Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế
Nhóm 7 – Lớp CH 6B TM 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Địa chỉ : Số 91, Chùa Láng, Quận Đống Đa, Hµ Néi
o0o
BÀI TIỂU LUẬN
Môn: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đề tài :
“Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế và
cảnh báo với Việt Nam”
Giảng viên : PGS.TS Đặng Thị Nhàn
Người thực hiện : Học viên Lê Hoàng Mai
Học viên Lê Thị Hồn g Vân
Học viên Nguyễn Ngọc Quỳnh
Lớp : Thương Mại 6B
1.Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997-1998 144
2. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008-2009 177
III. Các biện pháp và bài học đối với Việt Nam 19
1. Phối hợp hài hòa sự can thiệp của Nhà nước và sự điều tiết của thị trường. 20
2. Coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính 2 mặt của các giải pháp, chính sách 20
3. Những giải pháp và bài học đối với doanh nghiệp của Việt Nam 21
Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế
Nhóm 7 – Lớp CH 6B TM 3
Lời nói đầu
Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sự phát triển của thị
trường tài chính, thị trường chứng khoán, ngân hàng. Các tổ chức tín dụng đã và đang thu
hút m ột lượng lớn n guồn ngoại tệ đầu tư từ nước ngoài. Đây là nguồn ngoại tệ lớn, quan
trọng, giúp tốc độ tăng trưởng kinh tế phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh đó, nó hàm chứa
những nguy co rủi ro cao và có khả nang xảy ra khủng hoảng tài ch ính – kinh tế.
Để sử dụng tốt nguồn n goại tệ này đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được những cơ
chế, chính sách phù hợp, muốn làm được như vậy, mọi người cần tìm hiểu các bài học kinh
nghiệm từ những cuộc kh ủng hoảng kinh tế - tài chính - tiền tệ đã xảy ra trước đây trong
khu vực và trên thế giới.
I. Lý thuyết về khủng hoảng tài chính:
1.Khái niệm về khủng hoảng tài chính:
Thuật ngữ khủng hoảng tài chính được sử dụng khá phổ biến nhằm mô tả các tình
ức giá t
ài s
ản t
ài chính (S&P 500,
NasDaq…)
S
ản l
ư
ợng (GDP)
Đ
ầu t
ư tài chính
Đ
ầu t
ư th
ực
Bong bóng giá tài s
ản (chứng khoán, bất
động sản)
M
ức giá chung của nền kinh tế (lạm phát,
CPI…)
Thư
ờng li
ên quan đ
ến d
òng c
hay khủng hoảng cán cân thanh toán, nổ ra khi hoạt động đầu cơ tiền tệ dẫn đến sự giảm
giá một cách đột ngột của đồng tiền nội tệ hoặc trường hợp buộc các cơ quan có trách
nhiệm phải bảo vệ đồng tiền của nước mình bằng cách nâng cao lãi suất hay chi ra một
khối lượng lớn dự trữ ngoại hối.
- Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis), lý thuyết về khủng hoảng ngân hàng cho
rằng tính bất ổn (dễ đổ vỡ) của hệ thống ngân hàng bắt nguồn từ những thông tin bất cân
tương xứng, là tình trạng khi một bên quan hệ kinh tế hay giao dịch có ít thông tin về phía
bên kia.
- Khủng hoảng kép (Twin Crisis), Khủn g hoảng kép xảy ra khi khủng hoảng tiền tệ
và khủng hoảng ngân hàng xảy ra đồng thời với nhau.
- Khủng hoảng nợ nần: Là cuộc khủng hoảng xảy ra ở các nước đang phát triển vào
thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Có nhiều khả năng đánh giá khả năn g thanh toán nguồn vay
nước n goài của một quốc gia, trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất là tỷ lệ thanh toán nợ nước
ngoài tức là tỷ lệ giữa nguồn vay nước ngoài cả gốc và lãi mà quốc gia đó trả trng một năm
trên tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đó trong năm đó hoặc trong năm trước đó.
Bình thường chit tiêu này nằm dưới 20%, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 20% chúng tỏ vốn vay
nước n goài của quốc gia đó quá lớn.
