đó
cũng được gọi là mô hình Frankel-Wei). Các ứng dụng gần đây của chiến lược này
bao gồm dự toán Bénassy-Quéré, Coeuré, và Mignon (2006), Shah, Zeileis, và
Patnaik (2005) và Frankel và Wei (2007). Trong phương pháp này, một loại tiền tệ
độc lập như đồng Franc Thụy Sĩ (CHF) được chọn là một tùy ý “numeraire”. Nếu ước
tính bằng cách sử dụng đồng rupee Ấn Độ (INR), mô hình ước tính là:
Trang 8
Hồi quy này chọn mức độ mà tỷ lệ INR / CHF dao động để đáp ứng với sự
biến động của USD / CHF tỷ lệ. Nếu nó được neo giữ tỷ giá với Đô la Mỹ (USD), thì
biến động của đồng Yên Nhật (JPY) và Đức Deutsche Mark (DEM) sẽ bằng không.
Trang 9
• Xác định số lượng các vi phạm và các vị trí của phạm dựa trên các thủ tục suy luận
âm thanh.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1 Kiểm soát dòng vốn
Trong các chỉ số đo lường bộ ba bất khả thi, khó nhất là đo lường mức độ hội
nhập tài chính, tức là đo lường mức độ mà một quốc gia tiến hành kiểm soát vốn. Chỉ
số độ đo lường kiểm soát vốn được nhắc tới nhiều nhất hiện nay chính là KAOPEN
do Chin và Ito đề xuất. KAOPEN dựa trên thông tin trong báo cáo hàng năm về cơ
chế tỷ giá và những hạn chế ngoại hối do IMF phát hành (Annual Report on Exchange
Arrangements and Exchange Restrictions - AREAER). Do đó, KAOPEN chỉ cho thấy
một quốc gia về mặt pháp lý (de jure) có tiến hành các chính sách kiểm soát vốn hay
không. Ngoài cách đo lường các mục tiêu của bộ ba theo Chinn và Ito, một còn có
một số thước đo khác như Lane và Milesi-Ferretti (2006) đề xuất đo lường hội nhập
tài chính trên thực tế bằng tỷ lệ tổng nợ và tài sản nước ngoài trong cán cân thanh
toán.
Hình 3: Giá trị trung bình cho khu vực Asia 11 trừ Việt Nam từ 1998 - 2008
Nguồn: cơ sở dữ liệu Chinn – Ito
Trang 10
Hình 4: Giá trị trung bình cho khu vực Asia 11 từ 1994 - 2004
Nguồn : Cơ sở dữ liệu : Lane and Milesi-Ferretti
kiểm soát về mặt pháp lý thì khu vực Asia – 11 sẽ hội nhập một cách nhanh chóng
vào nền kinh tế thế giới.
Không chỉ đo lường mức độ hội nhập trên thế giới, mà mức độ kiểm soát vốn
cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả của việc phát triển khu vực tài chính trong nước.
Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009) đã đánh giá mức độ hội nhập tài
chính bằng việc phát triển một cơ sở dữ liệu với bảng dữ liệu dựa vào các số liệu
trong lĩnh vực tài chính của 26 nền kinh tế mới nổi (bao gồm cả Asia – 11)
Hình 5: Giá trị trung bình của Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009)
đo lường sự phát triển của khu vực tài chính trong nước cho Asia – 11 Trong cả 2 phương pháp (the mean and the median) chúng ta thấy được một sự
tăng trưởng của hệ thống tài chính trước thời kỳ khủng hoảng tài chính Châu Á, sau
đó là một chu kỳ suy thoái. Từ năm 2000 trở đi, cả hai pháp mới cho thấy được xu
hướng tăng trưởng trở lại.
Bảng 3 cho thấy giá trị bằng số trong việc đo lường giá trị trung bình của nền
kinh tế của Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và khu vực Asia – 11. Giá trị trung bình
của Asia – 11 đạt đỉnh điểm là 0.55 vào năm 1995. Nhưng do hậu quả của cuộc khủng
hoảng, con số này đã rớt mạnh còn 0.45 vào năm 2000. Tuy nhiên. đến năm 2001, nền
kinh tế đã bắt đầu phục hồi lại, và đạt được giá trị trung bình là 0.51 vào năm 2006.