4.Tóm lược một số cuộc khủng hoảng tài chính tiêu biểu
4.1.Cơn sốt hoa Tulip ở Hà Lan 1637
Các giao dịch tương lai (futures) được thực hiện để đặt mua trước những bôn g hoa
tulip vào cuối mùa thu hoạch bất chấp sắc lệnh cấm bán khống năm 1610 (được nhắc lại
năm 1621, 1630, 1636). Năm 1634, các nhà đầu cơ bắt đầu tham gia thị trường. Năm 1635,
Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế
Nhóm 7 – Lớp CH 6B TM 5
một thương vụ bán 40 búp hoa tulip giá 100.000 florin. Ở thời điểm này 1 tấn bơ có giá
100 florin; lương của một lao động có kỹ năng 150 f/năm; Giá củ tulip tiếp tục tăng suốt
năm 1636 và các hợp đồng giao dịch chỉ còn được trao đổi bằng m iệng (wind trade) bởi vì
không có một búp hoa t ulip nào thực tế được trao tay. Điều gì đến cũng phải đến. Vào
Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế
Nhóm 7 – Lớp CH 6B TM 6
4.4.Khủng hoảng nợ các nước Châu Mỹ La tinh thập niên 1980
- Trong thập niên 1970, các nước Mỹ la tinh vay một lượng lớn vốn từ bên ngoài để
phát triển cơ sở h ạ tầng.
- Nợ nước ngoài tăng từ 75 tỷ đô-la vào năm 1975 lên 315 tỷ đô-la vào năm 1983,
bằng 50% GDP của các nước này.
- Phần nợ gốc và lãi vay phải trả năm 1982 lên đến 66 tỷ đô-la, tăng từ 12 tỷ đô-la
năm 1975.
- Tháng 08/1982, Mexico tuyên bố không trả được nợ.
- Các ngân hàng không cho các nước Mỹ la linh gia hạn nợ hay quay vòng vốn vay
- Đồng tiền mất giá, lãi suất thực tăng.
- Hệ quả: các nước Mỹ la tinh bỏ chiến lược thay thế nhập khẩu.
4.5.Ngày thứ Hai đen tối 1987
Ngày 19/10/1987 được xem là ngày thứ Hai đen tối khi thị trường chứng khoán trên
toàn thế giới sụp đổ với sự sụp giảm mạnh giá chứng khoán chỉ trong thời gian ngắn. Vụ
sụp đổ bắt đầu tư Hong Kong, sau đó lan sang châu Âu rồi tác động thị trường chứng
khoán Hoa Kỳ. Chỉ số công nghiệp Dow Jones (DJIA) giảm 508 điểm, còn 1737,74 điểm
(giảm 22,61%). Đây được xem là một trong những mức giảm mạnh nhất của chỉ số DJIA
trong một ngày trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Các thị trường chứng khoán khác
cũng không khá hơn. Vào cuối tháng 10, thị trường chứng khoán ở Hong Kong giảm
45,5%, Úc giảm 41,8%, Anh giảm 26,45%, Canada giảm 22,5%.
4.6.Khủng hoảng cơ chế tỷ giá châu Âu 1992 – 1993
- Sau sự kiện thống nhất nước Đức vào năm 1990, thâm hụt ngân sách của nước này
tăng lên nhanh chóng.
- Phản ứng lại chính sách ngân sách mở rộng, Bundesbank, vốn siêu độc lập, đã thắt
chặn chính sách tiền tệ và đẩy lãi suất lên cao.
- Các n ước thành viên của EMS khác buộc phải tăng lãi suất để duy trì tỷ giá hối
tới sự sụp đổ của nhiều công ty tài chính.
- Những người vay ngoại tệ trước đây tin rằng tỷ giá hối đoái được cố định thì nay
bắt đầu lo ngại v à cũng mua đô la vào để đảm bảo có đô la để trả nợ khi đáo hạn. Chính
phủ Thái Lan ban đầu dùng dự trữ n goại tệ để bảo vệ tỷ giá nhưng cũng không có khả năng
duy trì được lâu. Đồng baht được thả nổi vào đầu tháng 7 năm 1997 và ngay lập tức mất
giá 10%, rồi giá trị tiếp tục giảm xuống sau đó.
- Khủng hoảng nhanh chón g lan ra Hàn Quốc, Malaysia và In donesia
Khủng hoảng kép
- Đi liền với kh ủng hoảng tiền tệ là khủng hoảng ngân hàng. Lãi suất cao trong thời
gian chính phủ bảo vệ tỷ giá buộc cả các tổ chức tài chính và các đối tượng vay vốn lâm
vào tình thế khó khăn.
- Khi đồng nội tệ bị phá giá, trách nhiệm nợ phải trả tính ra đồng nội tệ của các
khoản nợ nước ngoài tăng vọt, kéo theo sự phá sản của nhiều doanh nghiệp và tổ chức tài
chính.
- Cả các nhà đầu tư đều muốn chuyển vốn ra. Ngân hàng đòi lại vốn cho vay, từ chối
đảo nợ và ngưng cho vay mới; còn các nhà đầu tư chứng khoán thì bán chứng khoán, đổi
Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế
Nhóm 7 – Lớp CH 6B TM 8
ra ngoại tệ và chuyển r a ngoài. Riêng trong năm 1997, hơn 20 tỷ USD ròng được đưa ra
khỏi 5 nước Đông Á chịu khủng hoảng, trong khi trong năm 1996 vẫn còn nhận được gần
66 tỷ USD.
4.9.Khủng hoảng ở Argentina 2001 – 2002
- Tỷ giá được cố định và nợ chính phủ tăng cao
- Khoản nợ chính phủ 155 tỷ USD không có khả năng chi trả
- Người dân đồng loạt rút tiền khỏi ngân hàng; chính phủ ra lệnh đóng băng tài
khoản tiền gửi và đặt mức tối đa tiền được rút là 1000$/tháng
- Nhiều ngân hàng và doanh nghiệp đứng trên bờ vực phá sản
- Cơ chế hội đồng tiền tệ được xóa bỏ; đồng peso bị phá giá từ 1 peso/USD lên 4
sẽ có động cơ rút tiền. Các nhà k inh tế gọi động cơ bắt chước chiến lược của người khác là
sự bổ trợ chiến lược.
Các nhà kinh tế cũng cho rằng nếu người ta có động cơ đủ mạnh để làm nhữn g điều
tương tự mà họ kỳ vọng người khác sẽ làm thì lời tiên tri tự phát sinh (self-fulfilling
prophecies) sẽ xảy ra.9 Ví dụ, nếu các nhà đầu tư kỳ vọng VND sẽ tăng thì điều này sẽ làm
cho VND tăng giá; nếu người gửi tiền cho rằng ngân hàng sẽ phá sản thì điều này sẽ làm
cho ngân hàng phá sản.10 Vấn đề lạm phát của Việt Nam thời gian qua cũng có tính chất
tương tự mà người ta gọi là lạm phát kỳ vọng.
- Đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính có nghĩa là việc vay mượn để tài trợ cho đầu tư. Khi một nhà đầu
tư dùng tiền của mình để đầu tư thì nếu thua lỗ, trong tình huống xấu nhất, người này chỉ
mất tiền của mình mà thôi. Nhưng khi vay nợ để đầu tư thì kết quả có thể làm cho thu nhập
tiềm năng tăng lên nhưng cũng có thể thua lỗ nhiều hơn những gì nhà đầu tư có. Do đó,
đòn bẩy tài chính có thể khuếch đại thu nhập nhưng cũng có thể tạo ra rủi ro phá sản. Nếu
sự phá sản xảy ra thì có nghĩa là côn g ty đã thất bại trong việc đáp ứng các lời hứa trả nợ
cho các công ty khác, tức có nghĩa là từ rắc rối tài chính của côn g ty này có thể lan sang
thành của công ty khác.
- Sự không tương thích giữa nợ và tài sản
Một yếu tố khác được cho là có đóng góp đến khủng hoảng tài chính là sự không
tương thích giữa nợ và tài sản. Chẳng hạn, các ngân hàng thương mại chào m ời các tài
khoản tiền gửi có thể rút tiền ở bất cứ thời điểm nào nhưng lại cho các doanh nghiệp hay
gia đình vay dài hạn. Sự không tương thích giữa nợ ngắn hạn và tài sản dài hạn của ngân
hàng được xem là một trong những lý do có sự tháo chạy ngân hàng xảy ra (khi người gửi
tiền hoảng loạn và quyết định rút tiền của mình nhanh hơn là ngân hàng có thể thu hồi nợ
vay).