Điều này cho thấy, việc kiểm soát vốn về mặt pháp lý đã có ảnh hưởng hơn vào
Trang 13
khoảng giữa năm 1998 – 2004, khi mà chỉ số trung bình đo khả năng của hệ thống tài
chính đang ở mức thấp. Mặc dù, từ năm 2000 trở đi, Ấn Độ và Trung Quốc đã có sự
tăng trưởng, tăng 5%, nhưng vẫn còn tụt hậu so với trung bình của khu vực Asia – 11.
Thậm chí, Hàn Quốc là nước có sự phát triển tương đối khá trong khu vực, đạt 0.6
vào năm 2006 , nhưng vẫn còn tụt hậu so với các nền kinh tế phát triển OECD như
Anh Quốc.
Bảng 3: Chỉ số đo khả năng của hệ thống tài chính
giai đoạn 28/09/1998 – 19/03/2004, Ấn Độ lại cố định tỷ giá đồng Rupee so với đồng
USD, R- bình phương bằng 0.97. Và giai đoạn thứ 3, từ 26/03/2004 – 29/05/2009, có
một sự bất ổn giữa các đồng tiền, làm cho tỷ giá của Ấn Độ cũng thay đổi theo và nó
không còn cố định như giai đoạn 2, R-bình phương bằng 0.81.
Tương tự như Ấn Độ, chế độ tỷ giá hối đoái của Trung Quốc cũng được chia thành
nhiều giai đoạn, nhưng do chế độ tỷ giá tại Trung Quốc vì có nhiều chính sách phức
tạp nên được chia thành 5 giai đoạn
Trang 15
Bảng 5: Chế độ tỷ giá của Trung Quốc trên thực tế
Giai đoạn đầu tiên từ 9/01/1981 đến 01/11/1985, đây là giai đoạn mà sự linh
hoạt về tiền tệ lớn hơn nhiều so với tiêu chuẩn của Trung Quốc – chế độ tỷ giá linh
hoạt – R-bình phương bằng 0.89. Sau đó, Trung Quốc cố gắng cố định tỷ giá với đồng
USD, những giai đoạn sau mặc dù có một sự thay đổi nhỏ trong chế độ tỷ giá nhưng
nó vẫn duy trì một hệ tương đối giữa đồng USD và đồng Trung Quốc – R- square gần
bằng 1. Dó đó, có thể xem là hiện tại chế độ tỷ giá của Trung Quốc là chế độ tỷ giá cố
định so với USD.
Chế độ tỷ giá được xem xét tiếp theo là Hàn Quốc, từ 1981 đến đầu năm 1995,
Hàn Quốc đã áp dụng tỷ giá cố định so với đồng USD, R-bình phương bằng 0.98.
Trong năm 1995, có một sự gia tăng lớn trong linh hoạt tiền tệ và kéo R-bình phương
xuống còn 0.65. Tính linh hoạt trong tỷ giá hối đoái tăng lên đáng kể và đây là một
chế độ linh hoạt hơn nhiều so với Ấn Độ.
Bảng 6: Chế độ tỷ giá của Hàn Quốc trên thực tế
Trang 16
Hình 6: Sự tiến bộ trong chế độ tỷ giá thiếu linh hoạt của khu vực Châu Á
Đồ thị biểu thị chế độ tỷ giá hối đoái của khu vực Châu Á, nó cho thấy một sự
liệu về sự thiếu linh hoạt tỷ giá hối đoái năm 2009 đã được tính toán bằng phương
pháp trong Frankel-Wei. Cơ sở dữ liệu Chinn-Ito đã được sử dụng để đo lường kiểm
soát vốn danh nghĩa trong năm 2007. Phương pháp Lane và Milesi-Feretti đã được sử
dụng để đo lường thực tế tự do hóa dòng vốn trong năm 2007
Phản ứng của Asia – 11 đối với bộ ba bất khả thi thì khác nhau, chẳng hạn như
nền kinh tế của Singapore và Hong Kong đã chọn hình thức nền kinh tế nhỏ và mở,
hoặc không có tính linh hoạt trong tỷ giá, trong khi nền kinh tế như Ấn Độ và Trung
Trang 18
Quốc đã lựa chọn hình thức mở cửa thấp và chế độ tỷ giá cố định. Giữa năm 2000 –
2008, trên thực tế nền kinh tế của Asia -11 đã di chuyển theo hướng hội nhập cao hơn,
ngoại trừ Malaysia, Philippines, và Indonesia. Trong khi đó, tính linh hoạt trong tỷ giá
ở các nước này vẫn duy trì như cũ, ngoại trừ Indonesia có sự giảm sút trong tính linh
hoạt của tỷ giá và Malaysia, Ấn Độ, và Trung Quốc, nơi mà tính linh hoạt trong tỷ giá
tăng lên
.