Đứng ở phương diện quốc gia, một vài chính phủ ở các nền kinh tế mới nổi, vì một
lý do nào đó, không thể bán trái phiếu có mệnh giá nội tệ, thay vào đó họ bán trái phiếu có
mệnh giá ngoại tệ. Điều này có thể tạo ra sự không tương thích giữa mệnh giá ngoại tệ của
nợ với tài sản hay thu nhập có thể kiếm được (doanh thu thuế bằng nội tệ). Do đó, các
chính phủ này sẽ gặp r ủi ro vỡ nợ quốc gia nếu tỷ giá có sự dao động mạnh hoặc khi nguồn
dụ như cuộc khủng hoảng tài chính Thái Lan năm 1997 đã nhanh chóng lây lan đến các
quốc gia khác như Indonesia, Hàn Quốc…
6.Dự báo nguy cơ khủng hoảng tài chính ở Việt Nam:
Nguyên nhân:
1. Sự bổ trợ chiến lược và lời tiên tri tự phát sinh trên thị trường tài chính
2. Đòn bẩy tài chính
3. Sự không tương thích giữa nợ và tài sản
4. Sự không chắc chắn và tâm lý bầy đàn
5. Thất bại trong việc điều tiết
6. Sự lừa dối
Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế
Nhóm 7 – Lớp CH 6B TM 11
7. Sự lây lan
Trong bẩy nhân tố trên, Việt nam đều có “dính ” đến cụ thể theo khảo sát như sau:
- Nguyên nhân 1: Giống như lạm phát kỳ vọng, nếu như chúng ta kỳ vọng lạm phát tăng
cao thì lạm phát thực tế cũng sẽ tăng cao thì sự kỳ vọng v ào việc giảm giá của nhà đầu tư
sẽ dẫn đến động cơ rút tiền ra khỏi thị trường tài chính. Nói một cách dễ hiểu hơn là khi
đám đông dự báo điều gì và hành động thuận theo dự báo đó thì tương lai sẽ xảy ra như dự
báo.
Theo chúng tôi nghiên cứu, lời tiên tri là thuật n gữ tồn tại ngay trong hành động tiêu dùng.
Ví dụ như thời trang hay xu thế tiêu dùng cũng tương tự. Bạn chuẩn bị quần áo cho mùa
xuân, đọc báo, tạp chí nước ngoài, các chuyên gia quốc tế dự báo rằng: mùa xuân tới sẽ là
váy cực ngắn. Dân sành điệu kháo với nhau mùa x uân tới thời trang sẽ là mốt như vậy! Và
vì mình là sành điệu, mình phải đón đầu. Cuối cùng, chưa tới mùa xuân đã có váy ngắn.
Những người tiêu dùng này sẽ kháo với nhau: “Ông thấy tôi nói có đúng ch ưa, sành điệu
chưa”? Còn chuyên gia thì: “Thấy chưa? Chúng tôi đã dự báo mà”.
Tiêu dùng vốn là một hiện tượng chịu tác động của xã hội cho nên tính lây lan rất dễ.
Người tiêu dùng mong muốn được khẳng định, được thể hiện và họ mua sắm. Và khi họ
(4,27).
Và như một tất yếu, để đáp ứng nhu cầu vốn quá lớn của các doanh nghiệp, h ệ thống ngân
hàng đã không ngừn g bành trướng về cả số lượng lẫn quy mô. Tính đến cuối năm 2011,
quy mô vốn điều lệ của khối ngân hàng Việt Nam đã tăng hơn 9 lần so với cuối năm 2004.
Tỉ lệ dư nợ tín dụng n gân hàng/GDP của Việt Nam trong các năm qua cũng tăng lên ở mức
chóng mặt. Tỉ lệ này đã tăng từ mức thấp khoảng 40% vào những năm 2000 lên mức hơn
130% vào năm 2010; quá nhanh so với Philippines, Indonesia, Thái Lan và Malaysia.
Nguồn vốn dễ dãi cũng đã khuyến khích các doanh nghiệp nội địa đầu tư đa ngành vào
những ngành nhiều rủi ro, nhạy cảm như bất động sản, chứng khoán và đã bị ảnh hưởng
tiêu cực khi các lĩnh v ực này đón g băng.
Và khi doanh nghiệp nguy khốn thì ngân hàng cũng lao đao. Dù trên báo cáo tài chính của
nhiều ngân hàng, tỉ lệ nợ xấu vẫn không cao nh ưng theo ông Xuân Thành, các khoản m ục
nợ xấu đã được ngân hàng che giấu và chuyển sang các hạng mục khác như khoản phải
thu, tài sản khác và nợ khác, khiến cho các hạng mục này tăng lên rất nhanh (dựa trên so
sánh báo cáo tài chính năm 2011 và 2010 của 37 ngân hàng). Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế
Nhóm 7 – Lớp CH 6B TM 13 Tỉ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu theo ngành kinh doanh
- Nguyên nhân 4: Tâm lý bầy đàn ở Việt Nam thể hiện rất rõ rệt, nhất là trong việc đầu cơ
vàng, bất động sản và thị trường chứng khoán.
Ví dụ gần đây nhất là việc ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt đã làm các nhà đầu tư đua nhau
bán cổ phiếu, rút tiền vay ngân hàng….Trong vòng 03 ngày thị trường chứng khoán lao
dốc tới hơn 10% với giá trị thị trường chứng khoán là 800.000 tỷ đồng, có thể thấy số tiền
mà nhà đầu tư mất đi là không hề nhỏ. Thị trường vàng cũng biến động mạnh khi giá lên
gần 45 triệu đồng/lượng, tăng 5% so với m ột tuần trước đó. Tiếp tay cho cơn sốt này một
Do khuôn khổ bài viết có hạn n ên tác giả đi sâu vào nghiên cứu tác độn g của hai
cuộc khủng hoảng tài chính tới Việt Nam: Cuộc kh ủng hoảng tài chính Châu Á n ăm 1997-
1998 và Cuộc khủng hoảng tài ch ính thế giới 2008-2009.
1.Tác động của cuộc khủng hoả ng tài chính Châu Á năm 1997-1998
1.1 Tác động đến đồng nội tệ
Khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực không có ảnh hưởng lớn tới thị
trường tài chính, tiền tệ Việt nam. Do đồng tiền nước ta là đồng tiền chưa chuyển đổi và
chúng ta cũng chưa có thị trường chứng khoán, thị trường tài chính Việt nam chưa ph át
triển đầy đủ.
Nguồn vốn nước ngoài vào Việt nam chủ yếu là FDI và ODA. Thêm vào đó là
việc quản lý ngoại hối tương đối chặt chẽ đối với các n gân hàng nước ngoài trong quá trình
hoạt động và cho vay bằng đồng Việt nam, mua trái phiếu kho bạc, tự do chuyển nhượng
hay mua bán n goại tệ với khối lượng lớn nên không thể có đầu cơ lũng đoạn, phá giá đồng
tiền nước ta từ bên ngoài được.
Tuy nhiên việc các đồng tiền trong khu vực mất giá sẽ có ảnh hưởng xấu đến
đồn g tiền Việt nam. Đồng tiền Việt nam đã lên giá so với các đồng tiền trong khu vực
(tăng khoảng 32% so với đồng Baht, 20.1% so với đồng Ringgit ) và như vậy hàng hoá
nước ta sẽ đắt lên tương đối so với hàng hoá các nước trong khu vực, gây khó khăn cho
xuất khẩu, làm xấu thêm các cân vãn g lai vốn đang thâm hụt, gây sức ép giảm giá đồng nội
tệ.
Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế
Nhóm 7 – Lớp CH 6B TM 15
1.2 Tác động đến x uất - nhập khẩu
a) Đối với đến xuất khẩu.
Châu á là thị trường thương mại lớn nhất của Việt nam hiện nay, năm 1998 nó
chiếm trên 60% tổng kim ngạch xuất khẩu ( trong đó ASEAN chiếm 20% ), Singapo là thị
trường xuất khẩu lớn nhất của Việt nam trong khu vực, chiếm 2/3 kim ngạch xuất khẩu vào
ASEAN và 3/4 kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN. Như vậy, ở một chừng mực nào đó,
Năm
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
Số dự án
149 197 227 367 408 376 336 260
V
ốn đăng ký
(triệu USD)
1294 2036 2652 4071 6616 8258 4453 4058
V
ốn thực hi
ên
(triệu USD)
867 1014 1618 1952 2652 2371 3250 1900
chuyển hoá thành vàng n goại tệ nhiều h ơn. T iền gửi tiết kiệm có khả năng chuyển san g các
dạng tài sản khác an toàn hơn trước sự đe doạ phá giá VND và lạm phát dâng lên ( một lý
do làm tăng tình trạng này là sự giảm sút lòn g tin của n gười gửi tiền vào độ an toàn của các
ngân hàng trong nước). Do đó đầu tư sản xuất sẽ thu hẹp đi đôi với sự gia tăng thất nghiệp
trong nước. Gánh nặng "nợ khó đòi"có x u hướng gia tăng phổ biến. T hu ngân sách có khả
năng sẽ giảm sút do tình trạng suy giảm giá hàng x uất khẩu, khối lượng x uất khẩu và nhập
khẩu; mặc dù có thể hy vọng về khả năng tăng nguồn thu từ thuế xuất - nhập khẩu. Trong
khi đó, chi ngân sách lại có xu hướn g gia tăng do tăng chi phí dịch vụ nợ nước ngoài, các
khoản chi đột xuất, hỗ trợ các doanh n ghiệp nhà nước mất khả năng thanh toán, tăng các
chi phí nhập n guyên liệu từ bên ngoài Ngoài ra, cũng phải tính đến những chi phí để hạn
chế những hệ quả tiêu cực về m ặt xã hội của khủng hoảng và cải cách doanh nghiệp nhà
nước.