Trong khuôn khổ của bộ ba bất khả thi, một quốc gia có thể có một tỷ giá hối
đoái cố định và từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập. Tự do hóa dòng vốn với một tỷ giá
hối đoái cố định dẫn đến việc bỏ qua chính sách tiền tệ độc lập, theo kinh nghiệm ở
Hồng Kông. Hội đồng quản trị tiền tệ của Hồng Kông, là một khuôn khổ chính sách
tiền tệ phù hợp, kết quả của tỷ giá tỷ giá hối đoái là lãi suất trong nước biến động .
Một tỷ giá hối đoái thả nổi với tự do hóa dòng vốn cũng phù hợp với khuôn của bộ ba
bất khả thi. Nền kinh tế có tỷ giá hối đoái thả nổi là cóR2 trong khoảng tỷ giá từ 0,4-
0,5. Các nền kinh tế có thể đạt được các sự tự do hóa dòng vốn và chính sách tiền tệ
độc lập. Trong các quốc gia châu Á có Hàn Quốc, Ấn độ là gần nhất với cấu hình do
có những bước tiến lớn nhất theo hướng áp dụng cấu hình tương tự
Vậy, nếu một quốc gia có tỷ giá hối đoái linh hoạt và thực tế vốn đóng tài
khoản có lưu lượng tổng trên cán cân thanh toán cũng như dưới 40% GDP thì nó có
thể thực hiện được chính sách tiền tệ độc lập hay không. Ví dụ, trong cuối những năm
1980, Ấn Độ đã có thể độc lập về chính sách tiền tệ vì thiếu linh hoạt tỷ giá hối đoái
suất danh nghĩa ngắn hạn đã được tái hiện trong thực tế sử dụng tỷ lệ lạm phát hiện
tại. Nhìn chung, lãi suất thực tế đạt giá trị thấp trong một chu kỳ kinh doanh mở rộng
chưa từng có. Trang 20
Sự suy giảm 800 điểm cơ bản trong lãi suất thực tế khi mở rộng chu kỳ kinh
doanh chưa từng thấy nước Trung Quốc là không thể tránh bộ ba bất khả thi, thông
qua sự can thiệp của tiệt trùng hoặc các kỹ thuật khác dựa trên một trong hai kiểm
soát vốn hay áp chế tài chính. Trong khi một loạt các biện pháp đã được áp dụng,
Trang 21
nhưng nó không ngăn chặn được kết quả: cách duy nhất để có được tỷ giá hối đoái cố
định đã có một lãi suất rất thấp trong điều kiện thực tế.
Một phân tích có kết quả tương tự với với Ấn Độ. Mặc dù Ấn Độ có nhiều tính
linh hoạt tỷ giá hơn Trung Quốc, cuối cùng chính sách tiền tệ đã tác động cơ bản về
việc mở rộng để lãi suất thực luôn dương trong suy thoái.
Ở châu Á, Trung Quốc và Ấn Độ đang ở vị trí tốt nhất để duy trì chính sách tiền tệ
độc lập mặc dù có sự thiếu linh hoạt trong tỷ giá, vì thiếu sự mở rộng và sự kém phát
triển trong hệ thống tài chính trong nước. Tuy nhiên, các bằng chứng cho thấy rằng
ngay cả trong hai nền kinh tế này, đều thực hiện chế độ tỷ giá cố định trong chính
sách thuận chu kỳ.
Những hạn chế của bộ ba bất khả thi có thể còn gay gắt hơn ở Malaysia, Đài
Loan, và Thái Lan, trong đó có dòng vốn tự do hơn và hệ thống tài chính phát triển tốt
hơn so với Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng tỷ giá vẫn kém linh hoạt hơn Ấn Độ.
Trong số các nền kinh tế Asia-11, Hàn Quốc là nước có nền kinh tế tiến bộ nhất với
cấu hình chủ đạo là nền kinh tế công nghiệp. Hàn Quốc có sự tự do hóa dòng vốn cao,
và tỷ giá hối đoái linh hoạt nhất ở châu Á. Nó cũng đã có những tiến bộ đáng kể trong
lớn hàng xuất khẩu so với GDP trong rất nhiều những nền kinh tế.