Tóm lại, kh ủng hoảng sẽ tiếp tục tác động đến Việt nam theo tất cả các kênh.
Nguy cơ lớn nhất mà tất cả các cuộc khủng hoảng đặt ra cho chúng ta là : nếu không nhận
thức đầy đủ những thách thức trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, hội nhập và bắt
kịp khu vực thì rất có thể sau một vài năm nữa thôi, khoảng cách chênh biệt, sự tụt hậu
giữa Việt nam và các nước trong khu vực đã thực hiện cải cách thành công sẽ càng đậm
nét hơn.
2. Tác động của cuộc khủng hoả ng tài chính Mỹ năm 2008-2009
2.1Tác động trực tiếp:
Tác động trực tiếp là không lớn vì ở Việt Nam ch ưa có định chế tài chính nào đầu tư
vào trái phiếu phái sinh MBS, CDO, CLO và các hợp đồn g cho vay cầm cố như Mỹ. T ác
độn g trực tiếp đối với nền kinh tế Việt Nam thì không lớn, vì chưa có định chế tài chính
nào của Việt Nam đầu tư vào trái phiếu MBS và các hợp đồng cho vay cầm cố như Mỹ.
2.2. Tác động gián tiếp:
Nói là không tác động lớn và không trực tiếp, nhưng khủng hoảng tài chính ở Mỹ
hiện nay cũng có những tác động nhất định đến thị trường tài chính - tiền tệ Việt Nam, vì
kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn ch iếm 30% tổng sản lượng, ch u ch uyển vốn thị trường thế
giới. Trong điều kiện hiện nay, tất cả các quốc gia đều đã hội nhập nên “nhất cử, nhất
Ngân hàng Nhà nước thì dư nợ cho vay bất động sản tính đến cuối tháng 9/2008 là 115.500
tỷ VND, chiếm 9,15% tổng dư nợ toàn hệ thống. Bao nhiêu là nợ đã quá hạn hoặc khó đòi
thì không có báo cáo.
Kết quả tài chính của nhiều ngân hàng thương mại có thể không được như mong
muốn vào cuối năm nay. Đấy là những tác động ngắn hạn.
Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có thể chững lại, thậm chí vốn đã cam kết sẽ
thực hiện trễ hơn bởi khoản g 80% vốn đầu tư vào Việt Nam là đi vay. Khi không đi vay
được thì nhà đầu tư sẽ khó giải ngân vào Việt Nam. Vốn cam kết thì lớn, nhưng vốn thực
hiện có thể thấp, tình hình giải n gân những tháng cuối năm sẽ gặp khó khăn.
Thị trường chứng khoán Việt Nam chưa gia nhập vào hệ thống thị trường chứng
khoán thế giới nên ảnh hưởng tương đối nhỏ. Lo ngại là phần lớn nhà đầu tư nước ngoài sẽ
Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế
Nhóm 7 – Lớp CH 6B TM 19
rút vốn về khi nguồn vốn của họ bị co lại. Khi đó, một lượng không nhỏ USD sẽ ra khỏi
Việt Nam.
Dù vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trườn g chứng khoán Việt Nam không
nhiều, chỉ khoảng 20% tổng vốn, nhưng nếu họ rút ồ ạt thì sẽ ảnh hưởng ngay đến thị
trường chứng khoán Việt Nam.
Nếu các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu bán ra thì các cơ quan chức năng của chúng
ta nên nghiên cứu vấn đề này. Do vậy, thời gian tới Ủy ban Chứng khoán, Ngân hàng Nhà
nước và Bộ Tài chính cần phải họp bàn xem các tổ chức nào sẽ có khả năng rút vốn ở thị
trường Việt Nam và cần dự báo các tổ chức đó bán cổ phần, cổ phiếu của Việt Nam đến
mức nào, ảnh hưởng ra sao đến dự trữ n goại hố i; cũng cần phải cảnh báo với thị trường và
các nhà đầu tư trong nước để tránh hoảng loạn trên thị trường.
Khu vực ngân hàng của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng không phải quá lớn.
Những ngân hàng nhỏ với vốn điều lệ dưới mức tối thiểu quy định 1.000 tỷ đồng có thể sẽ
phải sáp nhập với các ngân hàng lớn, nhưng sự đổ bể của hệ thống tài chính Việt Nam khó
có khả năng xẩy ra.
Nhà nước mang tính pháp quyền và đại diện cao, sử dụng các công cụ hiệu quả hơn cho
các lợi ích chung của đất nước. Đồng thời, tăng cường cạnh tranh thị trường lành mạnh với
luật pháp, chế tài, điều tiết, kiểm soát, giám sát của Nhà nước với thông tin công khai,
minh bạch.
Nhà nước ban hành những chính sách điều tiết thị trường như chính sách tài khóa,
chính sách tiền tệ linh hoạt, mềm dẻo. Cơ cấu lại và hoàn thiện thể chế giám sát hệ thống
tài chính tiền tệ, nhất là các ngân hàng, bao gồm rất nhiều ngân hàng tư nhân và cả ngân
hàng nước ngoài; thị trường chứng khoán, bất động sản trở thành yêu cầu bức bách và cực
kỳ quan trọng đối với sự ổn định kinh tế - xã hội.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đang từng bước phối hợp hài hòa sự can thiệp
của Nhà nước và sự điều tiết của thị trường. Điển hình như trong lĩnh vực Ngân hàng, đã
có rất nhiều Ngân hàng lớn thực hiện cổ phần hóa thành công. Phối kết hợp sự quản lý của
Nhà nước và Ngân hàng TW với những người điều hành Ngân hàng để giảm thiểu những
rủi ro của thị trường đồng thời tăng tính cạnh tranh và đạt lợi nhuận cao h ơn.
Ngoài ra, việc cơ cấu lại vị thế của các quốc gia trong nền kinh tế và cả ch ính trị
cũng như hệ thống tài chính - tiền tệ quốc tế, cần chủ độn g định vị vị thế của mình, trong
một thế giới đã thay đổi ở thời kỳ hậu khủng hoảng. Chủ độn g mở cửa, hợp tác quốc tế,
tham gia các hợp tác song phương, đa phương. Hơn bao giờ hết nhu cầu phối hợp quốc tế
chống khủng hoảng và suy thoái tăng cao.
2. Coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính 2 mặt của các giải pháp, chính sách
Các giải pháp và công cụ chính sách cần có trọng tâm, trọng điểm được cụ thể hóa
thành cơ chế tổ chức thực hiện trong thực tiễn, có sự đồng bộ, nhất quán giữa việc ban
hành, triển khai, giám sát, kiểm tra và chế tài hiệu quả các vi phạm chính sách. Đặc biệt
cần nâng cao chất lượng công tác và dịch vụ thông tin, dự báo và chủ động các giải pháp,
phương án phòng ngừa, n găn chặn khủng hoảng.
Ngoài ra cần coi trọng việc xây dựng số liệu thống kê và dữ liệu thông tin quốc gia
và chuyên ngành hiện đại, có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng về quản lý Nhà
Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế
Nhóm 7 – Lớp CH 6B TM 21
môi trường.
Thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, tập trung vào tái cấu trúc các ngành sản xuất,
dịch vụ, thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp, chuyển đổi m ô hình tăng trưởng hướng mạnh
vào phát triển theo chiều sâu chủ yếu dựa vào khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất
Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế
Nhóm 7 – Lớp CH 6B TM 22
lượng cao, kỹ năng quản lý hiện đại, nâng cao giá trị nội địa và sức canh tranh của sản
phẩm, của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa và đa phương hóa thị trường xuất nhập khẩu của
mình. Nghĩa là phân tán thị trường, bên cạnh những thị trường lớn như thị trường Mỹ,
Nhật, EU cần tạo thêm nhiều thị trường khác như thị trường các nước châu Á, châu Phi,
châu Mỹ Latinh…Có thể các thị trường nhỏ tính hiệu quả kinh tế khôn g cao như thị trường
lớn nhưng khi có biến động thì sự ảnh hưởng tiêu cực của nó đến thị trường là có thể lường
trước được.