5. Kết luận
Bộ ba bất khả thi khẳng định rằng 1 quốc gia chỉ có thể lựa chọn 2 trong 3 mục
tiêu: tỷ giá thả nổi, vốn di chuyển tự do, và chính sách tiền tệ độc lập. Một quốc gia
khi lựa chọn việc dòng vốn di chuyển tự do và cơ chế tỷ giá cố định thì buộc phải từ
bỏ chính sách tiền tệ độc lập. Trong bối cảnh nền kinh tế Châu Á điển hình, sự gia
tăng tư do hóa dòng vốn trong thực tế đã xảy ra thông qua 2 việc: tự do hóa về mặt
pháp lý cùng với sự phát triển của khu vực tài chính trong nước, và sự trốn tránh trong
việc kiểm soát dòng vốn, điều này có thể dẫn đến một tài khoản vãng lai lớn. Trong
điều kiện này, một chính sách tỷ giá thiếu linh hoạt có thể làm cho chính sách tiền tệ
bị thay đổi.
Trong bối cảnh thị trường đang nổi lên, các dòng vốn thuận chu kỳ đặc biệt
quan trọng. Vào thời điểm tốt và điều kiện chu kỳ kinh doanh đang nổi lên, thì dòng
Trang 23
vốn có xu hướng dịch chuyển vào trong nước. (dư thừa đồng ngoại tệ tỷ giá tăng
(đồng ngoại tệ/đồng nội tệ). Để ngăn chặn sự tăng giá của tỷ giá này, ngân hàng trung
ương sẽ mua đô la, lãi suất trong nước giảm. Ngược lại, khi nền kinh tế đang trong
tình trạng suy thoái, dòng vốn có xu hướng rời khỏi đất nước. Ngân hàng trung ương
giúp chống lại điều này bằng cách bán USD, do đó làm tăng lãi suất trong nước. Dòng
vốn chảy thuận chu kỳ, do đó tương tác với tỷ giá cố định để kích thích chính sách
tiền tệ thuận chu kỳ. Đây là ý nghĩa mà trong đó chính sách tiền tệ bị lệch đi trong bối
cảnh thị trường đang nổi lên
Do đó, trong bài nghiên cứu này cho thấy rằng việc thực hiện một chính sách
tiền tệ phù hợp thì quan trọng hơn là tự do hóa dòng vốn. Trong khi các nước Châu Á
đã đưa ra các quy định tránh tự do hóa dòng vốn, nhưng trên thực tế tiến trình này vẫn
tiếp tục xảy ra.
Nền kinh tế của Asia – 11 đã tiến đến việc tự do hóa khu vực tài chính nội địa.
Giá trị trung bình của Dorrucci, Meyer-Cirkel và Santabarbara (2009) đo lường năng
lực hệ thống tài chính trong nước tăng từ 0.45 vào năm 2000 đến 0.51 vào năm 2006.
Do đó, hiệu quả của việc kiềm soát dòng vốn bị giảm khi hệ thống tài chính quá phức
sách vốn di chuyển tự do, độc lập tiền tệ và chính sách tỷ giá hối đoái thiếu
linh hoạt so với PRC
Một trong những nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng có hệ thống là việc
các hộ gia đình, ngân hàng và công ty đã quá trông chờ vào 1 tỷ giá hối đoái cố định.
Nhưng khi có 1 sự thay đổi trong tỷ giá sẽ tạo ra sự khó khăn đáng kể cho việc duy trì
chính sách tỷ giá cố định, đặc biệt là khi tỷ giá hối đoái thay đổi quá lớn. Do đó, giai
đoạn đầu trong quá trình cải cách, các nước Châu Á cần nhấn mạnh đến sự linh hoạt
của tỷ giá và sự phát triển của thị trường phái sinh tiền tệ. Sự linh hoạt trong tỷ giá hối
đoái sẽ khiến cho các tác nhân kinh tế có động lực để quản lý rủi ro, trong khi thị
trường phái sinh tiền tệ sẽ giúp cho các tác nhân kinh tế này thực hiện được những
điều mong muốn. Nhìn chung, nền kinh tế Châu Á đã xem nhẹ việc tuân theo quy
Trang 25
trình, đã tiến tới việc tự do hóa dòng vốn sớm, trong khi chưa hoàn thiện trong việc
linh hoạt về tỷ giá hối đoái.