Đổi m ới doanh nghiệp Nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
Việc đổi mới doanh nghiệp Nhà nước và các giải pháp cụ thể như: Cổ phần hóa, đa dạng
hóa sở hữu, cho thuê, khoán quản lý và củn g cố doanh nghiệp Nhà nước sẽ có ý nghĩa rất
lớn trong việc làm lành mạnh môi trường kinh doanh, tạo điều kiện nâng cao được chất
lượng, từng bước điều ch ỉnh lại thị trường trong nước, cạnh tranh với hàng nhập khẩu và
hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Tiếp tục thực hiện các giải pháp chính sách để ổn
định nền kinh tế vĩ mô, đổi mới và hoàn thiện môi trường pháp lý tạo điều kiện thuận lợi
cho các hoạt động kinh doanh. Mọi doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế phải được
bình đẳng về nghĩa vụ quyền lợi và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường theo đúng pháp
luật.
Chỉ giữ lại những doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả và giữ vai trò xương
sống, then chốt cho nền kinh tế, còn lại tiến hành cổ phần hóa, cho thuê, khoán quản lý
hoặc giải thể, thanh lý bán các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn không hiệu quả.
Và hết chúng ta cần khai thác thị trường nội địa ở trên tất cả các hàng hóa, dịch vụ.
sút lòng tin của giới đầu tư vào khu vực này, Việt Nam là một nước trong khu vực ch ắc
chắn cũng bị ảnh hưởng, do vậy chúng ta cần thực hiện một số giải pháp nhằm khôi phục
lòng tin từ giới đầu tư:
- Trước mắt cũng như lâu dài cần chấn chỉnh lại việc quản lý hành chính của các ngành,
các địa phương khi cấp giấy phép đầu tư, nh ư các thủ t ục cấp đất, đền bù, xây dựng các
công trình hạ tầng cơ sở…
- Nghiên cứu mở rộng hơn nữa các hình thức đầu tư, mở thêm kênh đầu tư gián tiếp
nhưng ở mức độ phù hợp với công cụ kiểm soát, cho phép người nước ngoài m ua cổ
phiếu, trái phiếu của côn g ty cổ phần và các doanh n ghiệp cổ phần hóa, mở rông các
nghiệp vụ thẩm định đánh giá doanh nghiệp nhằm thông tin chính xác cho các nhà đầu
tư. Ưu tiên các dự án sử dụng nhiều lao động, tạm thời hạn chế các dự án phải nhập
nhiều máy móc thiết bị và nguyên liệu từ nước n goài.
- Hoàn thiện chiến lước và chính sách sử dụng vốn ODA sao cho hiệu quả. Có biện pháp
đẩy nhanh tiến độ giải ngân n guồn vốn ODA\
- Đổi mới cơ chế và chính sách vay nợ nước ngoài, đặc biệt phải kiểm soát chặt chẽ việc
sử dụng tín dụng ngắn hạn cho đầu tư.
- Đầu tư từ ngân sách Nhà nước cần được tính toán kỹ từng bước và từng công trình với
đòi hỏi hiệu quả kinh tế xã hội cao. Thực hiện triệt để các biện pháp tiết kiệm. giảm bội
chi ngân sách Nhà nước, dành vốn cho đầu tư phát triển.
Khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế
Nhóm 7 – Lớp CH 6B TM 24
Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Nam song son g với tăng trưởng và phát triển, tối
đa hóa lợi nhuận là các giải pháp quản trị rủi ro, kiểm tra, giám sát các hoạt động thực tiễn.
Điều này được thấy rõ trong lĩnh vực Ngân hàng với quản trị rủi ro chặt chẽ, hệ thống quản
lý, phê duyệt nhiều phân cấp đã ngày càng bộ c lỗ rõ ưu điểm và giảm thiếu tối đa những
rủi ro đối với Ngân h àng.
Đối với Việt Nam, các cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế tuy không ảnh hưởng
trầm trọng như các nền kinh tế lớn khác, nhưng cũng là một mắt xích trong hệ thống kinh